ÂM MƯU BIẾN NGÀY QUỐC HẬN THÀNH NGÀY THUYỀN NHÂN?

                             

            QUỐC HẬN

ÂM MƯU BIẾN NGÀY QUỐC HẬN THÀNH NGÀY THUYỀN NHÂN?

Trần Gia Phụng

Sau bài “Ngày Quốc hận là ngày Quốc hận”, có nhiều e-mail hỏi người viết rằng tại sao lại có âm mưu biến ngày Quốc hận thành ngày Thuyền nhân? Câu hỏi nầy đáng lẽ phải hỏi thẳng những người âm mưu. Ở đây chúng tôi chỉ phỏng đoán lý do mà thôi. Sự phỏng đoán có thể thiếu sót, xin các bậc cao minh bổ túc thêm.

1. LÀM PHAI LẠT Ý NGHĨA NGÀY QUỐC HẬN

Ngày 30-4-1975 là ngày Cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam, áp đặt chế độ độc tài đảng trị trên toàn thể lãnh thổ Việt Nam. Chế độ cộng sản chà đạp tự do dân chủ, giết hại dân lành, gây nhiều tội ác, trong đó quan trọng nhất là tội phản quốc, nhượng đất, nhượng biển cho Trung Cộng để duy trì quyền lực. Vì vậy dân chúng tự động đặt tên ngày 30-4 là NGÀY QUỐC HẬN.

Sau ngày Quốc hận 30-4-1975, hàng triệu người Việt Nam đã bỏ nước ra đi tìm tự do. Khoảng nửa triệu người bỏ mình trên biển cả. Cộng sản chận bắt, bắn giết những người tìm cách vượt biên. Lúc đầu, cộng sản gọi người Việt vượt biên là tay sai Mỹ ngụy, chạy theo bơ sữa tư bản.

Dần dần, người Việt hải ngoại tập họp thành những cộng đồng lớn mạnh ở khắp nơi trên thế giới, nhất là ở Bắc Mỹ, Âu Châu và Úc Châu. Hàng năm cộng đồng người Việt hải ngoại gởi về hàng tỷ Mỹ kim để giúp đỡ thân nhân ở trong nước. Cộng sản liền uốn lưỡi, đổi giọng, gọi người Việt hải ngoại thành “khúc ruột ngàn dặm”. Tuy nhiên CSVN rất e ngại “khúc ruột ngàn dặm”, vì nhờ khoa học kỹ thuật tiến bộ, phương tiện truyền thông nhanh chóng, tất cả những tin tức ở trong nước được đưa ra nước ngoài dễ dàng. “Khúc ruột ngàn dặm” sẵn sàn tranh đấu, bảo vệ người Việt trong nước, gây trở ngại không ít cho cuộc đàn áp của độc tài cộng sản.

Đối phó với “khúc ruột ngàn dăm”, Bộ chính trị đảng CSVN đưa ra nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 26-3-2004 về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, để bằng tất cả các cách thu hút và nếu thu hút không được thì đánh phá các tổ chức, hội đoàn, cộng đồng người Việt hải ngoại, nhằm hóa giải, chận đứng tất cả các cuộc chống đối của người Việt hải ngoại.

Để thực hiện nghị quyết 36, CSVN đưa ra nhiều thủ đoạn thâm độc mà chúng ta không lường trước được. Có khi có người vô tình lạc vào những thủ đoạn của CSVN mà không biết. Âm mưu biến ngày Quốc hận làm ngày Thuyền nhân là một trong những âm mưu thâm độc của CSVN. Âm mưu nhằm hai mục đích: 1) Làm phai lạt dần dần ý nghĩa Ngày Quốc hận trong lòng người Việt hải ngoại, giảm nhẹ tội ác cho CSVN. 2) Tạo một đề tài gây tranh cãi và làm chia rẽ cộng đồng người Việt hải ngoại.

2.- VÔ HIỆU HÓA HỘI CỰU QUÂN NHÂN 

Ở hải ngoại có nhiều hội đoàn. Hội đoàn có tinh thần quốc gia, dân tộc, chống cộng mạnh mẽ, lại có quy củ, có tổ chức, hoạt động mạnh nhất ở bất cứ nước nào, địa phương nào, là hội Cựu Quân Nhân (CQN). Hằng năm, nếu nơi nào không có ban chấp hành cộng đồng, như ở Toronto (Canada) chẳng hạn, thì hầu như hội CQN được giao tổ chức ngày Quốc hận 30-4. Hoặc hội CQN phối hợp với các hội đoàn khác để cùng tổ chức. Luôn luôn hội CQN làm nòng cốt, thường có lễ chào cờ, rước quốc quân kỳ…

Hội Cựu Quân Nhân là hội giữ lửa cho Cộng đồng, hội mũi nhọn trong các cuộc biểu tình chống cộng. Mỗi năm hội CQN có hai hoạt động chính là tổ chức “Ngày Quốc hận” (30-4) và “Ngày Quân lực” (19-6). Nếu vận động được các địa phương biến ngày 30-4 thành ngày Thuyền nhân, thì lúc đó hội Cưu Quân Nhân không còn cần thiết, vì đối tượng chính trong buổi lẽ sẽ là thuyền nhân, thì thuyền nhân sẽ đứng ra phụ trách. Một Uỷ ban của các thuyền nhân sẽ đứng ra tổ chức Ngày Thuyền nhân 30-4 hằng năm, thay cho hội CQN.

Khi đó, hội CQN chỉ còn buổi lễ chính là mừng Ngày Quân lực. Là ngày vui thì chỉ có ăn uống, vui chơi, nhảy đầm. Từ vai trò giữ lửa chống cộng, hội CQN trở thành một món trang sức cho cộng đồng. Như thế là một cách vô hiệu hóa hội CQN, làm giảm bớt hoạt động của hội CQN, giảm bớt ngọn lửa đấu tranh chống cộng,. Cái thâm độc của cuộc vận động biến ngày Quốc hận 30-4 thành ngày Thuyền nhân nằm ở chỗ đó. Tuy nhiên vẫn chưa hết…

3.- TIÊU DIỆT TIỀM LỰC CHỐNG CỘNG 

Ngày Quốc hận 30-4 là ngày của toàn dân Việt, ở trong cũng như ngoài nước, trừ một thiểu số đảng viên. Vì vậy, hằng năm, vào ngày 30-4 ở hải ngoại, khắp nơi trên thế giới đều tổ chức lễ Kỷ niệm Ngày Quốc hận. Rất đông người đến tham dự, có thể nói là đông đảo nhất trong năm. Kỷ niệm Quốc hận hằng năm nhằm nhắc nhở ngày tang thương của dân tộc, tưởng niệm những anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì chính nghĩa quốc gia, những đồng bào đã bỏ mình trên đường tìm tự do, và những tù nhân chính trị đã và đang bị đày đọa đến chết trong các trại tù cộng sản. Kỷ niệm Quốc hận 30-4 cũng là dịp cho Cộng đồng Người Việt hải ngoại lên tiếng đòi hỏi dân chủ tự do cho đồng bào ở trong nước. Nói cách khác, ngày 30-4 là ngày tưởng niệm và cũng là ngày tranh đấu.

Trong khi đó, số người thực sự là thuyền nhân hiện nay, một mặt so với dân số toàn quốc thì quá ít vì ở trong nước không có thuyền nhân, và một mặt khác so với tổng số người Việt ở hải ngoại, số thuyền nhân hiện nay chỉ bằng khoảng một phần tư (1/4) hay một phần năm (1/5) mà thôi.

Nếu ngày 30-4 hằng năm là Ngày Thuyền nhân, thì những người không phải là thuyền nhân có thể không đến dự các buổi lễ ngày 30-4, vì không liên quan đến họ. Số người tham dự các buổi lễ kỷ niệm sẽ giảm đi và có thể giảm đi rất nhiều. Như thế, dần dần ngày 30-4 sẽ phai lạt dần. Từ đó, tinh thần đấu tranh chống cộng sản bạo tàn, đòi hỏi tự do dân chủ cho Việt Nam của cộng đồng người Việt hải ngoại sẽ càng ngày càng xuống giốc.

Hơn nữa, một ngày kia, những thuyền nhân sẽ lần lượt qua đời, sẽ không còn thuyền nhân trên thế giới, thì Ngày Thuyền nhân cũng tàn lụi theo. Lúc đó chắc chắn Ngày Thuyền nhân sẽ chẳng còn ai chú ý, chẳng còn ai cử hành, nghĩa là ngày 30-4 cũng sẽ mất tích luôn.

Tóm lại, âm mưu biến đổi Ngày Quốc hận 30-4 thành Ngày Thuyền nhân phát xuất từ ý đồ của CSVN, nhằm làm giảm nhẹ tội ác của cộng sản, triệt tiêu hoạt động của Hội CQN và dần dần làm biến mất ngày Quốc hận, tiêu diệt tiềm lực chống cộng của cộng đồng người Việt hải ngoại. Âm mưu nầy được tay chân của cộng sản, cùng một số tên thân cộng ở hải ngoại tìm cách thực hiện để mưu lợi, trao đổi buôn bán với cộng sản. Tuy nhiên, dầu cố gắng cách nào đi nữa, âm mưu nầy cũng không thể thành công được, vì lịch sử là những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ, không ai có thể sửa đổi được lịch sử, nhất là một khi đã được khắc ghi vào bia miệng thế gian. “Trăm năm bia đá thì mòn,/ Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.”

Ở trong nước, CSVN tham nhũng, bóc lột, cướp đất dân lành, nhượng đất nhượng biển cho Trung cộng, đàn áp dân quyền và nhân quyền, bắt bớ, giam cầm những nhà tranh đấu dân chủ bất bạo động, những người yêu nước biểu tình chống Trung cộng xâm lược. Ở hải ngoại, đời sống đầy đủ, tự do dân chủ, lại có những kẻ không nghĩ đến tương lai dân tộc, không nghĩ đến đồng bào đang đau khổ vì CS ở trong nước, mà chỉ vì một chút danh lợi nhỏ nhoi, tiếp tay tuyên truyền cho CSVN, tiếp tục duy trì nạn độc tài toàn trị trên quê hương Việt Nam, thì tội lỗi nầy cũng không kém gì tội lỗi của CSVN.

SLEEPING WITH THE ENEMY

Xin mời quí vị đọc một bài viết của một cựu Sĩ Quan Hoa Kỳ đã tửng chiến đấu trên chiến trường Việt Nam, cựu Bộ Trưởng Hải Quân Hoa Kỳ và hiện là Thượng Nghị Sĩ Liên Bang của Hoa Kỳ. Quan điểm về cuộc chiến Việt Nam . Thú thật, cho đến bây giờ mới thấy một người Mỹ trí thức có đầy đủ hiểu biết về cuộc chiến Việt Nam đã viết một bài chân thật, rất đáng kính trọng và rất đáng đưa vào lịch sử của Hoa Kỳ để cho con cháu Hoa Kỳ được hiểu rõ hơn cuộc chiến Việt Nam mà trước đây những kẻ viết lịch sử Hoa Kỳ đã thiếu dữ kiện sống để viết. THG

Sleeping With the Enemy
By James Webb

Biết giải thích như thế nào với những đứa con của tôi rằng khi tôi mười mấy, đôi mươi, những tiếng nói ồn ào nhất của những người cùng tuổi, cùng thời với tôi lại nhắm mục đích phá nát những nền tảng của xã hội Hoa Kỳ, để xây dựng lại một xã hội dựa theo quan điểm đầy tự mãn của họ. Giờ đây nhìn lại, ngay cả chúng ta, những người đã trải qua giai đoạn này, cũng không hiểu được tại sao lại có những kẻ với trình độ học vấn cao, đa số sinh ra từ gia đình thượng lưu, lại có thể gieo rắc những tư tưởng phá hoại làm nhiễm độc bầu không khí của thập niên 1960 và những năm đầu của thập niên 1970. Ngay cả Quốc Hội cũng bị nhiễm những con vi khuẩn nầy.

Sau khi Tổng Thống Nixon từ chức vào tháng Tám 1974, cuộc bầu cử mùa Thu năm ấy mang lại 76 tân Dân Biểu thuộc đảng Dân Chủ và 8 Thượng Nghị Sĩ. Đại đa số những dân cử chân ướt, chân ráo này đã tranh cử dựa trên cương lãnh của Mc Govern. Nhiều người trong số họ được xem như những ứng viên yếu kém trước khi Nixon từ chức, vài người không xứng đáng thấy rõ, chẳng hạn như Tom Downey, 26 tuổi, thuộc New York, người chưa từng có một nghề ngỗng gì và vẫn còn ở nhà với mẹ.

Cái gọi là Quốc Hội hậu Watergate này diễu hành vào thành phố với một sứ mệnh vô cùng quan trọng mà sau này trở thành điểm tập hợp cho cánh Tả của Hoa Kỳ: Chấm dứt sự giúp đỡ của nước Mỹ dưới bất kỳ hình thức nào cho chính quyền đang bị vây khốn Nam Việt Nam. Không nên lầm lẫn ở chỗ này – đây không phải là sự kêu gào thanh niên Mỹ đừng đi vào cõi chết của những năm trước đây. Những người lính Mỹ cuối cùng đã rời khỏi Việt Nam hai năm trước rồi, và đã tròn bốn năm không có một người Mỹ nào bị tử trận.

Bởi những lý do mà không một viện dẫn lịch sử nào có thể bào chữa được, ngay cả sau khi quân đội Mỹ triệt thoái, cánh Tả vẫn tiếp tục những cố gắng để đánh gục nền Dân Chủ còn phôi thai của Nam Việt Nam. Phụ tá sau này của Nhà Trắng Harold Ickes và nhiều người khác trong “Chiến Dịch Kiểm Soát Tài Chánh” – có một lúc được giúp đỡ bởi một người tuổi trẻ nhiều tham vọng: Bill Clinton – làm việc để cắt toàn bộ những khoản tài trợ của Quốc Hội nhằm giúp miền Nam Việt Nam tự bảo vệ. Liên Hiệp Hoà Bình Đông Dương, điều hành bởi David Dellinger và được quảng bá bởi Jane Fonda và Tom Hayden, phối hợp chặt chẽ với Hà Nội suốt năm 1973 và 1974, đi khắp các khuôn viên đại học Mỹ, tập hợp sinh viên để chống lại điều được cho là những con ác quỷ trong chánh quyền Nam Việt Nam. Những đồng minh của họ trong Quốc Hội liên tục thêm vào những tu chính án để chấm dứt sự viện trợ của Hoa Kỳ cho những người Việt Nam chống Cộng Sản, ngăn cấm cả đến việc sử dụng không lực để giúp những chiến binh Nam Việt Nam đang bị tấn công bởi các đơn vị bộ đội chánh quy Bắc Việt được khối Sô Viết và Trung Cộng yểm trợ.

Rồi đến đầu năm 1975 Quốc Hội Watergate giáng một đơn chí tử xuống các nước Đông Dương không Cộng Sản. Tân Quốc Hội lạnh như băng từ chối lời yêu cầu gia tăng quân viện cho miền Nam Việt Nam và Cam Bốt của Tổng Thống Gerald Ford. Ngân khoản dành riêng này sẽ cung cấp cho quân đội Cam Bốt và Nam Việt Nam đạn dược, phụ tùng thay thế, và vũ khí chiến thuật cần thiết để tiếp tục cuộc chiến tự vệ. Bất chấp sự kiện là Hiệp Định Paris 1973 đặc biệt đòi hỏi phải cung cấp “viện trợ để thay thế trang thiết bị quân sự vô giới hạn” cho Nam Việt Nam, đến tháng Ba phe Dân Chủ trong Quốc Hội biểu quyết với tỷ số áp đảo, 189-49, chống lại bất kỳ viện trợ quân sự bổ sung cho Nam Việt Nam và Cam Bốt.

Trong các cuộc tranh luận, luận điệu của phe Tả phản chiến gồm toàn những lời lên án các đồng minh đang bị chiến tranh tàn phá của Hoa Kỳ. Và đầy những hứa hẹn về một tương lai tốt đẹp cho các quốc gia này dưới sự cai trị của chế độ Cộng Sản. Rồi dân biểu Christopher Dodd, tiêu biểu cho sự ngây thơ hết thuốc chữa của các đồng viện, lên giọng đầy điệu bộ “gọi chế độ Lon Nol là đồng minh là làm nhục chữ nghĩa… Tặng vật lớn nhất mà đất nước chúng ta có thể trao cho nhân dân Cam Bốt là hòa bình, không phải súng. Và cách tốt nhất để đạt được mục đích này là chấm dứt viện trợ quân sự ngay lập tức.”

Sau khi trở thành chuyên gia đối ngoại trong vòng chỉ có hai tháng kể từ lúc thôi bú mẹ, Tom Downey chế diễu những cảnh cáo về tội ác diệt chủng sắp sửa xảy ra ở Cam Bốt, cái tội ác đã giết hơn một phần ba dân số của quốc gia này, như sau: “Chính phủ cảnh cáo rằng nếu chúng ta rời bỏ các quốc gia ấy thì sẽ có tắm máu. Nhưng những cảnh cáo cho việc tắm máu trong tương lai không thể biện minh cho việc kéo dài việc tắm máu hiện nay.”

Trên chiến trường Việt Nam việc chấm dứt viện trợ quân trang, quân cụ là một tin làm kinh ngạc và bất ngờ. Các cấp chỉ huy quân đội của miền Nam Việt Nam đã được đảm bảo về việc viện trợ trang thiết bị khi người Mỹ rút quân – tương tự như những viện trợ Hoa Kỳ vẫn dành cho Nam Hàn và Tây Đức – và đảm bảo rằng Hoa Kỳ sẽ tái oanh tạc Bắc Việt, nếu Bắc Việt tấn công miền Nam, vi phạm hiệp định Paris 1973. Bây giờ thì họ đang mở mắt trừng trừng nhìn vào một tương lai bất định khủng khiếp, trong lúc khối Sô Viết và Trung Cộng vẫn tiếp tục yểm trợ cho Cộng Sản Bắc Việt.

Trong lúc quân đội Nam Việt Nam, vừa choáng váng vừa mất tinh thần, tìm cách điều chỉnh lại lực lượng để đối phó với những sự thiếu thốn trang thiết bị cần thiết, quân đội chính quy miền Bắc được tái trang bị đầy đủ lập tức phát động cuộc tổng tấn công. Bắt giữ được nhiều đơn vị bị cô lập, quân Bắc Việt tràn xuống vùng đồng bằng trong vòng có 55 ngày.

Những năm về sau, tôi đã phỏng vấn những người lính miền Nam Việt Nam còn sống sót trong những cuộc giao tranh, nhiều người đã bị trải qua hơn chục năm trong các trại tù tập trung của Cộng Sản sau khi cuộc chiến chấm dứt. Những điệp khúc này không bao giờ chấm dứt:

“Tôi không còn đạn dược.”

“Tôi chỉ còn 3 quả đạn pháo cho mỗi khẩu một ngày.”

“Tôi không còn gì để phát cho binh sĩ của tôi.”

“Tôi phải tắt máy truyền tin, bởi vì tôi không thể nào chịu đựng được nữa khi phải nghe những lời kêu gọi xin tiếp viện.”

Phản ứng của Hoa Kỳ trước sự xụp đổ này cho thấy có hai nhóm khác nhau, và điều này vẫn còn tiếp tục được thấy rõ trong nhiều vấn để mà chúng ta đang phải đương đầu ngày nay. Đối với những người đã từng chiến đấu ở Việt Nam, và đối với gia đình, bạn bè, và những người cùng quan điểm chánh trị với họ, đây là là một tháng đen tối và tuyệt vọng.

Những khuôn mặt mà chúng ta thấy đang chạy trốn sự tấn công của Bắc Việt là những khuôn mặt rất thật và quen thuộc, không phải đơn thuần là những hình ảnh truyền hình. Những thân người xoay trong không gian như những bông tuyết, rơi xuống chết thảm khốc sau khi họ đeo và bám vào thân trực thăng hay phi cơ một cách tuyệt vọng, có thể là những người chúng ta quen biết hoặc đã từng giúp đỡ. Ngay cả đối với những kẻ không còn niềm tin vào khả năng đánh bại Cộng Sản, đây không phải là cách để chấm dứt cuộc chiến.

Đối với những kẻ từng trốn tránh cuộc chiến và lớn lên tin rằng đất nước chúng ta là quỷ dữ, và ngay cả khi họ thơ mộng hoá những ý định của người Cộng Sản, những tuần lễ sau cùng này đã chối bỏ trách nhiệm của mình trong sự xụp đổ này bằng những phê phán quân đội Nam Việt Nam đầy tính sa lông, hay là công khai reo mừng.

Ở trung tâm Luật Khoa của đại học Georgetown nơi tôi đang theo học, việc Bắc Việt trắng trợn ném bỏ các điều cam kết về hòa bình và bầu cử trong hiệp định Paris 1973, và tiếng xe tăng của Bắc Việt trên đường phố Sài Gòn được xem như là một cái cớ để thực sự ăn mừng.

Sự chối bỏ trách nhiệm vẫn còn tràn lan trong năm 1997. Thực ra cái kết cuộc này chính là mục tiêu của phong trào phản chiến đã cố gắng không ngừng nghỉ trong những năm theo sau sự rút quân của Mỹ. George McGovern, thẳng thắn hơn nhiều người, công khai tuyên bố với người viết trong lúc nghỉ khi thâu hình cho chương trình “Crossfire” của CNN vào năm 1995. Sau khi tôi đã lý luận rằng cuộc chiến rõ ràng là có thể thắng được ngay cả vào giai đoạn cuối nếu chúng ta thay đổi chiến lược của mình, ứng cử viên Tổng Thống năm 1972, người tình nguyện đi Hà Nội bằng đầu gối, đã bình luận rằng: “Anh không hiểu là tôi KHÔNG MUỐN chúng ta chiến thắng cuộc chiến đó sao?” Ông McGovern không chỉ có một mình. Ông ta là phần tử của một nhóm nhỏ, nhưng vô cùng có ảnh hưởng lớn trong chính trường. Sau cùng họ đã đạt được điều họ muốn.

Có lẽ không còn minh chứng nào lớn hơn cho không khí hân hoan chung quanh chiến thắng của Cộng Sản là giải thưởng điện ảnh năm 1975, được tổ chức vào ngày 8 tháng 4, ba tuần trước khi miền Nam xụp đổ.

Giải phim tài liệu hay nhất được trao cho phim Hearts and Minds, một phim tuyên truyền độc ác tấn công những giá trị văn hóa Hoa Kỳ cũng như những cố gắng của chúng ta để hỗ trợ cho sự chiến đấu cho nền Dân Chủ của miền Nam Việt Nam. Các nhà sản xuất Peter Davis và Bert Schneider (người thủ diễn một vai trong câu chuyện của David Horowitz) cùng nhau nhận giải Oscar.Schneider thẳng thừng trong việc công nhận sự ủng hộ những người Cộng Sản của mình.

Đứng trước máy vi âm ông ta nói:

“Thật là ngược đời khi chúng ta đang ở đây, vào thời điểm mà Việt Nam sắp được giải phóng.”

Rồi giây phút đáng kinh ngạc nhất của Hollywood xảy ra – dù giờ đây đã được họ cố tình quên đi. Trong lúc quốc gia Việt Nam, mà nhiều người Mỹ đã đổ máu và nước mắt để bảo vệ, đang tan biến dưới bánh xích của xe tăng, Schneider lôi ra một điện tín được gởi từ kẻ thù của chúng ta, đoàn đại biểu Cộng Sản Việt Nam ở Paris, và đọc to lên lời chúc mừng cho phim của mình. Không một phút giây do dự, những kẻ nhiều quyền lực nhất của Hollywood đứng dậy hoan nghênh việc Schneider đọc bức điện tín này.

Chúng ta, những người đã từng chiến đấu ở Việt Nam hoặc là những người ủng hộ những cố gắng ở đó, nhìn lại cái khoảnh khắc này của năm 1975 với sự sửng sốt không nguôi và không bao giờ quên được. Họ là ai mà cuồng nhiệt đến thế để đầu độc cái nhìn của thế giới về chúng ta? Sao họ lại có thể chống lại chính những người đồng hương của mình một cách dữ tợn đến thế? Sao họ có thể đứng dậy để hoan nghênh chiến thắng của kẻ thù Cộng Sản, kẻ đã làm thiệt mạng 58,000 người Mỹ và đè bẹp một đồng minh chủ trương ủng hộ Dân Chủ? Làm sao có thể nói rằng chúng ta và họ đang sống trong cùng một đất nước?

Từ lúc ấy đến nay, không một lời nào của Hollywood nói về số phận của những con người biến mất sau bức màn tre của Việt Nam . Không ai đề cập đến những trại tù tập trung cải tạo mà hàng triệu chiến binh miền Nam Việt Nam đã bị giam giữ, 56,000 người đã thiệt mạng, 250,000 bị giam hơn 6 năm, nhiều người bị giam đến 18 năm. Không người nào chỉ trích việc cưỡng bách di dân, tham nhũng, đàn áp những người bất đồng chính kiến, cướp đất, cướp nhà của dân hay là chế độ Công An trị mà hiện vẫn còn đang tiếp diễn. Thêm vào đó, ngoại trừ phim Hamburger Hill có ý tốt nhưng kém về nghệ thuật, người ta chỉ hoài công nếu muốn tìm một phim thuộc loại có tầm vóc diễn tả các chiến binh Hoa Kỳ ở Việt Nam với đầy đủ danh dự và trong những khung cảnh có thật.

Tại sao? Bởi vì cộng đồng làm phim, cũng như những kẻ thuộc loại đỉnh cao trí tuệ trong xã hội, chưa bao giờ yêu thương, kính phục, hay ngay cả thông cảm với những con người đã nghe theo tiếng gọi của đất nước, lên đường phục vụ. Và vào lúc mà một cuộc chiến âm thầm nhưng không ngừng nghỉ đang diễn ra về việc lịch sử sẽ ghi nhớ đất nước chúng ta tham dự ở Việt Nam như thế nào? Những kẻ chế diễu chính sách của chính quyền, trốn lính, và tích cực ủng hộ kẻ thù, cái kẻ thù mà sau cùng trở nên tàn độc và thối nát, không muốn được nhớ đến như là những kẻ quá đỗi ngây thơ và lầm lẫn.

Giữa những người dân Mỹ bình thường, thái độ của họ trong khoảng thời gian rối ren này lành mạnh hơn nhiều. Đằng sau những tin tức bị thanh lọc và những bóp méo về Việt Nam, thực tế là những công dân của chúng ta đồng ý với chúng ta, những người đang chiến đấu, hơn là với những kẻ làm suy yếu cuộc chiến đấu này. Khá thú vị là điều nầy đặc biệt đúng với tuổi trẻ Mỹ, mà giờ đây vẫn còn được mô tả như là thành phần nổi loạn chống chiến tranh.

Như được tường trình lại trong bài: “Ý Kiến Quần Chúng”, những kết quả thăm dò của Gallup từ năm 1966 cho đến khi Hoa Kỳ chấm dứt sự tham dự chiến tranh ỏ Việt Nam cho thấy tuổi trẻ Mỹ thực ra ủng hộ cuộc chiến Việt Nam lâu bền hơn bất cứ lứa tuổi khác. Ngay cả cho đến tháng 1 năm 1973, khi 68 phần trăm dân Mỹ trên 50 tuổi tin rằng chuyện gởi quân sang Việt Nam là một sai lầm, chỉ có 49 phần trăm những người tuổi từ 25 đến 29 đồng ý. Những phát hiện này cho thấy giới trẻ nói chung rõ ràng là không cực đoan, điều này đã được củng cố thêm bằng kết quả bầu cử năm 1972 – trong đó lứa tuổi từ 18 đến 29 ưa thích Richard Nixon hơn là George McGovern bằng tỷ lệ 52% so với 46 phần trăm.

Tương tự như vậy, mặc dù trong quá khứ những người chống đối này, mà ngày nay đang thống lãnh giới báo chí và giới khoa bảng, đã khăng khăng nói ngược với thực tế, sự xâm nhập vào Cam Bốt năm 1970 đã được ủng hộ quần chúng mạnh mẽ. Sự xâm nhập này đã gây ra sự phản đối rộng khắp ở các sân trường đại học, kể cả một vụ xung đột làm cho bốn người chết ở Kent State University . Theo những kết quả thăm dò dư luận của Harris gần 6 phần 10 dân Mỹ tin rằng sự xâm nhập vào Cam Bốt là đúng đắn. Đa số được hỏi ý kiến, trong cùng bản thăm dò này vào tháng 5 năm 1970, ủng hộ tái oanh tạc Bắc Việt, một thái độ cho thấy sự bác bỏ hoàn toàn phong trào phản chiến.

Các cựu chiến binh Việt Nam, dù bị bôi bẩn thường xuyên trên phim ảnh, trong các bản tin, và trong các lớp học, như là những chiến binh miễn cưỡng và thất bại, vẫn được những người dân Mỹ bình thường tôn trọng. Trong một nghiên cứu toàn diện nhất từ trước đến giờ về những cựu chiến binh Việt Nam (Harris Survey, 1980, ủy quyền bởi Veterans Administration) , 73 phần trăm công chúng và 89 phần trăm cựu chiến binh Việt Nam đồng ý với câu phát biểu: “Vấn đề rắc rối ở Việt Nam là QUÂN ĐỘI CHÚNG TA ĐƯỢC YÊU CẦU CHIẾN ĐẤU TRONG MỘT CUỘC CHIẾN MÀ CÁC LÃNH TỤ CHÍNH TRỊ Ở WASHINGTON KHÔNG CHO HỌ ĐƯỢC PHÉP CHIẾN THẮNG”, 70 phần trăm những người từng chiến đấu ở Việt Nam không đồng ý với câu phát biểu: “Những gì chúng ta gây ra cho nhân dân Việt Nam thật đáng xấu hổ.” Trọn 91 phần trăm những người đã từng phục vụ chiến đấu ở Việt Nam nói rằng họ hãnh diện đã phục vụ đất nước, và 74 phần trăm nói rằng họ thấy thoải mái với thời gian ở trong quân đội. Hơn nữa, 71 phần trăm những người phát biểu ý kiến cho thấy họ sẵn sàng chiến đấu ở Việt Nam một lần nữa, ngay cả nếu biết rằng cái kết quả chung cuộc vẫn như thế và sự giễu cợt sẽ đổ lên đầu họ khi họ trở về.

Bản thăm dò này còn có cái gọi là “nhiệt kế đo cảm giác,” để đo lường thái độ của công chúng đối với những nhóm người khác nhau, với thang điếm từ 1 đến 10. Cựu chiến binh từng phục vụ ở Việt Nam được chấm điểm 9.8 trên thang điểm này. Bác sĩ được 7.9, phóng viên truyền hình 6.1, chánh trị gia 5.2, những người biểu tình chống chiến tranh 5.0, kẻ trốn quân dịch và chạy sang Canada được cho 3.3.

Trái ngược với những câu chuyện huyền thoại được dai dẳng phổ biến, hai phần ba những người phục vụ ở Việt Nam là quân tình nguyện chứ không phải bị động viên, và 77 phần trăm những người tử trận là quân tình nguyện. Trong số những người tử trận: 86 phần trăm là da trắng, 12.5 phần trăm người Mỹ gốc Phi Châu và 1.2 phần trăm thuộc các chủng tộc khác. Những cáo buộc rất phổ biến như là chỉ có dân thuộc các nhóm thiểu số và người nghèo được giao cho những công tác khó khăn trong quân đội khi ở Việt Nam là điều sai lạc. Sự bất quân bình trong cuộc chiến, thực ra chỉ đơn giản là do những thành phần đặc quyền đặc lợi trốn tránh trách nhiệm của mình, và chính những người này kể từ thời gian ấy đã kiên trì bôi bẩn những kinh nghiệm về cuộc chiến để nhằm tự bào chữa cho chính mình, phòng khi sau này sẽ bị lịch sử phán xét.

Thế còn những kẻ không những đã hiểu sai ý nghĩa một cuộc chiến, mà còn không hiểu nổi dân tộc của mình, những kẻ thuộc thành phần tinh hoa của xã hội đó bây giờ ra sao? Bây giờ họ đang ở đâu nếu không phải ở trong tòa Bạch Ốc? Trên vấn đề lịch sử quan yếu này, cái vấn đề đã xác định thế hệ của chúng ta, họ dấu mình thật kín. Họ nên dấu mình như thế.

Đối với những kẻ đã đem cuộc hành trình tuổi trẻ đánh bạc trên cái ý tưởng rằng tổ quốc mình là một lực lượng ác quỷ, sau khi nhận ra sự ngây thơ của mình trong những năm sau năm 1975, chắc họ phải có một cảm giác rất kinh khủng. Thật là sáng mắt, sáng lòng cho những kẻ đã tỉnh thức, đã tự vượt qua được phản ứng chối tội, để chứng kiến cảnh tượng hàng trăm ngàn người dân miền Nam Việt Nam chạy trốn “ngọn lửa tinh nguyên của cách mạng” trên những con tàu ọp ẹp, sự chạy trốn mà chắc chắn 50 phần trăm đã vùi thây dưới đáy biển, hoặc là nhìn thấy những hình ảnh truyền hình của hàng ngàn chiếc sọ người Cam Bốt nằm lăn lóc trên những cánh đồng hoang, một phần nhỏ của hàng triệu người bị giết bởi những người Cộng Sản “giải phóng quân.”

Thực vậy, chúng ta hãy thẳng thắn nhìn nhận. Thật đáng tủi nhục biết bao khi nhìn vào khuôn mặt của một thương binh, hay là nghe diễn từ tốt nghiệp của một học sinh thủ khoa người Mỹ gốc Việt Nam, mà người cha quá cố của em đã chiến đấu bên cạnh những người Mỹ, cho một lý tưởng mà bọn họ công khai mỉa mai, chế diễu, và xem thường. Và thật là một điều đáng xấu hổ khi chúng ta có một hệ thống chínhquyền đã để cho em học sinh đó thành công nhanh chóng ở đây, mà lại không thực hiện được một hệ thống như vậy ở quê hương của em.

THG chuyển ngữ

QUẢNG NAM HAY CÃI

QUẢNG NAM HAY CÃI

Lê Thứ Lang

Không biết chính xác được điểm xuất phát, nhưng suốt một dọc dài các tình Nam, Ngãi, Bình, Phú, Quảng Trị, Thừa Thiên, từ xưa đến nay vẫn hay phổ biến câu phương ngôn:
Quảng Nam hay cãi
Quảng Ngãi hay co…
Mới nghe qua “Quảng Nam hay cãi” chỉ là một câu nói vui, thực ra “nó” làm phiền dân Quảng Nam chúng tôi không phải là ít.
Đoạn trường ai có qua cầu mới hay.
Trong các cuộc họp mặt nói chuyện tào lao lúc trà dư tửu hậu, hay trong các hội nghị nghiêm chỉnh có cờ xí, bục thuyết trình v.v..hễ cứ người phát biểu nói giọng Quảng Nam thì y như rằng luôn luôn bị phán một câu:
_Ối chà! Hơi đâu mà nghe thằng cha đó! Quảng Nam hay cãi mà! Bộ ông không biết sao?
Hồi mới qua Dallas đây được ít tháng, anh em tụi tôi dự định thành lập một cái hội chi đó để thỉnh thoảng gặp gỡ, an ủi, giúp đỡ nhau giữa những người cùng cảnh ngộ mới chân ướt chân ráo đến Mỹ.
Trong buổi họp sơ thảo điều lệ hội, một ông bạn tôi, người “Bắc Kỳ” 100%, nhưng vào sống ở Quảng Nam từ hồi 9, 10 tuổi, làm việc ở Quảng Nam, lấy vợ đẻ con ở Quảng Nam, thậm chí ở tù cũng Quảng Nam luôn, ông bạn này đề nghị là nên thu nguyệt liễm hay niên liễm của hội viên để hội có chút quỹ điều hành công việc lại vừa có ý nghĩa là những người đóng nguyệt liễm là hội viên chính thức của hội – Ý kiến cũng không sai quấy lắm, ấy thế mà một cadidat chủ tịch Hội, cũng là một anh Quảng Nam “Origine” phang cho một câu:
-Ối chà! Hơi sức đâu mà nghe lũy. Quảng Nam hay cãi mà! Tôi còn lạ chi.
Ác chưa! Đúng là “kê một cái tủ đứng” vô họng người phát biểu. Còn chi nữa mà “ngôn”! Nghe đâu bây giờ cái hội đó kẹt tiền. Quyên góp hoài cũng kỳ mà Mạnh Thường Quân thì cứ rơi rụng dần như lá mùa thu…cho nên hội có dự định thu tiền nguyệt liễm của hội viên. Chỉ thương hại cho ông bạn tôi, người Bắc rặt ròng, phải cái tội ở Quảng Nam lâu quá, nói giọng Quảng Nam nên bị “kết án” oan mà cũng đành chào thua, bỏ cuộc.
Hay như cụ Ảo Giản Phan Ngô, hồi còn làm nghị viên Hội Đồng Đô Thành dưới thời Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương của ông tướng râu kẽm. Cụ Phan Ngô phát biểu trong một cuộc họp Hội Đồng có ông tướng tham dự, bị ông tướng “ém” cho một câu:
-Thôi đi, dân Quảng các anh cứ “théc méc”. “Théc méc” hoài ai chịu cho nổi!
Bực quá, Phan tiên sinh “cãi” lại bằng mấy bài trên báo, ông tướng phải vội vàng công khai xin lỗi.
Rứa đó, “Quảng Nam hay cãi” nó “hành” tụi tôi không phải là ít.
“Cãi” có phải là đặc tính của người Quảng Nam không?
Cái này cũng cần phải thảo luận, nhưng theo tôi thì tùy loại “cãi”.
Tôi phân biệt hai loại cãi khác nhau mà tôi tạm đặt là “cãi tiêu cực” và “cãi tích cực”.
Cãi tiêu cực: tuy mang tiếng là tiêu cực nhưng người tham gia loại cãi này lại có thái độ cãi rất tích cực: phùng mang trợn mắt, lên tay xuống ngón, sùi bọt mép, nổi gân cổ, đỏ mặt tía tai…cãi để dành cái hơn về cho mình, không cần lẽ phải, không cần sự thật..bất cần, bất cần miễn người đối thoại câm miệng là được. Kết quả của loại cãi này là vô tích sự, không đem lại sự thật, không đem lại lẽ phải, không giải quyết được gì hết, có khi còn u đầu, sứt trán, tốn tiền thuốc, tiền “bail” – nghĩa là một kết quả rất tiêu cực nên gọi là cãi tiêu cực.
Xin nêu một ví dụ:
Tôi có ông bạn khá thân, học với nhau từ 9, 10 tuổi. Mọi mặt, hai đứa tôi đều sàn sàn như nhau: tôi thi trung học đệ nhất cấp 5 lần mới đậu, thì ông ấy thi 4 lần. Tôi mang cái lon “cánh gà” (trung sĩ) 4 năm thì ông ấy cũng 4 năm mới được 3 chữ V. Tôi được 15 chữ tiếng Anh thì ông ấy được 16 chữ. Tôi qua mỹ HO 10 thì ông ấy HO 9 trước tôi 1 tháng…đại khái là như nhau, cá mè một lứa. Chỉ khác chút xíu là ông bạn tôi có vài bà chị qua Mỹ từ năm 1975 và do đó có vài đứa cháu nghe đâu là bác sĩ, kỹ sư hay tốt nghiệp đại học Oklahoma chi đó. Ấy thế mà mọi thứ gì dính dáng đến Mỹ, ông bạn nầy nhất định phải hơn hẳn tụi tôi, chỉ bằng hoặc thua các ông tiến sĩ thực thụ đậu ở Mỹ này thôi. Ví dụ:
-Cái nào? Chiếc xe Mỹ phải không?
-Thì cái Ford 89 đó!
-Rồi! Hư bộ “sạc” đó. Mua bộ mới đi!
-Trời ơi! Tôi mua bộ sạc mới, cách đây một tuần chứ mấy!
-Ông cứ cãi. Đã không biết thì phải im nghe! Thằng cháu tôi là kỹ sư mà tôi lại không biết hơn ông sao?
Ông bạn khốn khổ của tôi đi mua một bộ “sạc” khác mới toanh, hì hục ráp vào và xe vẫn…tắc tịt. Đành kéo ra shop, tốn thêm gần 200 đồng nữa xe mới chịu nổ.
Một lần khác:
-Này, sao thằng cháu tôi bảo lãnh vợ con nó gần 4 năm rồi mà vẫn không có kết quả?
-Trời ơi! Dốt quá! một năm thôi. Đó là luật.
-Tôi chưa thấy có người nào bảo lãnh một năm mà…
-Cũng cứ cãi! Cháu tôi nó làm ở tòa đại sứ Mỹ tại Bangkok chẳng lẽ tôi không biết hơn ông à? Vợ chồng là ưu tiên 1, ông rõ chưa? Đã không biết lại hay cãi…
Một lần khác nữa:
-Này, hôm qua thằng chủ nó hỏi ai có test 1 thì đưa tay. Ông chưa qua test 1 sao đưa tay?
-Dốt quá ông ơi! Để tôi giải thích cho mà nghe. Chữ “tec” nó nói là “technician” nói tắt. Mình là technician 1 thì phải đưa tay chớ.
-Sai! Mấy thằng Mỹ làm với mình cũng là technician 1 hết sao nó không đưa tay?
-Khổ quá! Tụi nó là “trainee” thì sao nó lại đưa tay được.
-Bậy, tụi nó cũng tech 1 hết. Vào một lần với tụi mình, chính tôi coi bảng tên nó mà!
-Trơi ơi! Dốt ơi là dốt! Ông qua Mỹ sau tôi làm sao ông nghe tiếng Mỹ bằng tôi được? Lại nữa, con cháu tôi là bác sĩ, ông hiểu chưa?
Ấy, đã giở cái “chiêu” đó ra thì không hiểu cũng phải ráng mà hiểu. Còn “théc méc” vào đâu được nữa!
Nhưng trong các cuộc “thảo loạn” kiểu này mà bạn ngồi im, không có ý kiến thì cũng không được. Bạn có thể chụp mũ là khinh người, là ngạo mạn, là v.v..
Gặp loại cãi tiêu cực này, thái độ nào của bạn cũng “kẹt” hết. Chỉ có một cách “kính nhi viễn chi” là thượng sách.
Cũng may, loại “cãi tiêu cực” này thì ở đâu cũng có, chẳng riêng gì Quảng Nam. Bằng cớ: miền Bắc có từ “cãi chày cãi cối” hay cãi bựa.
Miền Nam có từ “cãi bạt mạng” hay cãi hoảng cãi tiều”…để chỉ loại cãi ẩu này.
Cái tích cực: đây là loại cãi của những người tích cực. Những người muốn làm sáng tỏ một vấn đề, muốn bảo vệ chân lý hoặc bảo vệ những cái mình cho là đúng. Loại cãi này biểu hiện bằng nhiều cách: một ý kiến xây dựng, một bài báo ngắn, một bài tham luận dài, nhiều khi chỉ cãi bằng một thái độ, một cử chỉ không lời hoặc một câu nói bóng gió.
“Phong thái cãi” của loại cãi này thường rất tieu cực tức là không phùng mang trợn mắt, không sùi bọt mồm bọt miếng..nhưng kết quả lại rất tích cực vì làm sáng tỏ được một vấn đề, làm nổi lên lẽ phải, tức là dùng nhiều cách để bảo vệ và phát huy chân lý.
Quảng Nam mang tiếng là hay cãi, tôi nghĩ, chính loại này. Nó thể hiện tính ngang bướng. Hay nói văn hoa, đao to búa lớn một chút: nó thể hiện tính khẳng khái bất khuất, nghe điều chướng tai, thấy điều gai mắt, không chịu được, phải bày tỏ ý kiến, dù cái chướng tai gai mắt đó xuất phát từ những kẻ có quyền thế bao nhiêu đi nữa cũng không kiên nể, e dè.
Khẳng khái bất khuất là đức tính chung của người Việt Nam từ Nam chí Bắc, nhưng loại cãi tích cực này thì ở Quảng Nam thấy rất nhiều.
Chẳng hạn bữa tiệc thịt chó của Tiểu Phủ Sứ Ông Ích Khiêm.
Cử nhân võ Ông Ích Khiêm, người làng Phong Lệ, Hòa Vang, Quảng Nam, được phong Tiểu Phủ Sứ vì có công bình định mọi Thạch Bích, Quảng Ngãi.
Là một ông quan võ ngay thẳng, cang trực, Ông Ích Khiêm bị nhiều vị ô lại trong triều đố kỵ. Nhân một dịp tất niên, Ông Ích Khiêm thết các vị đại thần một bữa tiệc thịt chó cực ngon. Toàn thợ thịt chó thứ “xịn”, nấu rất khéo, các quan ăn đã đời mà vẫn chưa biết là món gì.
No say rồi, các đại thần thân mật hỏi Ông Ích Khiêm:
-Hôm nay quan Tiểu đãi tụi tôi món gì mà ngon quá rứa?
Cụ Tiểu cười cười, nhũn nhặn thưa:
-Dạ bẩm các quan, cũng những món thường thôi!
Hỏi năm lần bảy lượt cụ Tiểu mới rụt rè đáp:
-Dạ bẩm, mâm lớn, mâm nhỏ, từ trên xuống dưới toàn là chó hết.
Các quan giận đỏ mặt.
Ông Ích Khiêm còn dặn người nhà không được mang thức uống ra. Phải đợi các quan khát đến rã họng và phải đợi gọi đến lần thứ 5, gia đình mới tà tà dâng trà giải khát. Vừa thấy người nhà mang thức uống ra, Ông Ích Khiêm lấy roi quất túi bụi, vừa quất, vừa mắng:
-Tụi bây đúng là một bầy chó, lo ăn mà chẳng lo chi NƯỚC hết.
Đó là kiểu cãi của một ông quan võ.
Còn như cụ Trần Quý Cáp.
Lúc đang làm đốc học Khánh Hòa, cụ Trần tham gia phong trào “cự xâu kháng thuế” của nông dân Nam-Ngãi-Bình-Phú cùng với các cụ Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng.
Rõ ràng là ba cụ đã tổ chức và điều hành một cuộc “cãi lộn” vĩ đại chống lại chính sách xâu thuế của thực dân Pháp và triều đình Huế chớ còn chi nữa.
Vì vậy, triều đình ra lệnh cho tuần vũ Khánh Hòa (tên Q.) điều tra thẩm vấn cụ Trần.
Q. xuất thân là một anh thông ngôn cho Pháp được quan thầy nâng đỡ bò lên làm tuần vũ Khánh Hòa, thượng cấp của Tiến Sĩ Trần Quý Cáp. Trong cuộc thẩm vấn Q. nói với cụ Trần:
-Ông coi chừng! Tôi cách cái chức Đốc Học của ông đó!
Cụ Trần cười nhạt nhưng lễ phép thưa:
-Quan lớn cách được cái đốc học của tôi chớ làm sao cách cái tiến sĩ của tôi được?
Đem cái tiến sĩ đọ với bằng thông ngôn nịnh bợ của tuần vũ Q. cụ Trần còn ngụ thêm một ý nữa: Quan lớn cách cái đốc học của tôi được, thậm chí cả mạng sống của tôi quan lớn cách luôn cũng dễ, nhưng tấm lòng của tôi đối với dân tôi, đối với nước tôi thì quan lớn, và ngay cả quan thầy của quan lớn nữa, làm sao có thể cách đi được?
Chân lý đã được phát huy bằng một câu nói ngắn, gọn, đơn giản và dễ hiểu quá chừng.
Đó kiểu cãi của một ông quan văn. Và ở Quảng Nam, một tay cãi tiêu biểu nổi danh khắp nước là nhà văn Phan Khôi, cây bút cộc trụ của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm ở Hà Nội những năm 1956-1957.
Đã có một thời, trên làng văn, làng báo từ Nam chí Bắc xuất hiện cụm từ “Lý luận Phan Khôi” để khen ngợi những bài văn, bài báo đanh thép rành mạch, khúc chiết của bất cứ người viết nào.
Cụ Phan Khôi cãi bằng những bài báo, những bài thơ, những chuyện ngắn, truyện ngụ ngôn…đủ mọi hình thức, mọi thể tài và cái vai trò “Ngự Sử trên đàn văn” của cụ đã góp phần rất lớn làm tiếng Việt thêm trong sáng, chính xác và hay ho lên nhiều lắm.
Quý vị hiện nay đang ở tuổi “cổ lai hy” chắc hẳn không thể nào quên được phong trào sùng bái, tôn thờ truyện Kiều do cụ Thượng Phạm Quỳnh chủ xuống và cổ xúy. Tập Kiều, vịnh Kiều, diễn thuyết về Kiều…thậm chí cụ Thượng Phạm còn nói một câu để đời: “Truyện Kiều còn tiếng, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn!”.
Ai chả biết truyện Kiều là một danh tác bất hủ của Văn Học Việt Nam? Nhưng hình như ý của cụ Thượng Phạm là muốn tầng lớp thanh niên trí thức hãy quên thực trạng mất nước lúc đó để chỉ lo chuyên tâm ca ngợi, sùng bái truyện Kiều mà thôi. Thâm ý đó bị cụ Huỳnh Thúc Kháng và cụ Ngô Đức Kế cực luận rằng một cái nhà mà móng đã lún, mái dột, cột xiêu thì đem cây kiểng, non bộ, hoành phi, câu đối chưng lên, liệu có thể cứu cái nạn khỏi đổ được không? Cụ Thượng Phạm đã sử dụng một phương sách khá hay để đáp lại các bài công kích của Thanh Nghị. Đó là phương sách “vô chiêu thắng hữu chiêu”: im lặng không trả lời. Rõ ràng hai cụ Huỳnh, Ngô đã xuất chiêu đánh vào một bức tường bằng…không khí.
Đến đây, nhà văn Phan Khôi lại phải ra tay hóa giải chiêu thức vô chiêu của cụ Phạm Quỳnh, ông viết một bài nhan đề “Các nhà học phiệt” phân tích thật kỹ thái độ im lặng của cụ Thượng Phạm. Ông đưa ra hai lý do giải thích sự lặng thinh của cụ Thượng:
-Lý do thứ 1: cụ Thượng khinh cụ Huỳnh và cụ Ngô mà không thèm trả lời.
-Lý do thứ hai: cụ Thượng vì “bí” mà không trả lời được. Rồi ông phân tích thật kỹ lý do thứ nhất để dẫn tới kết luận là cụ Phạm Quỳnh không thể và không dám khinh cụ Huỳnh và Ngô, bởi lẽ, xét về mọi phương diện, cụ Thượng chỉ thua hoặc bằng hai cụ Ngô, Huỳnh mà thôi.
Cụ Phan không nói gì đến lý do thứ 2, nhưng ai đọc “Các nhà học phiệt” cũng hiểu ngay rằng sở dĩ cụ Thượng Phạm không trả lời chính vì lý do thứ 2: BÍ!
“Vô chiêu” bị hóa giải ngay. Cụ Phạm Thượng viết một bài trần tình đăng trên Nam Phong Tạp Chí và phong trào sùng bái truyện Kiều rơi dần vào quên lãng. Dư luận văn giới và báo giới từ Nam chí Bắc lúc đó đều phải đồng thanh công nhận rằng: chỉ có Phan Khôi mới đủ tài làm cho “con chuột nhắt đẻ ra trái núi”. (Vũ Ngọc Phan, nhà văn Hiện Đại)
Một vụ “cãi lộn” tuyệt vời nữa của cụ Phan Khôi, mà cho đến nay sau hơn nửa thế kỷ rồi mọi người vẫn còn nhớ mãi, đó là cuộc bút chiến nẩy lửa về Duy Tâm và Duy Vật với nhà văn CS Hải Triều Nguyễn Khoa Văn. Hải Triều, mặc dù đã tận dụng mọi thủ thuật cao cường nhất của Duy Vật biệt chứng pháp, vẫn không chống đỡ nổi lý luận chặt chẽ, vững vàng của cụ Phan Khôi, một nhà thâm Nho nhưng rất am hiểu luận lý học Tây Phương.
Rồi cụ tranh luận về thơ mới và thơ cũ giữa một bên là phái thơ Đường do thi bá Tản Đà dẫn dắt và một bên là phái thơ Mới do Thế Lữ, Lưu Trọng Lư…Cụ Phan Khôi không tham gia cuộc tranh luận này bằng những bàn nghị luận – vốn là món sở đắc của cụ, nhưng bài Tình Già của cụ làm theo thể thơ mới chính là ngón đòn quyết định đem lại toàn thắng cho thơ Mới. Vì vậy có người cho rằng Tình Già là bài thơ mới đầu tiên khai sinh phong trào thơ Mới Việt Nam.
Và vụ “cãi” cuối cùng đưa cụ Phan Khôi tới cái chết là vụ phê bình sự lãnh đạo dốt nát của đảng CSVN đối với văn học nghệ thuật miền Bắc hồi năm 1956-1957. Cụ Phan Khôi cho rằng lãnh đạo như kiểu CS thì chẳng bao lâu nữa trong vườn hoa Văn Nghệ Việt Nam ‘hằng trăm thứ hoa cúc đều nở thành cúc vạn thọ hết”. Sự thật đúng y chang như lời cụ nói. Mới đây Lê Ngọc Trà (tiến sĩ, tốt nghiệp ở Liên Xô cũ) đã lên tiếng thú nhận rằng: “Nền văn học VHCN ở Việt Nam là một nền văn học thiếu tự trọng.”
Không những chỉ “cãi” về sự lãnh đạo thô bạo của đảng đối với văn học nghệ thuật mà thôi, trái lại, rải rác trong Giai Phẩm Mùa Xuân, Giai Phẩm Mùa Thu…cụ Phan Khôi còn thẳng thừng phê phán, chỉ trích sự lãnh đạo “ngu ngốc, u mê của CS Việt Nam đối với mọi sinh hoạt chính trị, xã hội của đất nước (Phê Bình lãnh đạo văn nghệ, Ông Năm Chuột, Ông Bình Vôi, Nắng Chiều v.v…)
Trong “Phê bình lãnh đạo văn nghệ” cụ Phan Khôi còn thẳng thắn, công khai phản đối việc ông Xuân Diệu vừa làm ban giám khảo, vừa làm thí sinh trong “Giải Thưởng Văn Học Miền Bắc năm 1955″.
Biết chắc CS sẽ thẳng tay khủng bố, cụ Phan Khôi vẫn ngang bướng:
Làm chi cũng chẳng làm chi
Dẫu có làm gì cũng chẳng làm sao
Làm sao cũng chẳng làm sao
Dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi!
Rốt cuộc, cụ bị cắt hết tem phiếu và ít lâu sau thì chết vì lạnh và thiếu ăn.
Đó, “Quảng Nam hay cãi” là như vậy.
Đây chính là một lời khen và chắc người Quảng Nam sẽ vẫn mãi mãi tự hào về tính “hay cãi” của mình. Nhất là hiện nay, tại quê nhà, đồng bào ta đang bị chi phối, đang bị cai trị bởi những nghị quyết và những luật lệ không được phép cãi, chúng ta lại cần phải trau dồi hơn nữa tính hay cãi của mình để góp phần đem lại công đạo, công lý, công bằng cho đồng bào ta, đem lại cho đồng bào ta quyền được cãi, tức là quyền được bàn bạc, thảo luận và quyết định những vấn đề liên quan đến bản thân mình và đất nước mình. Vả lại, tự cổ chí kim, từ Đông sang Tây, “cãi” vẫn luôn luôn là một thứ vũ khí sắc bén, lợi hại mà bất cứ bạo quyền nào, dù đỏ hay xanh, dù vàng hay trắng, cũng đều phải e dè, kiêng nể.uy

 

ANH LÀ AI?

SÁU TRANG REPORT VỀ TỘI TRẠNG CỦA ÔNG THÁI NHẬT LĨNH ,NGƯỜI ĐỨNG RA THÀNH LẬP CỘNG ĐỒNG Ở SEATTLE CỦA TRẦN TRUNG DŨNG VÀ QUANG ADAM NGUYỄN

  LTS :

 Chúng tôi gởi đến quý độc giả hồ sơ tội phạm của ông Thái Nhật Lĩnh ,người đứng ra thành lập cộng đồng Seattle , cộng đồng do ông Trần Trung Dũng làm chủ tịch và Quang Adam Nguyễn làm phó . Cộng đồng được sự hổ trợ rất mạnh mẻ của Hội HO Seattle/WA , trong buổi tiệc tất niên của Hội HO Seattle , Hội này đã trịnh trọng mời ông Trần Trung Dũng lên đọc diễn văn . 6 trang report này là bổ túc cho bài viết về bộ ồng phục HO/Seattle . Chúng tôi còn nhiều bằng chứng nữa ( sẽ lần lượt nêu lên về lập trường chính trị của những tổ chức mà Hội Ho Seattle liên kết)để cho quý anh em quân nhânQLVNCH và HO thấy rõ con đường của HO Seattle đang đi ,một số người trong ban chấp hành HO Seattle đã bán danh dự của người quân nhân VNCH cũng như danh dự của những người chịu tù đày của VC . Dưới đây là phần dịch ra tiếng Việt ,phần Anh Văn(nguyên bản) nếu quý vị nào muốn có xin liên lạc với chúng tôi )

Vụ an số 03-1-09119-3 Trang 1

Giấy chứng nhận để xác định có lý do

Rằng tôi, Thám tử Robert A. Schroeder, của Sở cảnh Sát Tiểu Bang Washington đã duyệt qua cuộc điều tra trong hồ sơ số 03-009365;

Có đủ lý do dể tin rằng Linh N. Thai đã phạm tội Cắp bằng cách Gian lận Trợ cấp, vi phạm luật luật cải cách số 9A.56.030 và 74.08.331:

Sự tin tưởng này được đặt trên những yếu tố và hoàn cảnh sau:

Vào ngày 2 tháng 9, 2003, khoảng 8:00 giờ sáng Thám tử Schroeder đã được chỉ định điều tra một vụ trộm/gian lận được ghi trong hồ sơ số 03-009365 của sở Cảnh Sát Tiểu Bang Washington. T/t Schroeder nhận được biên bản của Bộ Y tế Xã Hội bang Washington(DSHS) và điều tra thêm về một nhân viên của DSHS. Nhân viên này là một cán sự tài chính tùng sự tại Văn Phòng Dịch Vụ Cộng Đồng West Seattle, sau đây là sơ luợc những yếu tố Th/Tử Schroeder tin là có thật:

Vào ngày 15 thánt 8 năm 2003, giám thị Leslie Patten, thuộc Phòng Dịch Vụ Tài chánh của Bộ Xả Hội đã tiếp xúc với cơ quan công lực về việc có thể đã có một sự gian lận liên quan đến ông Linh N. Thai, nhân viên tài chánh của Văn-phòng Dịch vụ Cộng Đồng West Seattle. Theo như được biết, rằng vào ngày 4 tháng 6 năm 2003, cán sự tài chính bậc 3 Linh N. Thai đã mở một chương mục qua Hệ Thống tự động xác định đủ điều kiện cho thân chủ (Automated Client Eligibility System, ACES) để chấp thuận cấp tiền cho chính ông ta dưới tên Linh B. Thai. Hồ sơ của ACES cho thấy ông Linh chấp thuận quyền hưởng tiền mặt qua chương trình General Assistance Unemployable (GAU), có hiệu lực từ ngày 1 tháng 6 năm 03, với số tiền là 339.00/tháng. Theo hồ sơ, ông Thai mở chương mục này dưới tên giả là Linh B Thai, thân chủ số 004924082, là một phụ nữ. Hồ sơ cho thấy là người này là người vô gia cư có địa chỉ bưu tín tại 9640 16th Ave. SW, Seattle, WA. 98106.

Trong việc các định tiêu chuẩn hưởng trợ cấp qua chương trình GAU, Bộ Xả Hội yêu cầu người nộp đơn phải cung cấp chi tiết để xác định tiêu chuẩn hưởng trợ cấp. Các dữ kiện này được lưu trử trong Hệ Thống Quản lý Hồ Sơ(Document Management System, DMS) điện tử cùng rất nhiều chi tiết trong ACES. Hồ sơ DMS của chương mục do ông Linh mở không có bất cứ xác định nào như căn cước, số An Sinh Xả Hội, (ASXH) kết quả khám tổng quát để xác định khuyết tật, hay sự chấp thuận của một cán sự xả hội ấn định thời gian mất khả năng. Ngoài sự thiếu sót của phần xác định, chương mục này không có các ghi chú trong ô Lời khai hay Ghi chú của hệ thống ACES. Tin tức duy nhất trong chương mục là dữ kiện phải ghi vào những khoảng trống bắt buộc phải ghi để cho phép cấp tiền, và hai bức Thư Thông Báo trả tiền cho cô Linh, do ông Linh Thai gửi.

 Trang 2

Nhân viên Bộ Xả Hội được cho một số mật mã để vào hệ thống cho phép trả tiền trong ACES. Mỗi nhân viên có dữ liệu cá nhân riêng và họ tự đặt số mật mã mỗi khi họ muốn vào hệ thống. Hệ thống ACES dùng dữ liệu cá nhân khi vào máy để theo dõi các biện pháp đã thi hành đối với các chương mục thiết lập và lưu trử trong máy. Dữ liệu cá nhân khi vào máy ACES của ông Linh N. Thai cho thấy ông ta là người có tên trong hồ sơ đã mở chương mục này vào ngày 4 tháng 6, năm 2003 và đã cho quyền được thụ hưởng tính từ ngày 1 tháng 6, 2003. Hồ sơ cho thấy chương mục đã được đóng trong tháng 7/03 và được mở lại trong tháng 8/03 dưới tên xử dụng khi vào máy (log-in ID) ACES của ông Linh N. Thai.

Một khi hệ thống ACES cho phép trả tiền, CitiBank sẽ gửi thẻ nhận tiền cho người thừa hưởng và số mật mã trong vòng vài ngày sau, để người nhận có thể lấy tiền trong máy ATM đặt tại các chợ. Hệ thống Chuyễn Ngân Điện tử của chương Mục này cho thấy đa số các lần rút tiền được thực hiện từ máy phát tiền của KeyBank tọa lạc tại 9655 17th Ave SW, SEattle, WA. 98106.

Một nhân viên khác của Văn Phòng Dịch Vụ Cộng Đồng (Community Services Offic),khám phá ra vụ này khi hệ thống ACES đưa ra sự báo động. Sự báo động là một sự thông báo của máy tính điện tử cho biết đã có sự lầm lẩn trong những dữ kiện ghi trong chương mục. Sự báo động lần này cho biết là số An Sinh Xã Hội trong hồ sơ không giống với số nào trong hệ thống An Sinh Xã Hội Liên Bang, có nghiả là số ASXH đó không hợp lệ. Trưởng toán nhân viên cũng thấy là tên của người trong chương mục tương tự như tên của một nhân viên trong văn phòng. Kho cô ta thấy hồ sơ không đầy đủ, cô ta biết ngay là hồ sơ có vấn đề và trình cho Jim Micka, giám thị của sở.

Nhân viên trong phòng giám thị cho thấy là ông Thai đi Vietnam trong tháng 7, khi chương mục bị đóng. như đã nói trên, chương mục này được mở vào ngày 4 tháng 6,2003, đóng vào tháng 7/03 khi ông Thai đi Vietnam. Khi ông ta trở lại làm việc vào tháng 8, hồ sơ cho thấy là chương mục này đã được mở lại. Nhân viên cũng được biết rằng các hồ sơ này đã có truy lảnh từ đầu tháng, tính từ ngày mở, hành động ít khi thấy với loại chương mục này. Jim Micka, giám thị của ông Thái, lái xe đến địa chỉ ghi trong chương mục để điều tra xem thẻ lảnh tiền được gửi về đâu vì người thụ hưởng ghi là vô gia cư. Ông ta khám phá ra đó là Vovinam Martial Art (Vỏ Đường Vovinam) do ông Thái làm chủ.

Những lần rút tiền sau đã được Hệ Thồng EBT của Washington ghi nhận của số thẻ 507710000767182:

Ngày Giờ Hình thức thanh toán Số tiến Địa điễm

06/04/03 21:5 Ký quỷ 339.00 Cập nhật quyền lợi

06/16/03 11:12 Rút tiền 320.00 Keybank

07/01/03 3:30 Ký Quỷ 339.00 Cập nhật

07/31/03 18:50 Rút tiền 300.00 Keybank

Trang 3

 08/05/03 22:11 Ký Quỷ 339.00 Cập nhật

08/12/03 12:35 Rút tiền 300.00 Keybank

Việc điều tra chi tiết về sự chuyển ngân cho thấy các hoạt động ghi trên của chương mục này được thực hiện tại Keybank số hiệu KB4263, 9655 17th Ave SW, Seattle, WA. Chi nhánh KeyBank này là máy ATM nằm trong KeyBank cách địa chỉ của chương mục này khoảng 1 khu phố. Số tiền tổng cộng từ ngày chương mục này được mở ra vào này 4 tháng 6,2003 là $920.00

Vào ngày 2 tháng 9, 2003, nhân viên trong ban giám thị khám phá ra một chương mục gian lận thừ hai, dưới tên xử dụng khi vào máy ACES của ông Linh N. Thai. Hồ sơ ACES cho thấy là vào ngày 2 tháng 8,2003, ông Thai cho phép chương trình Trợ Cấp Tạm Thời Cho Gia Đình Nghèo Khó phát tiền tính từ ngày 1 tháng 8, 2003 số tiền $740.00/tháng. Chương mục này vẫn còn hiệu lực dưới tên giã là Allan L. Greener, số chương mục 004980781. Địa chỉ người nhận trong chương mục giống như địa chỉ trong chương mục đầu tiên là 9640 16th AVe SW Seattle, WA. 98106. Phần lời khai cho thấy là người thụ hưởng là người giám hộ của các trẻ từ Dayton, Ohio. Phấn lời khai cũng cho thấy rằng cha mẹ của các cháu này đã thiệt mạng trong một tai nạn xe và toà án đã giao hồ sơ cho ông Greener. Người thụ hưởng trình bản sao, các giấy khai sinh để minh xác là ông ta là cha của cha của các đứa trẻ. Trong chương mục này có 6 đứa trẻ. Không phối kiễm được số ASXH nào trong chương mục được cả. Hệ thống ACES đưa ra một báo động về chương mục này cho biết là không phối kiễm được số nào với hệ thống ASXH Liên Bang.

Những lần rút tiền sau đã được Hệ Thồng EBT của Washington ghi nhận của số thẻ 5077100007889475:

Ngày Giờ Hình thức thanh toán Số tiến Địa điễm

08/20/03 22:01 K ý Quỷ $740.00 Cập nhật

09/01/03 3:30 Ký quỷ $740.00 Cập nhật

09/07/03 1:48 Rút tiền $500.00 KeyBank

09/07/03 9:38 Rút tiền $600.00 KeyBank

09/07/03 9:39 Rút tiền $360.00 KeyBank

Việc điều tra chi tiết sự chuyển ngân cho thấy các hoạt động ghi trên của chương mục này được thực hiện tại Keybank số hiệu KB4263, 9655 17th Ave SW, Seattle, WA. Chi nhánh KeyBank này cũng là máy ATM dùng để rút tiền của chương mục đầu tiên. Số tiền tổng cộng người do xử dụng chương mục này rút ra là $1460.00

Trang 4

 Tồng số tiền rút từ hai chương mục này, tính từ ngày thiết lập, là $2,380.00

Vào ngày 18 tháng 9 năm 2003, Th/tử Schroeder thu băng lời khai của nhân viên Bộ Xả Hội

Michelle Vanden. Cô Vanden là nhân viên tài chánh bậc 4 tùng sự tại Văn Phòng
Dịch Vụ Cộng Đồng West Seattle.

Cô Vanden là trưởng toán nhóm Nhận đơn xin dịch vụ, cùng đơn vị nơi ông Thai làm việc. Nhiệm vụ của nhân viên trong bộ phận này là đút kết hồ sơ đơn xin của những Gia đình Khó Khăn Cần Trợ Giúp Tạm thời (TANF)và thụ lý các hồ sơ của những người đang thụ hưởng trợ cấp và phiếu thực phẫm. Nhân viên làm trong khâu của cô là những nhân viên bào quản và thụ lý hồ sơ, và chỉ thỉnh thoảng mở hồ sơ mới. Nhiệm vụ của cô trên mức bảo quản và gồm có việc giám thị các nhân viên khác và giúp họ quản lý hồ sơ và theo dõi những báo động của các chương mục.

Khoảng thời gian đầu tháng 8, Vanden thấy có vấn đề với một trong những chương mục. Cô đã tình cờ chọn một báo động của một chương mục. Sự báo động này phát ra từ chương mục do ông Thai thiết lập. Cô ta thấy là tên người thụ hưởng trùng với tên của một nhân viên làm việc cho cô, là Linh Thai. Cô nghỉ rằng chuyện này rất buồn cười, nhưng không phải là khác thường vì rất nhiều người thụ hưởng có tên trùng với nhân viên. Báo động cho thấy số ASXH và tên không trùng nhau, do đó, cô bắt đầu tìm hiễu sự việc. Cô bắt đầu vào hồ sơ để cập nhật hoá để bảo đãm rằng hồ sơ có những thông tin đúng. Nhưng cô ta khám phá rằng người thụ hưởng trong hồ sơ này không có tin tức nào cả, ngoài dữ kiện cần thiết để mở chương mục. Không có hồ sơ chứng minh, không có ghi chú trong phần lời khai nào trong hồ sơ cả. Cô Vanden biết rằng hồ sơ này có vấn đề nên đã thông báo cho cấp trên của cô ta.

Vào ngày 18 tháng 9 2003, Th/tử Schroeder lái xe đến địa chỉ ghi trong hai hồ sơ gian lận, 9640 17th Ave. SW, Seattle, WA. 98106. Địa chỉ nói trên là của một cơ sở thương mãi có bảng hiệu ghi ” Hoi Truong Hung Dao”. Có hai của vào tại co sở này. Một cái đề là “AA surplus”. Cửa hiệu kia có bảng hiệu đề tên ” A Family Fun”. Dưới bảng hiệu A A Family Fun có một giấy quảng cáo của Vỏ Đường Vovinam Viet Vo Dao. Trên giấy quảng cáo có một tấm ảnh đề chử “Master Linh”. Địa chỉ trên giấy quảng cáo giống với địa chỉ ghi trên.

Cuộc điều tra đã xác định được là những lần rút tiền đã được thực hiện tại chi nhánh KeyBank số KB4263, 9655 17th Ave. SW, Seattle, WA. 98106, cách cơ sở của ông Thai một khu phố, là địa chỉ 9640 16th Ave. SW,SEattle, WA. 98106 là địa chỉ ghi trên cả 2 chương mục gian. Mỗi chương mục nói trên chỉ được cấp một thẻ rút tiền. Phần thu hình trong hệ thống an ninh của KeyBank cho thấy những bằng chứng là ông Thai là người rút tiền những lần trên.

Vào ngày 30 tháng 9 năm 2003, Th/tử Schoeder và Th/tử Maịjala tiếp xúc văn phòng Bộ Xả Hội West Seattle để phỏng vấn ông Thai. Trước khi phỏng vấn ông Thai, cô Patten và ông

 Trang 5

K Micka được cho xem phim thu hình tại máy rút tiền. Cả hai người đều xác nhận là người trong hình là ông Linh N. Thai

Cuộc phỏng vấn được thực hiện trong phòng họp của Bộ Xả Hội. Sxhhroeder và Mijala  tự giớithiệu họ với ông Thai sau khi ông ta được người giám thị Jim Micka, đưa qua phòng họp. Th/tử Schroeder báo cho ông Thai biết là lý do có cuộc phỏng vấn là vì Bộ Xả Hội bị mất cắp vì có người tạo hồ sơ gian. Ông Thai tỏ vẻ ngạc nhiên và quan tâm. Th/tử Ki jala cũng có mặt trong việc, huấn luyện v.v… Ông ta cho biết là ông ta là Chuyên Viên dịch vụ Tài Chánhvà ông đã làm việc tại sở này khoảng 2-3 năm. Ông ta có xin nghỉ không lương một năm trong khoảng thời gian này và sau đó trở lại làm việc với chức vụ hiện nay. Nhiệm vụ của ông ta là bảo quản các chương mục đặt ra để giúp đở những người nghèo khó cần được trợ cấp xả hội. Thường thì ông ta không mở chương mục mới, tuy nhiên, việc đó cũng tùy từng trường hợp. Nếu cần ông ta cũng mở được chương mục nhưng thường thì do phòng nhận đơn. Ông ta khai rằng ông ta chua mở chương mục nào trong vòng một năm. Khi được hỏi rằng ông có biết ai đã mở những chương mục gian để hưởng lợi hay không thì ông ta nói là ông không biết. Ông Thai nói rằng ông không có khó khăn tài chánh và trên phương diện này ông ta rất thoải mái. Trong quá khứ, ông ta có thành tích tín dụng xấu, nhưng hiện nay tình hình tài chánh ổn định và mọi việc đều ổn thoả. Ông ta có lập ra một cơ quan phục vụ thiếu niên để ông ta dạy vỏ cho các cháu. Cơ quan của ông ta được lập ra tại địa chỉ trên đường 16 Ave. SW, Seattle, ông ta trả tiền cho chủ phố để xử dụng nơi đó. Ông ta cũng tiết lộ là ai cũng có vấn đề nhưng không đi vào chi tiết là ông muốn nói gì.

Th/tử Schroeder thông báo cho ông Thai biết là cuộc điều tra cho thấy rằng ông ta là người

lập ra những chương mục gian lận đó và đang hưởng các phúc lợi của các chương mục đó.

Ông Thai nói rằng đây là một sự kinh ngạc đối với ông ta và không biết nói gì thêm.

Lúc 11:45 sáng, Th/tử Schroeder cho ong Thai biết về những quyền Hiến Định của ông ta và

ông Thai nói là ông ta hiễu những quyền đó. Ông Thái nói tiếng Anh giỏi, tiếng mẹ đẻ là tiếng

Việt. Khi được hỏi về các chương mục gian lận, ông toa nói rằng ông không biết người ta nói

gì. Khi bắt đầu cuộc phỏng vấn, ông Thai khai rằng mỗi người được cho một tên hiệu để vào

máy, tên hiệu này gồmnhững mẫu tự đầu trong họ của người đó và chử tắt của tên người đó.

Khi được cho thấy hồ sơ có tin tức về chương mục gian thứ nhất, có tên hiệu vào máy và địa

chỉ thương mãi của ông ta, ông ta nói là ông không giải thích được. Khi được cho thấy bảo sao

thư gửi đến người thụ hưởng, với các thông tin liên lạc của ông ấy thì ông ta nói là ông không

biết và người nào đó trong văn phòng có thể đả ghi tên ông ta vào đó. Ông ta khai là ông

không thể giải thích tại sao địa chỉ cơ sở thương mãi của ông ta nằm trong chương mục. Ông

Thai nói rằng ông ta không có nghi vấn nào về những hồ sơ đưa cho ông ta xem, trong đó có

đầy đủ những tin tức của ông ta nhưng ông ta không thể giải thích tại sao.Ông ta nói lắp bắp

trong suốt buổi phỏng vấn khi bị chất vấn về những chương mục này. Ông ta khai là ông ta

điếng hồn khi và rất sửng sốt và không có câu trả lời nào cuôi tai cho bất cứ điều nào. Ông ta

khai rằng những tin tức trong hồ sơ là không gì thể chối cải được nhưng ông ta không giải

thích được và không biết nói gì hơn.Ông Thai không bao giờ nhận là người mở các chương

mục đó, ông ta luôn luôn nói là ông ta khôngcó lời giải thích nào tốt.

 Trang 6

 Ông Thai chối rằng ông không bao giờ có thẻ rút tiền EBT của những chương mục trên. Khi

được cho xem những tấm ảnh tại máy rút tiền, ông ta nói ngay rằng ông là người trong ảnh.

Lúc 12:05 p.pm, ông Tahi bị bắt giữ về tội Trộm bằng cách Gian lận Welfare. Sau khi bị

còng, Th/tử Majala tìm thầy 2 thẻ “Washington Quest” EBT trong bóp của ông Thai cùng vài

biên nhận của KeyBank. Hai thẻ EBT này trùng với thẻ cấp cho mỗi chương mục gian. Một

trong những biên nhận của KeyBank được mang ra so với một trong hai thẻ EBT dùng ngày

rút tiền và bốn số cuối trên thẻ. Th/tử Majala hỏi ông Thai lần cuối cùng ông lấy tiền là khi nào.

Ông Thai nói là cách đó một tháng. Trong thời gian thẫm vấn không có lúc nào ông Thai xin

được nói chuyện với một luật sư.

Ông Thai bị bắt lúc 12:05 và được Cảnh Sát Viên Moore, số hiệu 1215, giải giao đến

Nhà Giam Quận King và bị tống giam về tội Trộm bang cách Gian Lận Welfare.

KẾT LUẬN:

Cuộc điều tra này là do sự kiện ông Linh N. Thai dùng địa vị của ông ta trong việc làm tại Bộ Xả

Hội Tiểu Bang Washington, để tạo ra các chương mục giả tạo để lấy tiền. Ông ta mở những

chương mục này dùng tên và số An Sinh Xả Hội giả khhông thể phối kiễm được với hệ thống vi

tinh của Sở An Sinh Xả Hội Liên Bang. Sau khi mở các chương mục gian này, ông Thai đã rút

tổng cộng một số tiền là $2,380.00 từ hai chương mục đó, trong khoảng thời gian từ tháng 6

năm 2003, khi có chương mục đầu tiên, đến khi kết thúc cuộc điều tra này vào tháng 9 năm 03.

Do đó, căn cứ vào những sự kiện và hoàn cảnh ghi trên, xin nộp đơn truy tố ông Thai về 1

khoản tội Cắp bbàng cách Gian Lận Welfare.

 Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật Washington nếu có điều chi gian dối, tôi cam

đoan là những lời khai trên thực sự đúng. Ký tên ngày 30 tháng 9 năm 2003 tại King County

Washington

Thám Tử R.A. Schroeder

 

NGUYÊN NHÂN THÀNH LẬP CỘNG ĐỒNG SEATTLE VÀ VÙNG PHỤ CẬN CỦA THÁI NHẬT LĨNH

  BIA MIỆNG.

Như một bài trước, BM đã phân tích sơ qua về nguyên nhân thành lập và lý do thất bại của Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tiểu Bang Washington trải qua các đời Chủ Tịch Lê Thiện Ngọ, Tăng phước Trọng và mới đây là Nguyễn minh Đường. Đáng lý ra, bài viết nầy đã được ra đời liền sau đó như đã hứa, nhưng lại thấy trên diển đàn xảy ra vụ lời qua tiếng lại nặng nề của hai bên ông Thái Nhật Lĩnh và Lê thiện Ngọ, James Trịnh… có sự tham gia của chủ diễn đàn Phố Nắng tận bên Úc với vai trò trung gian. Thấy cũng nên để hai bên đưa ra hết quan điểm, luận chứng của mình, sự việc nhờ đó càng thêm sáng tỏ.

Hôm nay, BM xin được có vài ý kiến về Nguyên Nhân Thành Lập “Cộng Đồng ông Lĩnh” và Cộng Đồng Nầy Sẽ Đi Về Đâu. (Ở đây chúng tôi xin mở một dấu ngoặc là sở dĩ chúng tôi gọi đây là Cộng Đồng Ông Lĩnh vì ông ta là người đứng tên đăng ký về mặt pháp lý. Về mặt thực tế, trong những tranh luận trên diễn đàn, chỉ có ông là người lên tiếng kèm theo một số nặc danh, chúng tôi chưa hề nghe hai vị Trần trung Dũng và Adam Quang Nguyễn lên tiếng. Hơn nữa tên tuổi chính thức hiện đang còn tranh chấp, gọi vậy giản tiện hơn. Phe bên kia, chúng tôi cũng xin mạng phép gọi là Cộng Đồng Ông Ngọ. Xin cáo lổi cùng độc giả và các quý vị Chủ Tịch).

Như đã nói ở bài trước, sự hình thành Cộng Đồng Ông Ngọ là do một sự Đồng Khí Tương Cầu giữa Tổ Chức Mặt Trận và Đại Việt Nguyễn Kim Long vào thời điểm bấy giờ. Tương tự như vậy, Cộng Đồng Ông Lĩnh được thành lập là đo sự kết hợp bởi hai nhóm quyền lợi khác nhau nhưng cùng có nhu cầu phải thành lập một Cộng Đồng khác.

  1. Nhóm ông Lĩnh. Trong sinh hoạt cộng đồng tại Washington, ngoài những hội đoàn cựu quân nhân, ái hửu và các đoàn thể chống cộng do các người lớn tuổi, đã quen mặt trong cộng đồng còn có một lực lượng khác ít ai để ý cho đến gần đây. Đó là lực lượng của những người tương đối trẽ hơn, tốt nghiệp từ trường lớp ở Mỹ, hoặc các thương gia Việt-Nam giầu có. Nhóm người nầy thừơng thành lập những hội có tính cách liên đới nghề nghiệp như Hội Luật Gia Người Mỹ Gốc Việt, Hội Thương Gia, Một Dấu Nối v.v… Một điểm chung của các tổ chức nầy là họ không dính líu nhiều đến các sinh hoạt chống Cộng trong cộng đồng. Mục tiêu của họ là có một tổ chức để liên lạc với chính quyền Mỹ, hoặc để thăng tiến trong chính giới Hoa-Kỳ, hoặc để “Đấu Thầu” các công trình lợi ích công cộng có liên quan đến Cộng Đồng Việt-Nam và các Cộng Đồng thiểu số trong khu vực. Họ không đủ sức để gia nhập vào dòng chính 100% mà vẫn còn dựa vào Cộng Đồng Việt-Nam để tiếng nói của họ có thêm trọng lượng với chính quyền. Thái độ chính trị của nhóm người nầy vô cùng lưng chừng. Họ không có một lập trường Quốc gia như đa số cộng đồng người Việt chúng ta nếu không muốn nói là họ có vẻ thân Cộng. Họ có thể phản bội cộng đồng, bắt tay với Cộng Sản bất kỳ lúc nào miễn là có lợi cho họ. Vì muốn chen chân vào chính quyền Mỹ họ phải chứng tỏ, một mặt họ chính là người đại diện và có uy tín trong cộng đồng Việt-nam tại tiểu bang, nhất là số cử tri người Mỹ gốc Việt, mục đích là để làm ăn trong các mùa bầu cử, mặt khác họ cũng chính là người mà khi cần người Mỹ có thể dùng họ để nói chuyện làm ăn buôn bán với Việt Cộng, Không quên rằng Seattle là thành phố chị em với Hải-Phòng, Làm ăn với Việt-nam có thể đem đến cho thành phố Seattle nhiều lợi ích kinh tế.

Ông Thái nhật Lĩnh ở trong nhóm người nầy, nhưng chỉ ở cấp thấp, cấp trên ông còn có tài phiệt Trần Đức , Huỳnh Thi, Quang Nguyễn, Thảo Trần v.v… Ông Lĩnh tốt nghiệp cử nhân Xã hội Học ở University of Washington, nhưng BM có bằng chứng ông Lĩnh khai với cộng đồng rằng ông ta có bằng Tiến Sĩ do chính ông Lĩnh viết trên giấy trắng mực đen. Trước đây, vào năm 2000-2003 Ông Lĩnh là một cán sự xã hột tại văn phòng xã hội Southwest, Seattle. Vào năm 2003 Ông Lĩnh đã phạm tội gian lận hồ sơ trợ cấp để ăn cắp tiền xã hội, bị cảnh sát còng tay đưa vào tù. Kể từ đó, đường công danh sự nghiệp của ông Lĩnh gần như chấm dứt, khó mà xin được một công việc làm với cái resume như vậy, ông bèn xoay qua toàn tâm toàn ý sinh hoạt trong những công việc affair cộng đồng, mong rằng có thể nhờ tài ma lanh của mình kiếm cháo húp qua ngày. Ông liên lạc với nhóm Trần Đức, Quang Nguyễn, Huỳnh Thi… để mong nhóm nầy hổ trợ. Bên cạnh đó Ông cố gắng liên lạc với một số tép riu trong đảng Dân Chủ Hoa Kỳ để lòe mấy cụ già trong cộng đồng Việt-Nam. Ông Lĩnh với Huỳnh Thi, Quang Nguyễn … liên hệ vô cùng mật thiết, nhưng ông ta được nhiều người trong cộng đồng biết đến hơn vì ông có một lò dạy võ Vovinam.

<a href=”http://biamieng.com/2010/02/09/sau-trang-report-v%e1%bb%81-t%e1%bb%99i-tr%e1%ba%a1ng-c%e1%bb%a7a-ong-thai-nh%e1%ba%adt-linh-ng%c6%b0%e1%bb%9di-d%e1%bb%a9ng-ra-thanh-l%e1%ba%adp-c%e1%bb%99ng-d%e1%bb%93ng-%e1%bb%9f-seattle-c/”target”-blank”>xin bấm vào đây để xem tội trạng của TNL</a>

 Cách đậy ba năm, thành phố Seattle có dự án mở mang khu phố thương mại Việt-nam gọi nôm na là Dự Án Dearborn. Phe Quang Nguyễn (WAVA), Huỳnh Thi (Hội Luật Gia) Minh Đức (Một Dấu Nối) liền nhân cơ hội nầy nhào vô kiếm chác. Họ đi đêm với chính quyền Mỹ và tự nhận là những người đại diện chính thức cho cộng đồng Việt-Nam tại Seattle. Ban đầu, các tai to mặt lớn trong cộng đồng chưa biết gì về dự án nầy, đến cách đây hơn một năm, khi biết được thì họ liền gặp gở với nhóm Quang Nguyễn để mong chia phần, trong số nầy có Phạm Kim (Báo Người Việt Tây Bắc) Nguyễn kim Long (Hội người Việt Tỵ Nạn) Tăng phước Trọng (Cộng Đồng NVQGTBWA)v.v…Trải qua nhiều lần gặp gỡ, việc hợp tác không thành, hai bên trở qua đấu đá nhau kịch liệt. Trong khi đó có vài cá nhân cũng nhảy vào vòng chiến và thách thức (challenging) tư cách Đại Diện Cộng Đồng (Community representative) của nhóm Quang Nguyễn trước Hội Đồng Thành Phố. Các cá nhân nầy đòi hỏi Thành Phố khi quyết định về một dự án quan trọng có liên quan đến lợi ích chung của cộng đồng Việt-Nam thì phải có sự tham gia của cộng đồng Việt-Nam mà chính họ cũng không dám nhận mình là đại diện Các cá nhân nầy đã tổ chức nhiều buổi tường trình công khai với cộng đồng để bạch hóa tất cả những hiểu biết của họ về dự án Deaborn và kêu gọi cộng đồng nên tham gia tranh đấu cho quyền lợi thiết thực của mình, đừng để cho một vài cá nhân “deal” với Thành phố sau lưng cộng đồng. Nhưng Cộng Đồng là ai đây ? một câu hỏi nhức nhối cho cộng đồng người Việt tại thành phố Seattle. Cộng Đồng ông Ngọ là Cộng Đồng tiểu bang, Cộng Đồng nầy có tư cách đại điện cho cư dân thành phố Seattle hay không là một vấn đề cần bàn cãi nhiều. Như vậy, về mặt khách quan, chúng ta cần một Cộng Đồng chính thức cho cộng đồng người Việt tại Seattle để đại diện cho người Việt với chính quyền trong những vấn đề tương tự như đề án Deaborn. (Đề án Dearborn sau đó bị hủy bỏ và đang có dư luận sẽ có một đề án tương tự lấy tên là Little Saigon trong tương lai). Về mặt chủ quan của nhóm Quang Nguyễn, vì Tư Cách Đại Diện của họ bị thách thức, nên muốn tiếp tục làm ăn với chính quyền Mỹ trong các vụ tương tự, họ cũng có nhu cầu phải xác định tư cách đại diện cộng đồng của mình. Muốn thế, không gì bằng vận động thành lập một Cộng Đồng dưới tầm ảnh hưởng của họ. Hai nhu cầu khách quan và chủ quan gặp nhau.

 Bất ngờ, Bia Miệng đã phanh phui những hình ảnh Quang Nguyễn, Huỳnh Thi và đồng bọn về Việt Nam làm ăn với Việt Cộng trong đó có một tấm hình bọn họ được Ủy viên trung ương Đảng CSVN, Phó chủ Tịch thành phố Sài Gòn (HCM) đón tiếp và cụng ly tưng bừng. Bức hình đó kèm theo những lời ca tụng Việt-Cộng đăng trong trang nhà của họ bị Bia Miệng đưa ra ánh sáng đã thui chột khã năng Đại Diện Cộng Đồng của họ. Quang Nguyễn và Huỳnh Thi không còn làm chủ tịch của RAWA và hội Luật Gia nữa, cho người khác lên thay. Nhu cầu nắm cộng đồng vẫn không chết trong họ. Nhóm Quang Nguyễn , Huỳnh Thi… bèn tìm một người trong bọn, để nhảy ra vận động thành lập Cộng Đồng Seattle. Người đó chính là Thái Nhật Lĩnh vậy. Nhưng Thái nhật Lĩnh khi đứng ra làm trưởng ban vận động thành lập Cộng Đồng không thể ứng cử vào chức chủ tịch được vì qua vài cuộc họp nhiều ý kiến không muốn việc đó. Phe Thái nhật Lĩnh cần phải tìm gấp “gà” của mình. Trần trung Dũng là một người trẻ, chưa hề sinh hoạt cộng đồng, cựu võ sinh Vovinam,TTD thường lui tới tổ đình của Bùi đức Ly và Adam Quang Nguyễn cũng là người mới được cộng đồng biết đến vài năm gần đây qua sự hào phóng yễm trợ tài chánh cho các Hội Đoàn trong các dịp gây quỹ đã được chọn.

 2. Nhóm ông BS Nguyễn xuân Dũng ở Tacoma: Cộng đồng Việt-Nam tại tiểu bang Washington không lạ gì BS Nguyễn xuân Dũng, đây là một trí thức người Việt-Nam không biết làm chính trị nhưng thích làm lãnh tụ và ưa đọc diễn văn. Ông tưởng rằng ông là trùm ở Tacoma. Nói rằng ông là cán bộ MT thì cũng không đúng lắm, nhưng ông rất dể bị dụ. Sau nhiều năm sinh hoạt cộng đồng, ông không còn có uy-tín với cộng đồng nữa, nhất là sau vụ dành nghĩa trang với Hội Trợ tang Tacoma. Đối với cộng đồng Tacoma, Hội trợ tang càng ngày càng phát triển và hoạt động hiệu quả thì ông Dũng càng mất dần người ủng hộ. Chung quanh ông ta chỉ còn một số quân sư i-tờ-rít Việt-tân làm vây cánh, từ đó ông chỉ còn là tay sai của đám Việt-tân. Đám Việt-tân nầy dùng ống đu-đủ thổi ông trí thức gần đất xa trời nầy để chống lại phe Ông Ngọ và thực hiện mưu đồ của họ. Sau khi mất ảnh hưởng ở Tacoma vì vụ nghĩa trang, Ông Dũng với tay lên Seattle, mong biến mình thành một nhân vật tiểu-bang, như chúng ta thấy ông đã từng làm trong các năm qua.

 Phe Việt-Tân không muốn có một Cộng Đồng có lập trường chống cộng rỏ ràng. Họ muốn một cộng đồng theo khuynh hướng bắt tay với Việt-Công theo chiều hướng của họ. Việt-tân lại không còn uy-tín để công khai tham gia vào bất kỳ một tổ chức Cộng đồng nào nữa, chỉ còn cách đứng đàng sau giựt dây. Đương nhiên, họ không thể giựt dây Cộng đồng Ông Ngọ vì Ông Ngọ cương quyết chống lại họ. Chỉ còn cách vô hiệu hóa Cộng dồng ông Ngọ là tốt nhất cho họ.

 Tại tiểu bang Washington có ba thành phố đông người Việt sinh sống, Seattle, Tacoma, và Olympia. Ông Ngọ có một Cộng Đồng cho toàn tiểu bang, tuy có lập trường chống Cộng nhưng hoạt động không có hiệu quả và không đoàn kết được cộng đồng. Olympia có Cộng Đồng của hai ông Tân thục Đức và Hứa minh Đức lập trường vô cùng lưng chừng và khả nghi. Tacoma có cộng đồng tự xưng của Ông Bs Dũng do Việt tân kềm chế, Nếu Seattle có được một tổ chức Cộng Đồng cùng khuynh hướng như hai thành phố kia thì mộng ước của Việt Tân thành sự thật. Vừa vô hiệu được Cộng Đồng Ông Ngọ vưà có các tổ chức Cộng Đồng theo chiều hướng thân Cộng như Việt Tân. Do đó, Việt-tân hết lòng hổ trợ cho nhóm Thái nhật Lĩnh để thành lập cho bằng được Cộng-Đồng Seattle và vùng phụ cận, thậm chí còn đưa gà của mình là Nguyễn văn Thảo và Đinh hùng Chấn ra ứng cử lót đường như chúng ta đã thấy.

 3. Ông Phan Rang và một vài cựu sĩ quan cao cấp tại Seattle. Sở dĩ phải đề cập đến ông Phan Rang vì chính ông là người đầu tiên kêu gọi thành lập Cộng Dồng Seattle và vùng phụ cận. Ông Phan Rang là một người chống Cộng, nhưng chống cộng theo kiểu võ biền, không đầu óc. Là một đảng viên của Đại Việt Cách Mạng Đảng, Từ khi đến Mỹ, Ông Phan Rang liên kết với nhiều người rồi chống đối với tất cả những người ông liên kết kể cả phe Đại Việt Quốc Dân Đảng và Tân Đại Việt. Gần đây ông chỉ còn liên hệ với Nghiêm Hòa và phe ông Bs Dũng. Ông nỗi tiếng nóng nảy và bậm trợn, Bia miệng đã từng thấy tận mắt Ông ta chửi Nghiêm Hòa như tát nước vào mặt giửa một cuộc họp đông người, Nhưng sau nầy nghe đâu Nghiêm Hòa đối xử với ông hào phóng lắm trong một dịp ông hư xe phải đi sửa ở tiệm, hay không hiểu vì lý do gì mà ông lại rất thân với Nghiêm Hòa. Ngiêm Hòa là một người thích danh, đàn em của rất nhiều người (vì bản thân Nghiêm Hòa chỉ có thể làm đàn em) trong đó có Trần Đức, Thái nhật Lĩnh v.v… Ông Phan Rang sở dĩ phát lời kêu gọi thành lập Công Đồng là vì Nghiêm Hòa và phe ông Dũng xúi bậy đàng sau, và đàng sau Nghiêm Hòa là Thái nhật Lĩnh, đàng sau Thái nhật Lĩnh là Trần Đức, Quang Nguyễn v.v… Ông Phan Rang do tính nóng nảy, không chịu suy nghĩ cẩn thận, kèm theo tuổi già lú lẫn nên vô tình đã biến mình thành một con cờ của một âm mưu. Trong quá trình vận động, nhóm Việt-Tân và Thái nhật Lĩnh đã muốn lọai ông Phan Rang ra khỏi Ban Vận Động nhưng vì ông nằng nặc đòi đứng vào nên ông vẫn còn ở trong Ban vận Động cho đến ngày cuối. Để độc giả đánh giá được vai trò của ông Phan Rang trong cái Cộng Đồng nầy chúng tôi xin trích cuộc nói chuyện bằng phone giữa một người bạn của Bia Miệng với ông Phan Rang một ngày sau cuộc bầu cử.

 -Người Bạn : Chào anh Rang, chúc mừng anh nhé, bầu cử Cộng đồng xong rồi chắc anh vui lắm.

-Phan Rang: Vui chứ, thành công rồi, bây giờ giao cho giới trẽ họ làm còn mình thì xong rồi.

- À anh Rang, Ông Trần trung Dũng vừa đắc cử đó là ai vậy?

- Tôi không biết, nhưng họ là người trẽ.

- Ông ta làm gì ở đâu vậy?

- Tôi không biết, chắc là cũng làm cái gì đó.

- Ông ta qua đây năm nào, diện gì vậy?

-Tôi không biết

- Ông ta học hành tới đâu?

- Tôi không biết

- Ba mẹ anh ấy là ai vậy?

- Tôi không biết.

- Anh ta có sinh hoạt cộng đồng trước đây không?

- Tôi không biết mà hình như không

-Sao cái gì anh cũng không biết mà anh mừng sớm quá vậy anh Rang…

Một vài người nữa như ông Tôn Thất Hồng (TTH)hội trưởng hội Không Quân, ông này làm tờ đặc san cho hội Không quân, hình bìa là chiếc máy bay kéo con số 2000 hình màu của số 2000 này là ngôi sao vàng trên nền đỏ…, sự kiện này chính ông Phan Rang lên tiếng trên đài ông Quốc Nam yêu cầu ông Tôn Thất Hồng trả lời. Thời gian sau đó ông TTH không làm hội trưởng nữa…Rồi quay lại làm hội trưởng. Ông TTH là một trong vài ba người đứng phía sau yểm trợ cũng như sắp xếp nhân sự để ra ứng cử cái cộng đồng Thái Nhật Lĩnh(TNL), ông cũng là người có liên hệ với thương gia Trần Đức (tiệc đêm không gian hội ngộ tại nhà hàng Tea Palace). Nhiều người nói TTH là Việt Tân vì ông này luôn hợp tác với VT.

Ông Nguyễn Văn Diệp hội học viện Cảnh Sát , ông này tách khỏi hội tương trợ cảnh sát để thành lập hội học viện cảnh sát, trong hội này chỉ có vài ba người. Nguyễn Văn Diệp cùng ông TTH vận động người ra ứng cử cho cộng đồng TNL, ông cũng là người đưa mối đến nhà hàng Tea Palace khi có hẹn hò. Một con người luôn phô trương, chống cộng bằng mồm, đàng sau thì liên hệ với VT và những thành phần liên hệ với VC

Sau khi Cộng Đồng Seattle và vùng phụ cận được thành lập xong thì khuynh hướng chính trị càng ngày càng lộ rõ qua việc ông Trần trung Dũng tuyên bố không làm Chính Trị trong bài diễn văn nhậm chức, Website của một vị cố vấn Cộng đồng có cờ Cộng Sản Việt-Nam, Tet in Seattle “quên” chào Quốc Kỳ trong phần khai mạc với sự hiện diện của vị chủ tịch Cộng đồng nầy, Cộng đồng nầy sẽ làm lể thượng kỳ đầu năm tại Tổ đình Việt Tân bên Southwest, Seattle.

Cộng Dồng nầy sẽ làm gì? Xin thưa, với 174 người đi bầu (thua xa số người tham dự sinh nhật có bán vé của Ông Tăng phước Trọng ở nhà hàng Tea Palace, Số người tham dự một đám cưới trung bình ở Seattle là 250 ngườ) kèm theo những hành vi chính trị mập mờ, Cộng đồng nầy chắc chắn cũng chỉ là một cộng đồng hửu danh vô thực, không được ai ủng hộ. Tuy nhiên, cái nguy hiểm là nhóm người nầy sẽ tiếp tục lợi dụng danh nghĩa Cộng Đồng VN để phản bội lý tưởng Chống Cộng của chúng ta, sẽ dùng danh nghĩa Cộng Đồng để lừa bịp chính quyền Mỹ hầu trục lợi cá nhân, sẽ dùng danh nghĩa Cộng Đồng để liên lạc, làm ăn và thực hiện nghị quyết 36 của Việt-Cộng? Sau khi thực hiện một vài động tác ném sỏi dò đường nếu cộng đồng người Việt Quốc gia chân chính yên lặng hoặc không có phản ứng đối phó hiệu quả, Cộng Đồng nầy sẽ tiến xa hơn trong âm mưu của nghị quyết 36?

( Xin đón đọc: Người Việt Quốc Gia Chân Chính tại tiểu bang Washington nên làm gì để phá vở âm mưu của Việt Cộng và Việt-Tân)

AUDIO TẢN MẠN CHO NGÀY 30 THÁNG 4

Kính mời bấm vào đây để nghe âm thanh  TANMAN30.4

NAM BẮC PHÂN TRANH SAU 1975 (BÀI#7)

 

 Tác giả: Nguyễn Tường Tâm

Nam Bắc Phân Tranh Sau 1975 (Kết)

(Con Đường Hoà Hợp)

Theo sự ghi nhận trong những bài trước, người ta có thể thấy tình trạng chia rẽ nam bắc tại hải ngoại không phải do tranh chấp quyền lợi mà là do khác biệt về trình độ chính trị và văn hoá và sự khích động của giới lãnh đạo đảng và chính quyền mọi cấp từ trong nước. Như vậy con đường đi tới hoà hợp phải là xóa bỏ sự khác biệt đó. Muốn vậy, người ta nghĩ ngay tới sự xóa bỏ chế độ cộng sản tại Việt Nam. Nhưng cho tới nay, xóa bỏ chế độ cộng sản tại Việt Nam là mục tiêu dài hạn mà không ai có thể tiên đoán được khi nào thành công. Trong khi chờ đợi một giải pháp toàn bộ như vậy, người Việt hải ngoại thuộc hai cộng đồng bắc, nam vẫn có thể khởi đầu tiến trình hoà hợp bằng việc thực hiện một số công việc cụ thể có lợi cho chính cộng đồng của riêng mình, đó là tiêu diệt tội phạm trồng cần sa và buôn người dưới dạng xuất khẩu lao động phát xuất từ Việt Nam.

Cũng trong những bài trước, độc giả đã thấy tội phạm trồng cần sa và buôn người của người Việt miền bắc đang là tại hoạ cho Âu châu, Canada và Úc. Người Việt thì biết rằng tệ trạng này đa số do người miền bắc chủ trì, nhưng đối với người sắc tộc khác thì họ không thể và cũng không cần biết các thủ phạm là người Việt miền nam hay miền bắc. Dưới con mắt họ, tất cả thủ phạm đều là “bọn” Việt Nam. Tại Âu Châu, Canada và Úc nơi tệ nạn người miền bắc trồng cần sa tràn lan, người Việt nói chung bị các sắc tộc khác rất coi thường, nếu không muốn dùng một từ mô tả đúng nghĩa là “khinh bỉ”. Thêm nữa tệ nạn trồng cần sa gây thiệt hại cho chính cộng đồng bởi vì với lợi tức to lớn kiếm được một cách dể dàng và nhanh chóng như thế, giới trẻ lớn lên sẽ bị ảnh hưởng xấu, không thích đi vào con đường học hành bởi vì học cho mấy cũng không thể kiếm được lợi tức như trồng cần sa. Tệ nạn này cũng gây thiệt hại cho hàng ngàn gia đình nghèo khổ ở quê nhà đang bị bọn mafia mà khởi đầu là chính quyền địa phương lừa bịp đưa sang Anh Quốc lao động khổ sai sống đời bất hợp pháp không biết ngày nào mới được giải thoát. Bởi vậy việc tiêu trừ nạn trồng cần sa và buôn người mang lại lợi ích thiết thực cho cả hai cộng đồng. Chính điểm hội tụ lợi ích này có thể giúp hai cộng đồng cùng sinh tồn song hành và dần dần đi tới hoà hợp.

Hiện nay, chỉ tại những quốc gia nhỏ bé, ít dân số tại bắc Âu, người Việt hai miền mới có giao thiệp với nhau, nhưng chỉ ở mức độ cá nhân với cá nhân chứ không ở trong một tổ chức chung. Tại những quốc gia đông dân như Anh, Pháp, Đức, Canada, Úc và Hoa Kỳ, hai cộng đồng người Việt bắc, nam hoàn toàn sống tách biệt nhau (chưa công khai đâm chém nhau là may rồi.) Việc cùng nhau hợp tác trong công tác tận diệt tội phạm trồng cần sa và buôn người cũng rất khó. Chỉ có một cách là mỗi cộng đồng thực hiện công tác đó theo phương cách riêng. Và rồi hy vọng theo thời gian hai cộng đồng dần dần tiến tới gần gũi nhau cùng với quá trình tiêu vong của đảng cộng sản cầm quyền trong nước. Dứt khoát không thể có hoà hợp giữa hai cộng đồng người Việt bắc, nam nếu cộng đồng miền bắc tiếp tục dung dưỡng, phát huy tội phạm trồng cần sa và buôn người từ Việt nam sang bất hợp pháp.

Để thực hiện công tác tiêu diệt bọn tội phạm trồng cần sa và buôn người, việc đầu tiên là phải phổ biến mạnh mẽ chủ trương đó. Mỗi ban đại diện cộng đồng cần phải ghi vào chương trình hành động chủ trương chống tệ nạn trồng cần sa và buôn người. Việc phổ biến chủ trương này hết sức quan trọng cho việc thành công của công tác bởi vì đó là một tuyên chiến, một bày tỏ ý chí quyết liệt của cộng đồng chống lại bọn mafia, đầu gấu. Một khi cộng đồng bày tỏ sự quyết liệt thì đầu gấu phải e-dè. Cũng tương tự trong chiến lược chống cộng mà ông Brzezinski, cựu cố vấn an ninh quốc gia của tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter (1977-1981) chủ trương: Phải đánh gục ý chí và khả năng chống đối của đối phương (cộng sản). (1)

Việc phổ biến chủ trương  tiêu diệt bọn tội phạm trồng cần sa và buôn người sẽ đưa tới 3 hậu quả hữu ích: 1-Cơ quan công lực địa phương có thêm một chỗ dựa vững chắc vào quần chúng trong khu vực. Đây là điều cơ quan công lực nào cũng mong muốn và là điều cơ bản mang lại an ninh, trật tự. Tại Hoa Kỳ, ở những khu vực an toàn, thường thấy có sự hiện diện của những tổ chức “an ninh khu xóm” (neighborhood watch) do cảnh sát giúp xây dựng. Những tổ chức này là tai mắt cho cảnh sát và cảnh sát quyết tâm bảo vệ những tổ chức này. Tại những khu vực tội phạm gia tăng, cảnh sát cũng vận động dân chúng xây dựng và tham gia các tổ chức này để làm nền tảng cho công tác tiễu trừ tội phạm. 2-Các thành viên tốt trong cộng đồng sẽ không cảm thấy đơn độc và sẵn sàng tham gia vào việc tiêu trừ tội phạm. 3-Các tên tội phạm trồng cần sa hay buôn người sẽ bị đẩy vào một trong ba tình huống thụ động: hoặc thu nhỏ hoạt động, hoặc di chuyển hoạt động ra khỏi khu vực, hoặc tập trung lực lượng  đương đầu với chiến dịch chống tội phạm của nhân viên công lực. Cả ba tình huống đều đẩy bọn chúng vào con đường tiêu vong.

Việc phổ biến chủ trương chống tệ nạn trồng cần sa và buôn người cũng là thước đo khả năng phục vụ cộng đồng của thành phần đại diện, mà cũng là thước đo tầm mức mafia, đầu gấu không chế cộng đồng. Một ban đại diện không dám phổ biến chủ trương này chứng tỏ cộng đồng đang bị bị đám trùm mafia, đầu gấu không chế như trong tình trạng các trại tị nạn của người miền bắc ở Hồng Kông. Nếu tình trạng xấu này xảy ra thì cần có một vài cá nhân có tâm huyết bí mật thu thập tin tức cung cấp cho nhân viên công lực giúp nhân viên công lực tấn công vào thành trì của tội phạm.

Song song với việc phổ biến chủ trương chống tệ nạn trồng cần sa và buôn người, ban đại diện cần có bộ phận liên lạc với chính quyền, cơ quan công lực, để đề nghị hợp tác và đề nghị những kế hoạch thiết thực. Chỉ có cơ quan công lực mới có tư cách pháp lý và phương tiện tiêu diệt tội phạm. Nhưng công việc đó chỉ thành công nếu có đủ tin tức tình báo. Lãnh vực này cần sự cộng tác của

cộng đồng dân chúng liên hệ. Thiếu tin tức tình báo, thiếu sự hỗ trợ của dân chúng, nỗ lực chống tội phạm sẽ không thể thành công, cho dù đó chỉ là một việc đơn giản nhất, là xác định danh tánh một nạn nhân bị mafia sát hại, như trong những bài trước đã cho thấy.

Tuy nhiên ban đại diện cộng đồng không nên và không thể đi vào công việc cụ thể như đặt đường giây nóng thu thập các báo cáo của thành viên cộng đồng hay cung cấp thông dịch viên như ban đại diện cộng đồng tại Balan đang thực hiện. (2) Lý do là không có gì chứng tỏ người được ban đại diện cộng đồng giao phó nhiệm vụ là người tốt hay không bị mafia đe dọa không chế. Nhất là tình trạng hiện nay băng đảng gốc Việt đang chế ngự hoàn toàn kỹ nghệ trồng cần sa trên khắp Âu châu, Canada và Úc. Đây cũng là nhận định của chị Mạc Việt Hồng, trong bài “Nhức nhối vấn nạn trồng cần sa ở Ba Lan” đăng trên Đàn Chim Việt ngày 22/02/10. Mạc Việt Hồng viết, “Ngay sau khi những vụ trồng cần sa đầu tiên bị đưa ra ánh sáng, hội Đoàn Kết Hữu Nghị và Đại Sứ Quán Việt Nam ở Ba lan đã họp bàn biện pháp đối phó với tệ nạn này. Số điện thoại của ông hội trưởng và  ông Lãnh sự được thông báo tới cộng đồng để thu thập các tin báo liên quan tới vấn đề trồng cần sa. Điều đó cũng tốt, nhưng có lẽ nó không phải là một biện pháp hiệu quả. Ai có thể đảm bảo an toàn cho những người báo tin, chắc chắn không phải là ông chủ tịch hội hay ngài Lãnh sự.” Nhận định của chị Mạc Việt Hồng đúng với thực tế các viên chức nhà nước Việt nam: chính họ là thành phần mafia.

Bởi thế ban đại diện cộng đồng chỉ nên đóng vai trò tư vấn cho chính quyền với những phân tích, nhận định về hiện tượng và chiến thuật đối phó. Ví dụ hiện tượng các chủ của những căn nhà có trồng cần sa là thủ phạm chính nhưng chúng tránh né được luật pháp nhân đạo của các nước văn minh bằng cách viết những khế ước cho thuê nhà giả mạo với tên và lý lịch người thuê không thực để tới khi bị phát hiện thì nhà chức trách không bắt được người thuê (có người thuê thực sự đâu mà bắt!) mà chỉ bắt được người làm công là những di dân bất hợp pháp, nạn nhân của bọn buôn người. Trong bài “Wales Cảnh Báo Chủ Nhà Về Tội Phạm Cần Sa” của ban Việt Ngữ đài BBC ngày 19/8/2009 tác giả viết nguyên văn, “Một trong những người cho thuê nhà bị dùng trồng cần sa nói nhà ông bị hư hại và phải sửa chữa mất 3.000 bảng Anh.” Bài báo viết tiếp, “Một chủ nhà muốn ẩn danh nói: “Tôi tưởng tôi cho bốn sinh viên thuê nhà và họ đã trả tiền thuê trước ba tháng. Chỉ khi cảnh sát thông báo thì tôi mới biết chuyện.” Thực sự ra người Việt Nam nào đọc tới đây cũng đều nghĩ ngay hầu như chắc chắn hai người chủ nhà này chính là thủ phạm đầu não lọt lưới pháp luật. Như vậy ban đại diện cộng đồng địa phương cần phải giải thích rõ sự lọt lưới này để nhà chức trách tìm cách đối phó hữu hiệu hơn.

Một điều quan trọng thứ nhì là người phiên dịch không được cho gặp người cung cấp tin tức. Làm sao tin được rằng người phiên dịch không đang bị mafia áp chế hay chính người phiên dịch không là mafia? Có nhiều cách để người phiên dịch không trông thấy người cung cấp tin tức mà vẫn phiên dịch được. Cho tới nay thì ít ra hai yếu tố quan trọng này trong chiến dịch chống tội phạm trồng cần sa và buôn người trong cộng đồng Việt chưa được ban đại diện giải thích cho nhà chức trách. Bởi thế trong vụ mới nhất tại London, Anh Quốc, bọn chủ nhà đã không bị bắt mà còn được công ty bảo hiểm nhà đất bồi thường tiền sửa chữa những căn nhà do chính chúng thiết kế bên trong để trồng cần sa. Bản tin “Wales cảnh báo chủ nhà về tội phạm cần sa” ở trên viết rằng, “Cảnh sát khuyến cáo người có nhà cho thuê đề phòng cảnh giác nhà của họ bị dùng để sản xuất ma túy.” Bản tin viết tiếp, “…Người phát ngôn cảnh sát nói thêm: “Giới kinh doanh bất động sản, chủ nhà phải đề phỏng rủi ro thiệt hại lớn về tài sản từ hoạt động sản xuất này.” Nội dung tin như thế chứng tỏ cảnh sát xứ Wales không được cộng đồng người Việt tại đây hỗ trợ, cung cấp thông tin cho biết rằng chính chủ nhà là kẻ chủ mưu trong tất cả mọi cơ sở trồng cần sa.

Chủ trương thì phải công khai nhưng kế hoạch thì cần bí mật. Chống tội phạm nhất là loại tội phạm có tổ chức (organized crime) cần phải hết sức bí mật như là chống mạng lưới khủng bố. Lực lượng tấn công bọn tội phạm phải là nhân viên công lực chứ không phải là quần chúng. Nhưng như trong mọi cuộc tấn công quân sự, tin tức tình báo là quan trọng hàng đầu. Trong binh pháp gọi đó là tình báo chiến. Tin tức tình báo chính xác quyết định sự thành công của chiến dịch. Chính trong lãnh vực này, các thành viên cộng đồng có thể đóng góp một cách hữu hiệu. Để có những tin tức tình báo tốt, nguồn tin tình báo cần được bảo vệ hoàn toàn bí mật. Bởi thế người cung cấp thông tin cần được hướng dẫn liên lạc trực tiếp với cảnh sát chứ không với một ai khác, cho dù đó là ông hội trưởng cộng đồng hay ông tổng lãnh sự. Tác giả Mạc Việt Hồng đã tỏ ra am tường tình trạng tội phạm trồng cần sa của người Việt tại Ba Lan khi bà viết, “Thiết nghĩ, việc hướng dẫn cộng đồng báo tin trực tiếp cho cơ quan cảnh sát có lẽ sẽ là giải pháp hiệu quả và an toàn hơn?”

Các thành viên tốt trong cộng đồng cần nhận thức rằng việc tham gia vào công tác tiêu trừ tội phạm trồng cần sa và buôn người là  một công tác quan trọng mang lại an ninh cho chính gia đình mình. Như tôi đã trình bày, trong suốt 3 năm 8 tháng, tôi tích cực tham gia mọi sinh hoạt cộng đồng tại trại cấm Hồng Kông và Bataan ở Philippines là vì tôi ý thức được rằng, nếu mình không đóng góp vào việc  duy trì an ninh trong trại thì không sớm thì muộn an ninh bản thân và gia đình sẽ bị đe dọa. Sự tích cực của cá nhân tôi và  những người suy nghĩ, hành động như tôi đã chứng tỏ là một suy nghĩ và hành động đúng khi trong suốt gần bốn năm, tại những trại tị nạn tôi trải qua, không có một xung đột nào giữa hai cộng đồng thuyền nhân bắc, nam. Trong khi ở những trại khác thì bạo động gây thương vong tràn lan.

Tùy hoàn cảnh, mà hình thức và mức độ đóng góp của mỗi thành viên có thể khác nhau. Bản chất tin tức tình báo của quần chúng khác bản chất một tin tức tình báo chuyên nghiệp. Tin tức tình báo của quần chúng không phải luôn luôn cần đầy đủ. Mọi mảnh tin tức đều hữu ích cho nhân viên công lực. Có nghĩa là mọi cố gắng lớn nhỏ của tất cả mọi thành viên cộng đồng đều đóng góp vào việc xây dựng an ninh chung. Nỗ lực thu thập tin tức tình báo về bọn trồng cần sa và buôn người không cần sự kết hợp của nhiều người. Sự kết hợp của trên hai người nhiều khi mang lại sự nguy hiểm cho bản thân. Chỉ cần những cố gắng đơn độc, âm thầm cũng giúp tiêu diệt tận gốc rễ tội phạm. Nếu trong một cộng đồng có được hai hay ba cá nhân bí mật thu thập tin tức tội phạm một cách riêng biệt cũng đủ xóa sạch bọn tội phạm trong thời gian ngắn. Thậm chí chỉ cần có một người thực hiện cố gắng này cũng giúp truy quét bọn tội phạm. Câu chuyện một cá nhân thu thập tin tức giúp nhân viên công lực chống tệ nạn buôn người tại Kampuchia dưới đây là một ví dụ. Trong bản tin “Người đàn ông bí mật chống tệ nạn nô lệ tình dục trẻ em” (Man goes undercover to combat child sex slavery) của CNN ngày 9/2/2010, tác giả Leif Coorlim viết, “Phnom Penh, Cambodia (CNN) — Aaron Cohen hoạt động bí mật thu thập tin tức cần thiết cho nhân viên công lực thực hiện các cuộc đột kích và bắt giữ…Tôi hoạt động như là kẻ tội phạm tình dục bí mật…Tôi giả dạng làm một du khách tình dục, đi từ quán karaoke này tới quán karaoke khác, từ nhà đấm bóp này tới nhà đấm bóp khác, tìm các thiếu nữ phục vụ vị thành niên, để xem liệu có thể thu hình lúc họ gạ gẫm tôi chơi bời hay không.” Bài báo viết tiếp, “Cohen cho biết ông ta mời nhiều người bạn làm việc tại gần nơi ở của các nạn nhân tới tham gia. Họ cũng giả dạng là những người đi mua vui, cho tới khi Cohen cảm thấy thoải mái hỏi người quản lý quán bar một câu quan trọng. “Sau khi các cô gái này bắt đầu ca múa, tôi hỏi người chăn dắt gái là ngoài karaoke tôi có thể có thêm gì vui không thì bà ta trả lời ngay, “Ồ! chơi bời thì $50 đô Mỹ.” Cohen đã dùng đoạn phim thu hình cảnh gạ gẫm tối hôm đó, thu bằng máy điện thoại di động, để cung cấp cho cảnh sát những tin tức giúp họ thực  hiện cuộc bố ráp nhà chứa gái giả nhà hát Karaoke đó. Ngay đêm đó hơn một chục cô gái được giải thoát…”

Công việc tiêu diệt tệ nạn trồng cần sa và buôn người của bọn mafia, đầu gấu cũng cần được cộng đồng thực hiện như trong đoạn báo vừa nêu. Đó là hoạt động vừa mang lại lợi ích cho chính gia đình mình, cho cộng đồng mình, và cho người Việt hải ngoại nói chung. Đó chính là con đường dần dần đi tới hòa hợp nam bắc tại hải ngoại.

Nguyễn Tường Tâm
__________________________
Ghi chú: danh từ “Người miền bắc” trong loạt bài này chỉ những người bắc còn ở lại Hà nội sau năm 1954 và những người vào miền nam sau ngày 30-4-1975, kể cả con cháu họ, cho dù sinh trưởng tại miền nam sau đó.
Phần trước:

Nam Bắc phân tranh sau 1975 [1]
Nam Bắc phân tranh sau 1975 [2]
Nam Bắc phân tranh sau 1975 [3]
Nam Bắc phân tranh sau 1975 [4]
Nam Bắc phân tranh sau 1975 [5]
Nam Bắc phân tranh sau 1975 [6]

(1): tác giả đọc được chiến lược này  của ông Brzezinski trong một bài báo của cộng sản chỉ trích ông ta khi tác giả còn ở trong tù cải tạo vào đầu thập niên 1980.
(2) “Nhức nhối vấn nạn trồng cần sa ở Ba Lan” đăng trên Đàn Chim Việt ngày 22/02/10, của chị Mạc Việt Hồng.

ĐỨC TGM NGÔ QUANG KIỆT TỪ GIẢ GIÁO DÂN

TRĂM HOA ĐUA NỞ TRÊN ĐẤT BẮC (bài 1)

HOÀNG VĂN CHÍ 

  “… Nhược bằng bắt mọi người viết phải viết theo một lối với mình, thì rồi đến một ngày kia, hàng trăm thứ hoa cúc đều phải nở ra cúc vạn thọ hết.” (Phan Khôi)

Mục lục

Lời tựa

Phần I: Cuộc nổi dậy của trí thức ở miền Bắc

Chương I: Nguyên nhân cuộc nổi dậy của trí thức ở miền Bắc
Chương II: Lịch trình đấu tranh của trí thức ở miền Bắc
Chương III: Phương pháp đấu tranh của trí thức ở miền Bắc

Phần II: Tài liệu (Nhân vật và Tác phẩm)

I. Phái cựu học

Cụ Phan Khôi

  • Giới thiệu cụ Phan Khôi
  • Phê bình lãnh đạo văn nghệ
  • Tìm ưu điểm (ngụ ngôn)
  • Ông Bình Vôi
  • Ông Năm Chuột (truyện ngắn)
  • Nắng chiều

II. Phái thanh niên

Trần Dần

  • Giới thiệu Trần Dần
  • Nhất định thắng (thơ)
  • Hãy đi mãi (thơ)

Phùng Quán

  • Giới thiệu Phùng Quán
  • Chống tham ô lãng phí (thơ)
  • Lời mẹ dặn (thơ)

Tạ Hữu Thiện

  • Giới thiệu Tạ Hữu Thiện
  • Tôi tìm em (thơ)

Bùi Quang Đoài

  • Giới thiệu Bùi Quang Đoài
  • Lịch sử một câu chuyện tình (truyện ngắn)
  • Chủ nghĩa nhân văn của ông Hoàng Xuân Nhị (bút chiến

Minh Hoàng

  • Giới thiệu Minh Hoàng
  • Đống máy (truyện ngắn)

Phùng Cung

  • Giới thiệu Phùng Cung
  • Con ngựa già của chúa Trịnh (truyện ngắn)

Trần Lê Văn

  • Giới thiệu Trần Lê Văn
  • Bức thư gửi một người bạn cũ

Hoàng Tích Linh

  • Giới thiệu Hoàng Tích Linh
  • Xem mặt vợ (kịch ngắn một hồi)
  • Cơm mới (kịch một hồi)

III. Các nhà văn đứng tuổi

Tồ Hữu

  • Giới thiệu Tố Hữu
  • Bài ca tháng Mười (thơ)
  • Đời đời nhớ Ông (thơ)

Nguyễn Tuân

  • Giới thiệu Nguyễn Tuân
  • Phở (tuý bút)
  • Phê bình nhất địnnh là khó
  • Nguyễn Tuân tự phê bình

Văn Cao

  • Giới thiệu văn Cao
  • Anh có nghe không (thơ)
  • Những ngày báo hiệu mùa xuân (trích trong bài thơ dài “Những người trên cửa biển”)

Trần Duy

  • Giới thiệu Trần Duy
  • Những người khổng lồ
  • Thành thật đấu tranh cho tự do dân chủ

Hoàng Cầm

  • Giới thiệu Hoàng Cầm
  • Em bé lên sáu tuổi (thơ)
  • Tiếng hát (trích 2 đoạn trong hồi thứ nhất vở kịch thơ dài Tiếng hát Trương Chi)

Hữu Loan

  • Giới thiệu Hữu Loan
  • Cũng những thằng nịnh hót (thơ)
  • Lộn sòng (truyện ngắn)

Sỹ Ngọc

  • Giới thiệu Sỹ Ngọc
  • Làm cho hoa nở bốn mùa
  • Bất mãn

Chu Ngọc

  • Giới thiệu Chu Ngọc
  • Chúng ta gắng nuôi con (hoạt cảnh)

Như Mai

  • Giới thiệu Như Mai
  • Thi sĩ máy

IV. Các nhà học giả

Đào Duy Anh

  • Giới thiệu Đào Duy Anh
  • Muốn phát triển học thuật

Trần Đức Thảo

  • Giới thiệu Trần Đức Thảo
  • Nội dung xã hội và hình thức tự do
  • Nỗ lực phát triển tự do dân chủ

Nguyễn Mạnh Tường

  • Giới thiệu Nguyễn Mạnh Tường
  • Qua những sai lầm trong Cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo
  • Vừa khóc vừa cười

    Lời tựa

Trăm hoa đua nở, Trăm nhà (1)đua tiếng là dịch nôm câu chữ Hán: Bách hoa tề phóng, bách gia tranh minh, trong cổ văn.

Đây là một câu mà các học giả đời Hán đặt ra để vừa ca tụng vừa tỏ ý luyến tiếc nền văn học cổ điển của Trung Quốc, sáng ngời trong mấy thế kỷ trước, về thời Đông Chu.

Văn học Trung Hoa về thời Đông Chu quả thật xứng đáng cho các thế hệ sau ca ngợi, vì trong vòng ba thế kỷ (từ thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 3 trước Tây lịch kỷ nguyên), các học giả thời Đông Chu đã đưa nền văn học Trung Quốc từ chỗ thấp nhất đến chỗ cao nhất mà hai nghìn năm sau, không tài nào vươn tới.

Gần như cùng một lúc, Lão học, Khổng học và Mạc học đua nhau ra đời, tiếp theo là những học thuyết uyên thâm của Mạnh Tử, Tuân Tử và Dương Chu. Có thể nói được rằng hầu hết các lý thuyết hiện nay còn đương tranh giành ảnh hưởng trong nhân loại, như chủ nghĩa dân chủ, lãng mạn, vô chính phủ, duy vật, xã hội, quân chủ chuyên chế, quân chủ lập hiến, phát xít, v.v… đều đã có đại diện từ thời bấy giờ. Tính theo thời gian thì nền văn học Trung Quốc đã bỏ xa nền văn học Âu châu vào khoảng 20 thế kỷ.

Vì vậy nên ngày nay, những học giả nghiên cứu về lịch sử văn hoá Á đông đều phải thắc mắc về một điểm: Tại sao một nền văn hoá đương phát triển một cách tốt đẹp như vậy lại bỗng nhiên đứng dừng lại, khiến trong suốt hai nghìn năm về sau, Trung Quốc chỉ có lùi mà không có tiến về phương diện tư tưởng?

Ông Tibor Mende, một nhà học giả Tây phương, chuyên nghiên cứu về các vấn đề Á đông, đã ví nền văn hoá Trung Quốc và Ấn Độ như hai con sông lớn, đã mang sinh lực tưới khắp miền Đông Nam Á, bỗng dưng bị cạn hết nước. Nguyên nhân gì đã làm tịt ngòi? Ông nêu ra câu hỏi mà không trả lời.(2)
Nói một cách rõ ràng hơn thì: Tại sao về thời Đông Chu lại có Khổng, Mạnh, Lão, Mạc,.. mà hai nghìn năm sau không có vị thánh hiền nào cả? Hoặc dùng một hình ảnh tượng trưng thì: tại sao trong một thời đại loạn ly như thời Xuân Thu, Chiến Quốc, trăm hoa lại đua nở mà từ thời ấy về sau hoa lại không nở?

Chúng tôi nghĩ rằng nếu ôn lại lịch sử chính trị Trung Quốc, chúng ta có thể tìm ra câu giải đáp.

Về thời Đông Chu, Trung Quốc bị phân chia thành nhiều nước chư hầu, luôn luôn đánh nhau để tranh giành ngôi bá chủ, nên nước nào cũng lo thu phục nhân tài để mở mang thế lực. Vì vậy nên kẻ sĩ đương thời được trọng đãi. Một mặt khác vì nước nào cũng yếu, nên không ông vua nào có đủ quyền lực để thiết lập chế độ độc tài. Do đó ngôn luận không bị kiềm chế vì các nhà học giả, nếu chẳng may bị vua chúa trong nước khủng bố vì tội đã phát biểu một ý kiến trái ngược với đường lối của triều đình, thì cũng dễ dàng vượt biên giới chạy sang nước đối nghịch, có người sẵn sàng dung nạp ngay. Vì vậy nên mới có quang cảnh “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng“. Nếu hoa không nở được ở khí hậu này, có thể nở được ở khí hậu khác. Nếu một học giả không phổ biến được tư tưởng của mình ở Tề, thì có thể di cư sang Sở chẳng hạn, để truyền bá học thuyết của mình.

Thời Đông Chu tuy là một thời loạn lạc, nhưng chính vì loạn lạc mà tư tưởng không bị kiểm soát.
Trái lại, sau khi Thương Ưởng đưa ra thuyết quân chủ chuyên chế và Lý Tư, học trò của Thương Ưởng giúp Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Quốc, thì từ ngày ấy về sau không một vị thánh hiền nào xuất hiện trên đất Trung Quốc nữa. Một lẽ rất dễ hiểu là không có tự do tư tưởng thì không có nhà tư tưởng, cũng như hễ không có nước thì không thể nào có cá được.

Lý Tư, môn đệ của phái Pháp gia, được Tần Thuỷ Hoàng bổ làm Thượng thư, làm sớ tâu đại khái như sau:

Từ trước tới nay, thiên hạ sống trong cảnh phân chia, nên tư tưởng bị hỗn loạn… Ngày nay Bệ hạ đã thống nhất sơn hà mà vẫn còn nhiều người ngang nhiên mở trường dạy học, mang ý kiến riêng của mình ra chê bai luật pháp và chính sách của triều đình… Nếu Bệ hạ không mau ngăn cấm thì kỷ cương sẽ sụp đổ từ trên xuống dưới và đảng phái sẽ mọc từ dưới lên trên.”

Năm 213 trước Tây lịch, Tần Thuỷ Hoàng nghe theo Lý Tư đốt hết sách vở có phương hại đến đường lối của Tần triều và chôn sống 460 nhà trí thức đối lập. (3)Họ bị chôn sống vì bờ cõi của đế quốc Tần rộng quá, không tài nào chạy thoát. Từ ngày ấy Trung Quốc có một chính phủ duy nhất, một luật pháp duy nhất, nhưng cũng có một lối nghĩ duy nhất. Trăm hoa hết đua nở và trăm nhà đều im tiếng.

Sau Tần đến Hán. Các vua triều Hán, khôn ngoan hơn vua Tần, không cấm đoán tư tưởng, nhưng hạn chế tư tưởng bằng cách đưa Khổng giáo lên địa vị quốc giáo, khiến các học thuyết khác phải lùi bước. Triều đình chỉ tuyển lựa những người thông hiểu Ngũ kinh, Tứ thư để bổ làm quan lại, nên Nho học trở thành bậc thang cho giới trí thức bước lên đàn sĩ hoạn. (4) Nhưng cũng vì vậy mà triết lý của Khổng Tử bị xuyên tạc và Khổng học chỉ còn là một lợi khí của giới thống trị. Nói theo kiểu cụ Phan Khôi thì “Trăm hoa” đã trở thành hoa cúc vạn thọ hết thẩy. (5)

Suốt trong 20 thế kỷ về sau, trí thức Trung Hoa luôn luôn bị khủng bố. Tư Mã Thiên bị thiến, Ban Cố bị chết trong ngục, Phạm Việp vị xử tử… cho đến người cuối là Lương Khải Siêu, phải chạy sang Nhật Bản mới thoát thân.

Từ ngày ông Mao Trạch Đông lên kế nghiệp Tần Thuỷ Hoàng, ông đã giết Hồ Phong, và nhiều học giả khác, nhưng gần đây ông lại tuyên bố cho phép “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng“.
Không ai biết rõ chủ định của ông Mao như thế nào, nhưng mọi người đều nhận thấy rằng trên toàn cõi Trung cộng hiện nay, không có thứ hoa nào khác hơn là hoa Mác-Xít.

Tóm lại dù là chuyên chế kiểu quân chủ hay kiểu cộng sản, chế độ tập quyền vẫn tiêu diệt tự do tư tưởng. Ngày nay cũng như suốt hai nghìn năm về trước, trí thức Trung Hoa vẫn bị bịt mồm, bịt miệng.

Từ ngày Bắc Việt trở thành một “vệ tinh” của khối cộng sản, trí thức ở Bắc Việt cũng lâm vào tình trạng chung của đồng bạn ở khắp trong bức màn sắt.

Nhưng “40 năm một thuở”, trong dịp hạ bệ Stalin vừa qua, họ đều đứng dậy đấu tranh chống Đảng, đòi phục hồi quyền tự do tư tưởng. Trong phong trào quật khởi này, trí thức ở Bắc Việt cũng đã góp một phần quan trọng. Suốt trong thời gian hai năm, 1956 và 1957, trí thức ở miền Bắc đã sản xuất trên một trăm bản văn có giá trị. Cộng sản coi những bản văn ấy là những “cỏ độc“, nhưng chúng tôi coi những tác phẩm của họ như một “trăm hoa” thực sự.

Vì vậy nên chúng tôi sưu tầm và kết lại thành một “bó hoa” để cống hiến độc giả, hòng góp sức vào công việc làm sáng tỏ thêm nền văn học hiện đại của dân tộc Việt Nam.

Đối với độc giả trong Thế giới Tự do chúng tôi cũng muốn nói một câu: Không nên nghĩ rằng cần phải chuyên chế mới có đủ phương tiện để thực hiện những công trình vĩ đại, vì xưa kia Tần Thuỷ Hoàng cũng đã thực hiện những công cuộc vĩ đại, xây đắp Vạn lý Trường thành, thiết lập xa lộ, thế mà nhà Tần vẫn bị mất nghiệp; một mặt khác, chính vì Tần Thuỷ Hoàng khởi đầu việc đàn áp tư tưởng mà văn hoá Trung Quốc đã bị đứng dừng trong hai ngàn năm nay. Lợi nhất thời không bằng hại muôn thuở.

Saigon, tháng Giêng 1959
Hoàng Văn Chí
Trưởng ban biên tập của
Mặt trận Bảo vệ Tự do Văn hoá

Phần I: Cuộc nổi dậy của trí thức ở miền Bắc
Chương 1: Nguyên nhân cuộc nổi dậy của trí thức ở miền Bắc

Trí thức ở miền Bắc Việt Nam đã nổi dậy chống lại chế độ cộng sản từ mùa Xuân năm 1956 mà mãi đến cuối Thu năm ấy báo chí ở Sài Gòn mới được tin vì nhà cầm quyền miền Bắc đã dùng mọi biện pháp để cố tình bưng bít một cuộc nội biến đánh dấu sự suy sụp của hệ thống tư tưởng cộng sản. Suốt trong thời gian mấy tháng, trong khi trí thức ở miền Bắc đã anh dũng vùng dậy đánh những đòn chí mạng vào uy tín của Đảng thì báo chí và đài phát thanh của Đảng hoàn toàn làm ngơ. Đảng chỉ mải miết dùng lực lượng công an để đe doạ những người đọc báo, bán báo và ra lệnh cho công đoàn xui giục công nhân nhà in không in báo đối lập.

Cho mãi đến khi những “đòn ngầm” đó không hạ nổi địch thủ, và cũng đến khi phe đối lập dồn Đảng vào chân tường, không có thế lui, Đảng mới chỉ thị cho các đoàn thể ở khắp mọi nơi viết kiến nghị đòi đóng cửa các báo đối lập. Chính những lúc kiến nghị đồng loạt đó xuất hiện trên mặt báo Nhân dân, thì dư luận ở Sài Gòn mới biết là có báo đối lập ở miền Bắc. Chỉ một tháng sau thông tín viên hãng AFP ở Hà Nội loan tin cho thế giới biết việc nông dân ở Nghệ An đã bạo động nổi dậy, dùng gậy tre và những võ khí thô sơ khác đánh nhau với bộ đội. Tin đó làm nhiều người sửng sốt.

Sửng sốt là phải, vì trước đó một tháng các báo chí của Đảng và đài phát thanh Hà Nội hãy còn say sưa ca khúc khải hoàn sau đợt Cải cách ruộng đất “hoàn toàn thắng lợi”.

Đùng một cái, ông Trường Chinh, Tổng Bí thư Đảng, ông Hồ Viết Thắng, Thứ trưởng phụ trách Cải cách ruộng đất đột nhiên bị cất chức: ông Võ Nguyên Giáp phải đứng ra thay mặt Trung ương Đảng công khai thú nhận sai lầm và hứa hẹn sửa chữa. Tiếp đến là tin cán bộ tập kết phá bóp cảnh sát Bờ Hồ, tin học sinh tập kết khởi loạn ở Ngã Tư sở, và cuối cùng là “vụ Quỳnh Lưu”.

Nhiều người ở Sài Gòn không ngờ có những chuyện lạ lùng như vậy. Ngạc nhiên trước tiên là số người trước kia có tham gia kháng chiến, và hiện còn lưu luyến chiến khu. Họ không phân biệt kháng chiến với cộng sản, nên cứ yên trí rằng chế độ miền Bắc thực sự là chế độ “dân chủ cộng hoà” và ông Hồ là một người chân thành ái quốc. Họ cũng đinh ninh rằng những phần tử nhiệt thành như họ, trước kia đã tích cực tham gia kháng chiến thì ngày nay vẫn phục vụ chính sách của “Bác” cho đến cùng. Họ không ngờ rằng “giá” họ được đi tập kết thì chính họ cũng sẽ phải dự vào cuộc phá bóp cảnh sát Bờ Hồ (Hà Nội) để giải thoát cho một số “tập kết” bị giam cùm trong đó.

Những người thông thường, có đôi chút kinh nghiệm đau xót với cộng sản, kể cả những đồng bào Bắc Việt di cư cũng không ngờ rằng trong một thời gian không đầy hai năm tình hình ở nơi quê cha đất tổ có sự thay đổi quá nhanh chóng như vậy. Họ nhớ ngày nào quân đội của “Cụ” kéo vào chiếm đóng Hà Nội, nhân dân thủ đô còn đón rước tưng bừng. Nào cờ quạt, nào biểu ngữ, nào cổng chào, nào kéo nhau đi xem văn công, (6) xem triển lãm. Họ không ngờ rằng chỉ một năm sau khi họ bỏ nhà cửa ra đi, bộ đội oai hùng đó lại bị chính ngay nông dân vác gậy phang vỡ đầu.

Giới quan sát ở Sài Gòn thì không ngạc nhiên khi nhận được những tin tức kể trên. Họ đã tiên đoán rằng sớm muộn thế nào cộng sản cũng phải “sửa sai” để vớt vát lòng dân vì từ năm 1926 Mao Trạch Đông, trong bài “Cuộc đấu tranh của nông dân Hồ Nam” đã chủ trương rằng: “Muốn nắn một vật cong thì phải nắn quá mức, để khi buông tay ra thì vừa”. Nhưng phải thú thực rằng ít người ngờ rằng khi buông tay ra, vật cong đó lại bật trở lại quá mạnh, và bật đúng vào mặt người đã “uốn quá mức”.

Vì dân tộc Việt Nam vốn dĩ là một dân tộc có truyền thống chịu đựng để tồn tại. Trong khi chịu đựng, họ luôn luôn chăm chú chờ dịp kẻ thù yếu thế là lập tức quật trở lại. Đối với cộng sản ngày nay cũng như đối với phong kiến Trung Quốc thuở xưa, dân Việt Nam vẫn dùng chính sách dĩ nhu nhược thắng cương cường. Họ giả vờ gãi đầu gãi tai, vâng vâng, dạ dạ, làm cho kẻ thống trị ăn no ngủ yên, lâu ngày sinh ra chủ quan khinh địch. Bệnh chủ quan này người Hán, người Minh, người Pháp ngày xưa đã mắc phải. Ngày nay Việt cộng và các cố vấn “vĩ đại” cũng không sao tránh được.

Vì nếu thực dân và đế quốc có chủ quan của thực dân đế quốc, thì cộng sản cũng có chủ quan đặc biệt của cộng sản. Mặc dù đã học thuộc biện chứng pháp, họ vẫn quên không nhớ rằng mọi vật đều biến chuyển, nên chi họ không ngờ rằng ngay trong hàng ngũ của họ đã phát sinh ra những “mâu thuẫn đối kháng” đưa dần đến sự “huỷ thể của huỷ thể”.

Nói một cách khác, Việt cộng không tính đến hai việc: Một việc là giới trí thức đã tham gia kháng chiến dưới quyền lãnh đạo của họ lại dám ngang nhiên nổi dậy chống họ, hai là họ không ngờ rằng đồng chí Khrushchev lại “nỡ lòng” hạ bệ cố đồng chí Stalin vĩ đại.

Chúng ta thử xét xem hai việc này có liên quan mật thiết như thế nào.

*

Nguyên nhân của mọi cuộc cách mạng đều có thể chia làm hai loại: Khách quan và chủ quan.

Những nguyên nhân khách quan là những biến chuyển quốc tế quốc nội đột nhiên làm giảm uy thế của giai cấp thống trị và nguyên nhân chủ quan là đời sống mỗi ngày một đen tối của giai cấp bị trị, bị áp bức và bóc lột tới một mức không thể chịu đựng lâu hơn.

A. Những nguyên nhân khách quan

Những nguyên nhân này có thể chia làm hai loại: Một là ảnh hưởng quốc tế do bài diễn văn của Khrushchev hạ bệ Stalin gây nên, hai là ảnh hưởng của chiến dịch Cải cách ruộng đất mà giới trí thức miền Bắc đã mệnh danh là một cuộc “ám sát tập thể”.

a) Việc hạ bệ Stalin

Ngay sau khi Stalin nhắm mắt thì những mâu thuẫn nội bộ đã phát sinh từ ngay trong bốn bức tường của điện Kremlin. Nào thanh trừng Beria, lật đổ Malenkov, rồi đến hạ bệ uy tín của mồ ma Stalin.
Hiện nay chưa ai biết đích xác tại sao Khrushchev lại giở cái trò hạ bệ uy tín của một người đã mồ yên mả đẹp một cách kỳ quặc như vậy. Nhưng phần lớn các nhà quan sát quốc tế cho rằng Khrushchev muốn làm khuây khoả lòng dân Nga giữa lúc những nỗi khổ cực của họ đã chồng chất tới một mức họ không thể chịu nổi. Đổ tất cả tội lỗi lên đầu một kẻ đã quá cố là một diệu kế để xây dựng uy tín của người mới kế nghiệp và tạo cơ hội để thanh trừng nội bộ.

Các đại biểu dự cuộc Hội nghị lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Liên sô quả đã giật mình khi thấy Khrushchev kể ra nào Stalin đã lưu đầy các dân tộc thiểu số, thủ tiêu hàng vạn đảng viên đối lập, hàng ngàn sĩ quan của Hồng quân. Khrushchev vạch ra nào là sự u mê của Stalin trước hiểm hoạ xâm lăng của Đức Quốc xã, nào là sự ngu độn trong việc điều khiển chiến tranh. Lãnh tụ mới tuyên bố trước Hội nghị rằng nguyên nhân duy nhất của tất cả những sai lầm và tội lỗi mà Nga-sô đã mắc phải trong triều đại Stalin là bệnh sùng bái cá nhân. Khrushchev định nghĩa sự sùng bái cá nhân là: đề cao một vị lãnh tụ thành một thánh sống có tài triệt thấu mọi việc trong thiên hạ, giải quyết được mọi việc cho mọi người mà không hề mảy may sai lầm.

Hội nghị lần thứ 20 cũng sửa đổi lại luận thuyết Stalin, ấy là từ bỏ quan niệm quá khích của Stalin nói rằng “cách mạng nhất thiết phải bạo động và càng tiến tới xã hội chủ nghĩa thì đấu tranh giai cấp càng quyết liệt”. Thay vì chính sách “quá tả” của Stalin, Khrushchev đưa ra một chính sách mềm dẻo hơn, đối ngoại cũng như đối nội, Khrushchev tuyên bố sẽ dân chủ hoá chế độ và hứa hẹn từ nay sẽ lãnh đạo “tập thể”. Đợi mãi không thấy Khrushchev ban bố một biện pháp gì khả dĩ mang lại ít nhhiều dân chủ, ngoài việc Khrushchev đi đâu cũng cập kè với Bulganin cho có bạn đồng hành, các nhà văn Nga bắt đầu lên tiếng đòi hỏi. Người cầm đầu phong trào là Dundinsev. Ông viết một loạt bài báo lấy nhan đề là “Cơm áo không đủ”, trong đó ông trình bày những bất công của chế độ, nhưng khi xin phép xuất bản thành sách thì nhà cầm quyền Nga không cho. Quyển sách này phải gửi sang Anh xuất bản.

So với các nước Đông Âu thì phong trào đòi hỏi tự do ở Nga tiến chậm hơn, nên chưa kịp gây ảnh hưởng sâu rộng, thì vụ Budapest đã xẩy ra, khiến Khrushchev vội vã trở lại chính sách cứng rắn của Stalin và thẳng tay đàn áp.

b) Khẩu hiệu “Trăm hoa đua nở”

Tuy các lãnh tụ Trung cộng phải tuân theo chỉ thị của Đệ tam Quốc tế và công bố tân chính sách, nhưng vì tình hình nội bộ không đến nỗi khẩn trương như ở Nga-sô, nên họ chỉ thi hành một cách hời hợt cho đủ lệ, nghĩa là chỉ tung ra một khẩu hiệu rất lờ mờ là “Trăm hoa đua nở”. Ngoài ra họ tránh không áp dụng một biện pháp nào có tính cách nới rộng tự do dân chủ.

Ngày 25 tháng 5 năm 1956, cục trưởng cục Tuyên huấn của Đảng Cộng sản Trung Quốc là Lục Định nhất triệu tập các nhà khoa học, xã hội học, các văn nghệ sĩ, các đại diện đảng phái bù nhìn và một số “nhân sĩ tiến bộ” đến viện Hoài Nhân đường ở Bắc Kinh để đọc cho họ nghe một bài diễn văn nhan đề là “Bách hoa tề phóng, bách gia tranh minh”. Họ Lục nói rằng hai câu tám chữ đó là ông Mao đã trích ở cổ văn ra và giao cho ông công tác giải thích.

Họ Lục nói rằng:

Nếu không có nhiều môn phái, nhiều chủ trương thì văn nghệ không thể trở nên phong phú được.”

Vừa mới nói ra, họ Lục lại vội vàng khép lại:

Hai nghìn năm về trước, trong thời Xuân Thu và Chiến Quốc, Trung Quốc có nhiều học phái khác nhau. Hồi đó các học phái đều tự ý phát triển, không phục tòng một hệ thống tư tưởng nào cả, nhưng ngày nay… chính quyền của nhân dân đã thành lập và vững mạnh thì sự tranh luận của bách gia ngày nay phải nằm trong khuôn khổ một chương trình chung.”

Nói về những tương quan giữa văn học và chính trị họ Lục cũng tuyên bố nước đôi như sau:

Cần phải đề cao sự tự do tranh luận và bênh vực ý kiến trong mọi ngành học thuật nhưng đồng thời cũng không nên lẫn lộn những cuộc tranh luận xây dựng torng nội bộ Đảng với những cuộc tranh đấu để tiêu diệt những phần tử phản động… Có hai lối phê bình: Phê bình kẻ thù và phê bình những đồng chí phạm sai lầm. Phê bình kẻ thù là đập cho nó một truỳ vỡ sọ chết tươi, còn phê bình một một đồng chí phạm sai lầm là lấy khoan hồng đưa dần họ về với chính nghĩa.”

Ông Lục Định Nhất nói rất nhiều, nhưng quên không định nghĩa thế nào là “kẻ thù” và thế nào là “phạm sai lầm” nên không ai dám đụng chạm đến Đảng, sợ nhỡ bị “một truỳ vỡ sọ chết tươi” như ông Lục đã cảnh cáo. Vì vậy nên phong trào chống đối ở Trung Quốc chậm phát hơn ở các nước cộng sản khác. Mãi đến 1957 nhóm La Long Cơ mới khởi sự chống Đảng.

c) Tình hình ở các nước Đông Âu, ở Ba Lan

Ba Lan vốn dĩ là một nước có truyền thống quốc gia rất mạnh, nên phong trào chống đối Nga bộc phát trước tiên. Sau vụ Poznan (28-6-56) các nhà cầm quyền Sô-viết nhận thấy sức mạnh của lý tưởng quốc gia nên cố tìm cách đàn áp phong tràọ Nhưng đảng Cộng sản Ba Lan tranh chấp quyền hành với Nga-sô, tự ý đón Gomulka từ nhà tù về và đưa lên nắm chính quyền. Đứng trước sự đã rồi, Khrushchev đành nuốt hận làm lành và tiếp đón Gomulka một cách gượng gạo. Về phần Gomulka, ông cũng khéo léo cố tránh không làm gì khiến Nga-sô phải bẽ mặt và kiếm cớ can thiệp.

d) Ở Hung Gia Lợi

Chỉ vài tháng sau các nhà lãnh tụ Sô-viết phải đối phó ngay với cuộc khởi nghĩa của dân chúng Hung. Trong mấy ngày đầu họ yên trí rằng họ có thể thu hẹp phạm vi ảnh hưởng như việc đã xẩy ra ở Ba Lan, nhưng đến khi dân chúng đòi độc lập và dân chủ hoàn toàn thì Khrushchev ra lệnh cho bộ đội quay trở lại đàn áp. Vụ Budapest đã vang dội khắp thế giới và có ảnh hưởng trực tiếp đến tinh thần dân chúng ở Bắc Việt.

e) Tình hình ở Bắc Việt năm 1956

Nếu mang so sánh thì chúng ta có thể nhận thấy các lãnh tụ ở Bắc Việt trong năm 1956 quả đã vất vả hơn các vị đàn anh của họ ở Trung Quốc. Lý do là vì Trung cộng đã hoàn thành chiến dịch Cải cách ruộng đất từ mấy năm trước khi Đệ tam Quốc tế ban hành đường lối mới nên tình hình chính trị tương đối đã được ổn định. Hơn nữa Trung cộng đã thanh trừng hết mọi phần tử trí thức đối lập trong vụ án Hồ Phong nên nắm vững được tình hình nội bộ để đối phó với làn sóng cách mạng từ Đông Âu tràn sang.

Trái lại, khi Mikoyan, sứ giả của điện Kremlin sang Hà Nội để giải thích về “tân chính sách” thì cuộc cách mạng ruộng đất ở miền Bắc còn đang dở dang, và đang ở giai đoạn chót và mạnh nhất. Đứng trước tình thế đó ông Hồ Chí Minh đành trì hoãn việc ban bố chính sách mới và cứ để yên cho cuộc đấu tố tiếp diễn, vì không có lý gì (theo lời ông Hồ) lại “dội một gáo nước lạnh vào đầu cán bộ”.

Do đó mãi đến tháng tám năm 1956 Việt cộng mới phổ biến quyết định quan trọng của Hội nghị lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Liên sô, đồng thời tuyên bố “Sửa sai”, vì mãi đến cuối tháng Bảy mới hoàn thành đợt chót của chiến dịch Cải cách ruộng đất, gọi là đợt Điện Biên Phủ. Vì để quá lâu mới mở “súp páp” nên khi mở thì hơi xì phải mạnh hơn. Những nỗi oan ức mỗi ngày một chồng chất thêm đã gây trong dân chúng một không khí căm thù đối với chế độ mỗi ngày một sâu rộng. Đồng thời tình hình Đông Âu mỗi ngày một căng thẳng. Vụ Poznan đã xẩy ra ngày 28-6-1956 và kế đến vụ Budapest, ngày 23-10-1956 làm rung chuyển bộ máy thống trị của Đệ tam Quốc tế ở khắp các nước chư hầu.

Chiến dịch sửa sai

Chiến dịch này bắt đầu bằng việc giải thích bằng báo chí và bằng “học tập” về quyết nghị của Hội nghị lần thứ 20, trong đó có nói đến “bệnh tôn sùng cá nhân” và “chính sách tập thể”. Việc thứ hai là “hạ bệ” ông Trường Chinh và ông Hồ Viết Thắng, và thả ra 12 ngàn đảng viên bị cầm tù vì bị quy lầm là địa chủ, trong số đó có nhiều người đã bị lên án tử hình.

Ảnh hưởng của “sửa sai” ở nông thôn

Sau khi các đảng viên trung kiên được tha từ nhà tù về, được khôi phục công quyền, khôi phục đảng tịch và chức vụ thì họ tìm ngay đến các “đồng chí” đã “tố sai” để trả thù. Do đó tình trạng xung đột giết chóc giữa đảng viên cũ và đảng viên mới lan rộng khắp mọi nơi. Uy tín của Đảng bị sụp đổ, cán bộ đâm ra hoang mang. Trong dịp này nhà văn Nguyễn Sáng có nói một cách hài hước: “Lạc quan sai; bi quan cũng sai; chỉ có hoang mang mới đúng”. Nhân đân được dịp đòi lại ruộng nương, nhà cửa bị tịch thu.

Ở nông thôn các đảng viên đi họp phải mang búa theo để “thảo luận” với nhau. Những địa chủ được tha về, thấy tình trạng làng xóm như vậy, vội vàng chạy ra thành phố ở nhờ các gia đình “tiểu tư sản” hồi kháng chiến đã trú ngụ tại nhà mình. Các bần cố nông, trót nghe lời Đảng “tố điêu” nay sợ bị rạch mồm, cắt lưỡi, cũng vội vàng chạy ra thành phố để đạp cyclo và đi ở. Vì vậy nên dân số ở Hà Nội, Nam Định đột nhiên tăng gấp bội và không khí căm thù ở nông thôn lan ra thành phố, lây cho công nhân, tiểu tư sản, sinh viên và trí thức. Đáp lại vụ nổi loạn của nông dân ở Quỳnh Lưu, thanh niên và công nhân “Nam bộ tập kết” đập phá bót cảnh sát Bờ Hồ Hà Nội (bên cạnh ga tầu điện, đầu phố Cầu Gỗ).

B. Những nguyên nhân chủ quan

Trí thức ở miền Bắc trước kia đã chân thành hợp tác với cộng sản để kháng chiến mà ngày nay phải dứng dậy chống lại chính quyền cộng sản, một phần vì nhiệm vụ thiêng liêng của họ bắt họ phải luôn luôn tranh đấu cho tự do dân chủ mà chế độ cộng sản cũng chỉ hẹn hò nhưng thực sự không mang lại. Một phần khác cũng vì chính bản thân họ bị bóc lột và bị áp bức tới mức độ mà không ai chịu nổi. Nhìn xung quanh mình, người trí thức chỉ thấy chém giết và khủng bố, dã man hơn cả những thời kỳ mà sử sách đã ghi chép, nhìn vào bản thân, họ thấy họ trở thành một thứ tôi đòi, vừa bị bóc lột vừa bị chà đạp. Từ giai cấp tiểu tư sản họ tụt xuống trở thành vô sản. Từ địa vị lãnh đạo tư tưởng và học thuật họ đã trở thành một thứ người mà ông Mao ngang nhiên gọi là “không ích lợi bằng cục phân”.

a) Đời sống vật chất của giới trí thức ở miền Bắc

Ai cũng biết trong thời gian kháng chiến giới trí thức đã phải sống một đời sống cơ cực. Câu chuyện cụ Phan Khôi khi trở về Hà Nội, được bạn thân đãi cơm có thịt gà, cầm đũa chỉ vào miếng thịt trên mâm mà nói đùa: “Chín năm nay tao lại mới gặp mày“, đã trở thành một giai thoại.

Nhưng không phải tất cả văn nghệ sĩ về Hà Nội đều gặp được thịt gà. Một đoạn trong bản đề án của ông Hoàng Huế, một thi sĩ tập kết, gửi Đại hội Văn nghệ Toàn quốc, đăng trong tập Giai phẩm đã tả cho chúng ta biết tình hình sinh hoạt vật chất của đa số văn nghệ sĩ ở chiến khu trở về Hà Nội.

Ông Hoàng Huế viết:
Ai cũng biết rằng đời sống của chúng ta thiếu thốn quá. Đây là một sự thật buồn bã vẫn hàng ngày đập vào mặt chúng ta làm cho những kẻ đơn giản nhất cũng phải suy nghĩ.

Chúng ta không thắc mắc về cảnh sống trong kháng chiến. Nhưng trở về Hà Nội, giữa những phố xá đầy nhung lụa, tủ kính và ánh đèn xanh đỏ, có lẽ chưa bao giờ người nghệ sĩ cảm thấy cay đắng như lúc này. Cần phải nói thẳng rằng ở một toà soạn báo văn nghệ, trong số 8 biên tập viên có vợ, thì 6 người đã thất nghiệp hay bán thất nghiệp. Những trang giấy trắng đáng lẽ chỉ dùng để chép thơ cũng đã bao lần biến thành đơn xin việc. Những lá đơn ấy gởi đi rồi im lặng không nghe một tiếng trả lời.


Sự thật đã có những nhà văn viết đêm, không có một tách cà phê để uống. Đã có những thi sĩ không làm thế nào mua được dăm điếu thuốc lá trong cơn nghiện, và đã có một kịch sĩ bán chiếc đồng hồ đeo tay của mình để bồi dưỡng viết cho xong cuốn sách, nhưng in ra không đủ tiền để chuộc chiếc đồng hồ.


Hữu Loan có thể nói cho chúng ta biết tình cảnh của anh. Nằm trong bóng tối của một gian nhà nhỏ ở ngoại ô Hà Nội khi không có tiếng vợ kêu con khóc, Hữu Loan chỉ mơ ước có một ngọn đèn dầu để thức mà viết. Văn Ký cũng có thể nói cho chúng ta biết tình cảnh của anh. Buổi sớm mai không có củ khoai luộc cho con ăn, nghe tiếng con kêu khóc mà đứt ruột
.”

Đoạn văn kể trên là lời phát biểu của thi sĩ Hoàng Huế về đời sống vật chất của giai cấp mà cụ Phan Khôi mệnh danh là “quần chúng văn nghệ“. Căn cứ vào những lời trình bày của ông Hoàng Huế thì đời sống của văn nghệ sĩ sau khi họ về Hà Nội còn cực hơn thời kỳ họ nằm gai nếm mật ở chiến khu gấp bội lần. Nhưng không phải mọi văn nghệ sĩ đều sống một cách đen tối như vậy. Đây là lời ông Hoàng Huế tả về đời sống của cấp lãnh đạo, một giai cấp mà Milovan Djilas gọi là “giai cấp thống trị mới“:

Hai năm hoà bình, chúng ta thấy có nhiều nhà văn (trước kia) có tài, (ngày nay) bị buộc chặt vào địa vị bằng những sợi lụa có tẩm thuốc độc. Tác phẩm của họ (ngày nay) chỉ là chỉ thị, kế hoạch, công văn, thông cáo. Họ trịnh trọng thắt cà vạt đỏ, đi giày da vàng, đọc đít cua và nhồm nhoàm ăn tiệc, rồi lại xách va ly, bay đó bay đây, trên mây trên gió.”

Đây là thi sĩ Hoàng Huế muốn nói đến các nhà văn như Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Thi, Hoài Thanh, Xuân Diệu vân vân… Họ là cấp lãnh đạo, chuyên môn ra chỉ thị, kế hoạch cho quần chúng văn nghệ thi hành, nghĩa là sản xuất theo “com măng” của Đảng đặt. Còn bọn quần chúng văn nghệ thì nai lưng sáng tác để bán rẻ văn chương cho Đảng lấy mỗi tháng vài chục kí lô gạo.

Hiện nay trong giới văn nghệ sĩ ở miền Bắc có hai giai cấp, sống hai đời sống quá chênh lệch. Cụ Phan Khôi gọi giai cấp trên là giai cấp lãnh đạo và giai cấp dưới là giai cấp quần chúng văn nghệ. Cụ Phan Khôi gọi như vậy vì cụ muốn nói cho có văn vẻ. Sự thực thì nhiều người gọi một cách nôm na là “cai văn nghệ” và “cu ly văn nghệ“. Gọi bằng hai danh từ đó mới thực sự nêu lên được tình trạng “người bóc lột người”. Người bóc lột hiện nay không phải là một nhân vật cầm ba-toong, ngậm xì-gà mà là Đảng, một vật vô hình, bóc lột hàng triệu nô lệ làm việc bằng chân tay hay bằng trí óc, để nuôi một lũ cán bộ “thắt cà vạt đỏ và ăn tiệc nhồm nhoàm”.

Đây quả thật là một cuộc đấu tranh giai cấp, giữa một giai cấp thống trị ngồi mát ăn bát vàng và một giai cấp bị trị, bị bóc lột đến tận xương tủy.

Trong khi bọn văn nghệ sĩ dám can đảm sống với lý tưởng của mình để không có củ khoai mà ăn thì Nguyễn Tuân sang Helsinki dự Hội nghị Hoà bình Thế giới, ở một khách sạn lớn vào bực nhất mà còn chê là cơm ở khách sạn đó không hợp khẩu vị. Nguyễn Tuân viết:

Mỗi ngày ăn ba bữa, khẩu phần thừa thãi bổ béo; nghi thức lúc ăn thực là sang trọng; đồ sứ, pha lê, khăn bàn trắng muốt, quanh bàn ăn chốc chốc lại cử nhạc, những chị đưa món ăn trông đẹp như rượu rót trong các truyện thần thoại… Nhưng tôi ăn uống sao không thấy ngon…”.

(Xem bài “Phở” của Nguyễn Tuân trong phần tài liệu.)

Còn Nguyễn Công Hoan khi sang dự Hội nghị Văn hoá Á châu lại đương nhiên vào nằm ở khách sạn Asoka là khách sạn nổi tiếng là nơi trú ngụ của các bậc đế vương trên thế giới.

b) Đời sống tinh thần của văn nghệ sĩ ở miền Bắc

Sự chênh lệch không những chỉ thể hiện trên đời sống vật chất, mà còn thể hiện sâu sắc hơn trong cuộc sống tinh thần. Trong khi quần chúng văn nghệ phải làm việc như tôi mọi, thì một thiểu số, vừa thiếu đức vừa thiếu tài, chỉ khéo nịnh hót để ăn trên ngồi chốc, tác oai tác quái. Một văn nghệ sĩ giấu tên đã làm bài thơ sau đây đăng trong báo Văn số 24 ngày 10-10-1957.

Ông “Vỗ ngực”

Học thuật văn chương chửa sạch nghề
Tập toè lên lớp cũng khen chê
Giáo điều khó nuốt lèn thô bạo
Lý luận không tiêu kéo nặng nề.
Tình cảm khô khan như củi gộc
Phê bình nồng nặc tựa cơm khê.
Anh em vặn lại, cùng kỳ lý,
Vỗ ngực, ông giơ Đảng chực loè. (7)

Không phải chỉ có loè không mà còn mắng thực sự. Chứng cớ là Nguyễn Công Hoan, tên lý trưởng văn nghệ đã từng nằm ở khách sạn Asoka mắng cụ Phan Khôi, tên cu ly văn nghệ đáng tuổi bố.

Sự thể là nhân dịp cụ Phan Khôi thượng thọ 70 tuổi, giữa lúc cụ đương bị Đảng quy vào tội phản động, không một ai dám lai vãng đến chúc thọ cụ vì sợ bị liên quan, cụ bèn làm một bài thơ để kỷ niệm ngày thượng thọ của cụ. Trong bài thơ đó có hai câu như sau:

Lên bảy mươi rồi mẹ nó ơi!
Thọ ta, ta chúc lọ phiền ai
.

Bài thơ này không xuất bản, nhưng cũng đến tai Nguyễn Công Hoan, Hoan liền làm một bài thơ hoạ lại như sau:

Nhắn bảo Phan Khôi khốn kiếp ơi!
Thọ mi, mi chúc chớ hòng ai.
Văn chương! Đù mẹ thằng cha bạc!
Tiết tháo! Tiên sư cái mẽ ngoài
Lô-dích, trước cam làm kiếp chó,
Nhân văn, nay lại hít gì voi,
Sống dai thêm tuổi, cho thêm nhục,
Thêm nhục cơm trời, chẳng thấy gai.

Đại khái thì toàn bộ giai cấp mới đều đểu cáng và hèn hạ như vậy.

Trên đây là thơ, còn những đoạn văn xuôi chứng nhận rằng hiện nay ở miền Bắc đã phát xuất những hạng người thô bạo và hống hách như vậy thì có rất nhiều.

Cụ Phan Khôi, trong bài “Phê bình lãnh dạo văn nghệ” (xem phần tài liệu) mang cộng sản ra so sánh với phong kiến và kết luận rằng cộng sản còn tàn bạo và quan liêu hơn phong kiến gấp nhiều lần.
Trần Duy trong bài “Những người khổng lồ” (xem phần tài liệu) ví bọn cán bộ cộng sản như một lũ người “không tim”.

Ngoài ra ông còn vẽ bức tranh khôi hài nhan đề “Một phương pháp xây dựng văn nghệ”, đăng trong báo Văn số 30 ra ngày 29-11-1957, trong đó ông chế giễu sự can thiệp thô bạo của chính trị vào lĩnh vực văn nghệ. (Xem tranh ở trang 35.)

Nhưng đặc biệt nhất là bài “Thi sĩ máy” của Như Mai đăng trong tờ Nhân văn số chót trong đó ông chế giễu sự ngu dốt của cán bộ cộng sản về văn nghệ và cách chúng đối xử với văn nghệ sĩ sau này như thế nào. Ông viết:

“… Nhạc sĩ Ảo Huyền được cử đi học lớp ‘nghiên cứu nghề làm nước mắm’; hoạ sĩ Lập Thể được điều động sang Mậu dịch; nữ sĩ Trong Trắng ném bút làm nghề đỡ đẻ, thi sĩ Mây Nước ra Bờ Hồ làm nghề bói Kiều, tán róc về thành phần giai cấp cho những người có óc mê tín.

Văn sĩ Đắng Văn Cay phải ra chợ Giời làm nghề bán văn kiêm bán săm lốp. Săm lốp vì cần được khuyến khích nên miễn thuế, còn văn của Đắng Văn Cay thì bị liệt vào hạng vô dụng và phải chịu thuế bốn phần trăm. Rất ít người chịu quăng tiền ra mua. Đôi ba vị khó tính lại còn rỉa rói: ‘Văn chương anh thì ra cái đếch gì! Không ích lợi bằng chiếc đế dép cao su của tôi nữa kìa!’.

Nhà đạo diễn Kinh Kha được chuyển sang ngành nuôi cá vàng, mỗi khi luyến tiếc sân khấu, thường ngắm cá bơi lội rồi tưởng tượng con cá vây bạc óng ả này là Điêu Thuyền, con cá mặt đen nọ là Bao Công, cặp cá đuôi cờ lồi mắt kia là đôi nhân vật tiểu tư sản v.v…”

(Xem trọn bài trong phần tài liệu)

Viết mấy dòng này Như Mai có ý nhắn nhủ những trí thức nào còn mê “thiên đường cộng sản” thì hãy nên biết trước số phận mà cộng sản sẽ dành cho mình trên cõi thiên đường đó.

c) Tâm trạng của giới trí thức ở miền Bắc

Tâm trạng của đại đa số trí thức ở miền Bắc, nhất là những tir thức đã dày công theo đuổi kháng chiến, là thấy mình bị lợi dụng tài năng, bị bạc đãi, khinh miệt và cuối cùng là ruồng bỏ, và khủng bố. Tâm trạng đó giống hệt tâm trạng một người đàn bà đẹp, bị rơi vào phận lẽ mọn, và bị chồng và vợ cả vùi dập. Nếu ngày xưa Hồ Xuân Hương đã cám cảnh vợ lẽ mà thốt ra câu:

Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng

Thì ngày nay cụ Phan Khôi cũng phải ngán cảnh “kháng chiến ngõ ngoài” mà ngâm mấy vần thơ sau đây:

Tuổi già thêm bệnh hoạn
Kháng chiến thấy thừa ta
Mối sầu như tóc bạc
Hễ cắt lại dài ra.

Ông Nguyễn Mạnh Tường trong bài diễn văn của ông nói về những sai lầm trong Cải cách ruộng đất cũng phải nêu lên câu hỏi sau đây:

Có một chỗ nào mà người trí thức ngoài Đảng nắm được thực quyền hay không? Tác dụng ‘hiếu hỉ’ hay ‘cười gật’ thì có, mà lại có nhiều. Nhưng ngay ở các cương vị ấy, ngoài vai trò hiếu hỉ, cười gật, người trí thức có một trách nhiệm gì không? Có quyền nói gì, làm gì không? Quần chúng đã biết và tôi miễn giả lời.”

(Xem trọn bài trong phần tài liệu.)

Trí thức “sống chung” với cộng sản, chỉ được đặt vào địa vị “hầu non” cưới về để tô điểm cho nhà cửa thêm sáng sủa, còn thực quyền thì bao giờ cũng do vợ cả nắm. Vợ cả đây, ai cũng biết là bần cố nông, vì cộng sản chẳng hề giấu diếm điều đó.

Tâm trạng thứ hai của trí thức là thấy sự hy sinh của mình trong chín mười năm trời không đưa lại mảy may hạnh phúc. Trong chế độ “dân chủ cộng hoà” ngày nay vẫn đầy rẫy một lũ chuyên môn nịnh hót để chấm mút và tác oai tác quái.

Hữu Loan đã phải rên rỉ như sau:

Một điều đau xót
Trong chế độ chúng ta
Trong chế độ “Dân chủ Cộng hoà”
Những thằng nịnh hót còn thênh thang đất sống…

Rồi ông hô hào mọi người hãy đứng lên làm “tổng vệ sinh” quét sạch lũ chúng, ông hô:

Những người
đã đánh bại
xâm lăng;
Đỏ bừng mặt

vì những tên quốc sỉ
Ngay giữa thời nô lệ
Là người, chúng ta

không ai biết cúi đầu

(Xem trọn bài trong phần tài liệu.)

Vì đỏ bừng mặt, không chịu được sự khinh mạn của cộng sản, nên họ phải vùng dậy. Cụ Phan Khôi phẫn uất quá chừng nên nói liều như sau:

Làm sao cũng chẳng làm sao,
Dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi.
Làm chi cũng chẳng làm chi,
Dẫu có làm gì cũng chẳng làm sao
.

Từ chỗ uất ức đó tiến tới chỗ ra báo để ngang nhiên chống lại Đảng chỉ có một bước.


(1)Nhà hoặc gia nghĩa là một học phái.
(2)Trong cuốn L’Asie du Sud-Est entre deux Mondes của Tibor Mende, bản dịch tiếng Pháp của René Guyonnet, trang 17, Edition du Seuil, Paris 1954
(3)Con số này trích trong cuốn A Short History of the Chinese People. Revised Edition của L. Carrington Goodrich, Harper and Brothers xuất bản 1951.
(4)Câu của Đào Duy Anh, trong cuốn Trung Hoa sử cương
(5)Câu của Phan Khôi trong bài “Phê bình lãnh đạo văn nghệ”
(6)”Văn công”: chữ Tàu, là văn nghệ công tác, nghĩa là công tác biểu diễn văn nghệ
(7)Trong nguyên bản, sau bài thơ này, ở trang 14 có tranh châm biếm “Một cái quái thai nịnh trên nạt dưới” của Trần Hưởng, Vân Tôn vẽ lại, trích báo Trăm hoa ngày 30.12.1956 (chú thích của talawas).

Nguồn: Hoàng Văn Chí, Trăm hoa đua nở trên đất Bắc. Mặt trận Bảo vệ Tự do Văn hoá xuất bản, Sài Gòn 1959. 318 trang. Nguyệt san Ngày về tái bản, Hướng Việt phát hành. In tại nhà in Lion Press, 3018 Akron Ct, Denver Co. 80231. Bản điện tử do talawas thực hiện.

VI NHÂN _ TÔI LÀ NGƯỜI VIỆT NAM.

 

 VI NHÂN

Tôi là người Việt Nam!

Tôi là người Việt Nam!

Tôi là người Việt Nam!

Lặp đi lặp lại câu này ba bốn lần trong đầu và tôi cảm thấy đau lòng. Đau đứt ruột.

Tôi vừa xem xong Thúy Nga Paris by Night 99, chủ đề “Tôi là người Việt Nam“. Rất nhiều người Việt Nam thành đạt trong mọi lãnh vực, chính trị, khoa học, kinh tế, tôn giáo, v.v… trên khắp thế giới Mỹ, Úc, Gia Nã Đại, Âu Châu được tuyên dương trong chương trình này.  Những cá nhân đó với những thành tựu liệt kê xem ra đáng khâm phục.  Họ đã vượt qua bao khó khăn cực nhọc trong tiến trình di cư hội nhập và sinh sống ở xứ người để có ngày hôm nay. Sức phấn đấu, trí sáng tạo, lòng tự tin, tính kiên nhẫn, tinh thần tự lực cánh sinh đã giúp họ đạt những thành quả vượt bực. Đó là những tấm gương sáng chói về thành công đường đời trên phương diện cá nhân.

Tôi là người Việt Nam. Nhưng sao lời khoa trương “tự hào dân tộc” hoặc hãnh diện là người Việt Nam này cũng làm tôi cảm thấy ngượng ngùng khi ngắm nhìn các thành tích của các cá nhân đó trong chương trình này. Có lẽ tôi lại thêm một chút gì xấu hổ thì đúng hơn khi “thấy người sang bắc quàng làm họ”. Vì những thành đạt của họ đâu ăn nhập gì đến cá nhân tôi! Tôi cũng chưa nhìn thấy những thành công với kích cỡ này đã mang lại ảnh hưởng tích cực gì cho dân tộc Việt Nam.

Ngược lại, ở xứ người này “một người làm quan cả họ được nhờ” thì cũng chẳng phải là một điều gì hay ho cho lắm. Hoa Kỳ, Úc, Gia Nã Đại, Pháp, Anh, Đức có chắc hãnh diện vì có những gương công dân di dân gốc Việt sáng chói đem lại thịnh vượng cho đất nước của họ? Hay lại trở thành oan khiên của diễn luận và huyền thoại “tấm gương dân thiểu số” (model minority), và là tấm bia gián tiếp dẫn đến những vụ giết người vì phân biệt ghen ghét (hate crime)? Chất xám của những người di dân đến các nước này có điều kiện để phát huy, và giúp tài năng họ nẩy nở tạo ra những thành tựu xuất chúng thì cũng là tất nhiên, nhưng dựa vào đó mà ôm lấy làm tự hào dân tộc Việt Nam ư?

Tôi là người Việt Nam. Rất nhiều lời kêu gọi “Tràng pháo tay cho mẹ Việt Nam”, “Yêu tổ quốc, dân tộc Việt Nam” trong chương trình này. Quả là những lời kêu gọi tình tự ngọt ngào đứt ruột! Khúc ruột ngàn dặm này chẳng đã từng bị cắt vất bao năm, sình chướng ở xứ người. Người Việt nào chẳng yêu mẹ Việt Nam. Nhưng thôi, đừng bắt mẹ Việt Nam phải hy sinh mãi mãi. Đừng bắt chị, bắt em bán thân đợ nợ.  Đừng bắt trẻ, bắt già học giáo điều thối rữa. Chúng đã cắt da xẻ thịt mẹ đem cho kẻ “lạ”. Chúng từng thế chấp mẹ cả trăm năm ở rừng đầu nguồn. Chúng không ngừng đào bới lưng còng mẹ, rút tủy tài nguyên. Chúng còn đè lưng cưỡi cổ anh em con, mẹ Việt Nam ạ. Tất cả cho kẻ “lạ”! Còn anh em thì sống chết mặc bay. Chúng lại hành hung, khủng bố, giam cầm người con nào muốn bảo vệ mẹ. Mẹ là mẹ của tất cả các con chứ đâu phải riêng gì của chúng! Chúng lại bảo các con cần đóng góp nuôi dưỡng mẹ. Và cũng chính chúng trâng tráo hàng ngày rút máu mẹ bán trước đã. Các con càng thương mẹ bao nhiêu, thì chúng càng bòn rút mẹ bấy nhiêu. Chúng giết mẹ rồi. Con sói lang lấy chăn phủ người, lấy khăn che mặt.Nhưng chúng con dù là cô bé quàng khăn đỏ ngây thơ cũng biết mẹ là mẹ. Mẹ đâu có mắt lồi hung dữ, mẹ đâu có răng nanh nhọn hoắt, còn hôi mùi thịt, còn tanh mùi máu. Chúng bảo “Trung với Đảng!” Không! Một trăm lần không, một ngàn lần không. Đảng không là tổ quốc! Đảng chẳng bao giờ là tổ quốc.

Tôi là người Việt Nam.Những câu ca dao, tục ngữ “lá lành đùm lá rách”, “bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy là khác giống nhưng chung một giàn” lan chảy trong huyết quản, nằm lòng từ thuở cắp sách tới trường qua các bài học đức dục. Ai mà không yêu tổ quốc, dân tộc. Tuy nhiên, lòng yêu tổ quốc không thể để bị bán tráo cho một chủ thuyết lai căn vô nhân bản.

Tình đồng hương, đồng bào, nhân loại hiện nay đang được khai hoa, rộ trái qua các tổ chức thiện nguyện và bất vụ lợi. Hoạt động của khá nhiều đoàn thể này tạo một cơ cấu, một thuật loại tổ chức sinh hoạt tạo thuận lợi cho các đóng góp giúp đỡ từ mọi người. Họ làm với mục tiêu chuyên biệt và tập trung trong một lãnh vực. Thật đáng quý, đáng trọng biết bao. Mục tiêu của các tổ chức thiện nguyện này nhằm nâng đỡ người nghèo khổ, hoạn nạn, bất hạnh. Đó là cơ chế giảm, bù trong xã hội với nhiều hố cách biệt. Giảm đói, giảm nghèo; bù thiệt thòi, thiếu thốn. Tuy nhiên, các tổ chức thiện nguyện và bất vụ lợi thật ra chỉ là một cơ chế phụ trong một quốc gia, nhà nước. Vì sao?

An sinh xã hội trước hết phải phát xuất từ chính sách của quốc gia và trách nhiệm của nhà cầm quyền đương thời. Quốc sách “cơm no, áo ấm” cho toàn dân bao giờ cũng phải thật sự là điều nằm lòng trong tiềm thức và chủ tâm của người lãnh đạo. Chứ không phải trên đầu môi, chót lưỡi của cái loa tuyên truyền thuộc một nhà nước “xã hội chủ nghĩa” nhưng chẳng màng gì đến phúc lợi xã hội. Giáo dục công cộng đã bị lụn tàn và giờ đây lại đẻ ra vô số khoản “lệ phí” đòi hỏi từ cha mẹ học sinh. Y tế công cộng thì trở chiều bệnh hoạn một khi giới “lương y như từ mẫu” lúc nào cũng hạnh hoẹ “đầu tiên” (tiền đâu?) trong từng khâu, từng phòng.

Tôi là người Việt Nam. Bản thân tôi cũng đã đóng góp gián tiếp, trực tiếp ở các tổ chức thiện nguyện địa phương cũng như các hội xuyên quốc gia về đến Việt Nam. Điều này không mấy phiền khó. Thật dễ để đóng góp tài chánh cho tổ chức thiện nguyện, và cũng không lắm nhọc khi bỏ chút công sức tham gia quyên tiền, hoặc trực tiếp đến tận nơi giúp đỡ người hoạn nạn. Các tổ chức thiện nguyện luôn tạo điều kiện dễ dàng cho mọi người đóng góp—gián tiếp hoặc trực tiếp. Kiểu nào cũng có cả.  Ai cũng có thể cảm thấy tâm hồn mình yên ổn trong nghĩa cử nhỏ đó. Làm việc phước đạo hạnh thì được phước. Chúa Giê-su đã phán, Phật đã dạy thế kia mà.

Ở các nước phương Tây và Bắc Mỹ, cơ chế vô vụ lợi này đã được sản sinh đi song song với dòng tư hữu hóa các hoạt động công ích cho phúc lợi của người dân. Chính quyền tự động hết phải lo nhiệm vụ gánh vác phúc lợi xã hội và để cho cả hai khối “tân bảo thủ” (neo-conservative) và “tân tự do” (neo-liberal) đảm nhiệm việc xã hội nhưng đi theo luật thị trường. Chưa kể hết là những tệ nạn cấp mới của thành phần tự xưng thiện nguyện tốt bụng vô vụ lợi để che giấu những động cơ hám danh, thủ lợi đằng sau tấm màn sân khấu vì trò chơi chính trị của tranh giành ngân quỹ. Tệ nạn này được gọi chung là “hội chứng tập đoàn kỹ nghệ vô vụ lợi” (the non-profit industrial complex) giống như tệ nạn “hội chứng tập đoàn kỹ nghệ nhà tù” (the prison industrial complex) từ thế kỷ trước vẫn đang tiếp diễn.

Ca dao Việt Nam có câu “dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phước cứu cho một người”. Công việc thiện nguyện thật ra có tính chất xoa dịu tạm thời vết thương cấp bách, giảm bù những thiếu sót của xã hội mà thôi. Y thể như một nhà phát chẩn ở đâu đó đến cho những người nghèo đói tạm qua bữa, qua ngày. Xã hội nào mà người đứng xếp hàng trước nơi phát chẩn càng ngày càng dài và khi nhu cầu phát chẩn càng ngày càng tăng thì cái phước huệ đóng góp đó cần phải được suy nghĩ lại. Nhắm mắt làm phước thì dễ, nhưng mở mắt để nhìn bất công tạo đau khổ khốn cùng thì khó.  Sao không ai chất vấn nguyên do gì số người đó càng ngày càng tăng trong khi cũng một số không ít người nhà sang cửa rộng, đô thị cao lớn, xe bóng loáng, tiệc tùng hoành tráng, áo xiêm lộng lẫy?

Đang còn biết bao những người “rơm” ngủ rừng ngủ bụi xứ người, những người lao động không tên tuổi chết vùi trên đất khách, những em thơ làm nô lệ tình dục khi chưa biết mộng mơ. Cơ chế nhà nước thế nào thì kết quả cho con dân của xã hội thế đó. Giàu nghèo là chuyện đương nhiên, nhưng làm gì mà một bên thì giàu nứt vách đổ tường, và còn lại thì nghèo rớt mồng tơi phải là một câu hỏi lớn.

Những tên trưởng giả mới này là ai? Là con ông cháu cha, là con cháu các cụ.[1] Họ cũng xếnh xáng để “tên tuổi” nằm đầu bảng đóng góp thiện nguyện, nhưng trước đó thì họ đã vơ vét vào riêng, để rồi chỉ thí “cô hồn” chút ít hầu đánh bóng tín chỉ đạo đức của mình.

Những người nô lệ mới này là ai? Là nông dân mất ruộng, là công nhân mất việc, là ngư dân mất thuyền. Như trong chuyện ngụ ngôn về người ở cuối nguồn, chúng ta phải hỏi xem “Chuyện gì xảy ra ở đầu nguồn?  Nguyên do nào mà các thi thể trôi dạt từ thượng nguồn xuống hạ lưu?” Khi hiểu và giải quyết được nguyên nhân từ thượng nguồn thì không còn vấn đề xẩy ra dưới cuối nguồn.

Tôi là người Việt Nam. Một đất nước bị đô hộ ngàn năm giặc Tàu, làm thuộc địa thực dân Pháp trăm năm, làm công cụ và lệ thuộc Mỹ, Nga, Tàu nhiều thập niên kéo dài cho đến hiện tại. Đã có một thời, toàn dân đã đứng lên trong phong trào giải thực với tinh thần dân tộc để giành lại độc lập. Nhưng vô số những người yêu nước đó, cha ông chúng tôi, đã bị bán đứng, bị thủ tiêu, bị kết án, bị đấu tố, bị kềm kẹp. Họ bị kẻ lừa bịp treo đầu dê bán thịt chó. Chúng đã treo bảng “Việt Nam Dân chủ Cộng hoà” nhưng bán ép chủ nghĩa “cộng sản” độc tài Stalinist, Maoist vô thần, bất nhân. Nay chúng lại treo bảng “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” nhưng món hàng thực chất là độc tài đảng trị, tư bản bè phái, đặc quyền, đặc lợi cho thiểu số cầm quyền và những kẻ quỳ lụy ăn theo.

Tôi là người Việt Nam. Chúng tôi được mang kèm thêm tên “tị nạn cộng sản”. Bây giờ chúng tôi lại “được” dán mác “khúc ruột ngàn dặm”, “kiều bào”, “Việt kiều yêu nước”. Họ bảo chúng tôi thiếu thông tin, thiếu hiểu biết. Họ bảo chúng tôi đừng mặc cảm nữa. Tại sao mặc cảm? Mặc cảm gì? Mặc cảm phe chiến bại ư? Mặc cảm bọn “phản quốc” bỏ nước ra đi ư? Làm gì có! Chúng tôi chẳng có mặc cảm, và luôn tự hào đã dám bỏ tất cả, chấp nhận tù đày và hiểm nguy trên biển cả sống vất vưởng để đi tìm tự do. Một tự do mà chính quyền nhà nước cộng sản đã tước đoạt, không cho phép. Tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do đảng phái, tự do báo chí, tự do công đoàn. Chúng tôi không chấp nhận thứ tự do trong cũi, tự do đi lề bên phải, tự do làm con vẹt theo “chỉ đạo” của Đảng Cộng sản trong một nhà tù lớn.

Họ ve vãn bảo muốn hoà hợp, hoà giải với chúng tôi. Dân tộc, đồng bào, anh em của chúng tôi thì chẳng có gì để sinh ra phải hoà giải với nhau vì chúng tôi tự nhiên thương yêu nhau. Riêng với Đảng CSVN, chúng tôi cũng có thể sẵn lòng gạt bỏ mọi chuyện trong quá khứ để tiến tới tương lai. Nhưng chúng tôi không thể quên dĩ vãng này.Vì chúng tôi cần phải nhớ, phải mở mắt để thấy và kiểm định những việc đang xảy ra trong hiện tại và diễn tiến vào tương lai. Khi Đảng CSVN còn độc tôn lãnh đạo, cố bám chặt đặc lợi, đem đặc quyền cho bè nhóm thì những lời kêu gọi hoà hợp, hoà giải thật ra chỉ là một trò bịp.  Tôi không thể nhắm mắt tự hào mình là người Việt Nam như thể trò bịp ấy không hề xẩy ra.

Tôi là người Việt Nam. Tôi sẽ hãnh diện là người Việt Nam với tự hào dân tộc khi đất nước dân tộc tôi thay đổi và phát triển theo chiều cấp tiến xã hội – mọi người được cơm no áo ấm, các trẻ em có tuổi thơ mơ mộng trong hệ thống giáo dục phổ thông miễn phí, những nông dân có ruộng để cày cấy, những công nhân được công đoàn lao động và luật pháp bảo vệ, các văn nghệ sĩ được tự do sáng tác và xuất bản, người khuyết tật, già nua được an sinh xã hội và y tế công cộng chăm lo, và trên hết mọi công dân được tự do bình đẳng dưới một nhà nước dân chủ pháp trị trong tinh thần dân tộc, nhân bản.

© 2010 Vi Nhân

TRĂM HOA ĐUA NỞ TRÊN ĐẤT BẮC (BÀI SỐ 2)

 

Chương 2: Lịch trình đấu tranh của trí thức ở miền Bắc

Chúng ta đều biết rằng trí thức ở miền Bắc mới nổi dậy tấn công ào ạt vào lãnh đạo từ mùa Xuân 1956, nhưng nếu ta kể cả những cuộc chống đối lẻ tẻ và ngấm ngầm thì ta phải công nhận rằng cuộc đấu tranh giữa Đảng và quần chúng văn nghệ đã có từ lâu. Sở dĩ ta không nghe nói đến là vì trong thời gian kháng chiến, các văn nghệ sĩ không dám đứng lên công khai chống chọi với Đảng, vì hồi đó hơi một tí là Đảng có thể khép vào tội Việt gian phản quốc.

Vả lại, lúc bấy giờ đa số trí thức tham gia kháng chiến cũng chưa muốn công khai chống lại Đảng. Họ vẫn biết Đảng là Đảng Cộng sản, ông Hồ Chí Minh là tên nguỵ trang của Nguyễn Ái Quốc, nhưng vì lòng chân thành ái quốc, và vì chưa ý thức được cái nguy cơ cộng sản, họ vẫn thụ động để cho cộng sản lãnh đạo, vì họ quan niệm rằng, sau khi đánh đuổi được Pháp ra khỏi bờ cõi, thì sẽ quay trở lại chống cộng cũng vừa.

Điển hình của thái độ này là kỹ sư Hồ Đắc Liên, em ông Hồ Đắc Điềm. Ông Liên trong lúc mới tham gia kháng chiến có giơ cao nắm tay trước mặt người bạn thân mà tuyên bố rằng: “Còn phải chống Pháp thì tôi còn đi với chúng (ám chỉ cộng sản), khi nào độc lập rồi thì chúng sẽ biết tay tôi“.
Ông Liên là một trí thức du học ở bên Pháp về nên ngây thơ đến mức đó. Những người khác sinh trưởng trong nước, không đến nỗi ngây thơ như ông. Tuy nhiên, ai cũng mắc phải cái lỗi là không ngờ rằng chế độ cộng sản dã man quá mức. Nhiều người đã đọc cuốn Retour de l’ URSS của André Gide, nhưng ai cũng hy vọng rằng cộng sản ở Nga lúc xưa khác, cộng sản ở Việt Nam bây giờ khác.
Nói chung ai cũng nghĩ rằng Việt Minhh tuy là cộng sản, nhưng nhiêm vụ của họ là kháng chiến chống Pháp trước đã, khi nào độc lập rồi mà Việt Minh thực hiện chủ nghĩa cộng sản, lúc bấy giờ họ xoay sở cũng kịp. Ít ai ngờ rằng Cộng sản sẽ phản bội Quốc gia trước khi kháng chiến thành công, vì không mấy người nhớ rằng ngày xưa, khi cộng sản Trung Hoa liên kết với Quốc dân Đảng trong cuộc Bắc phạt, họ đã bị Quốc dân Đảng trở tay trước và tiêu diệt họ.

Ít ai nhớ rằng Nguyễn Ái Quốc lúc bấy giờ phải chạy long tóc gáy mới thoát nạn, nên rút kinh nghiệm, lần này họ liên kết với những người kháng chiến có tinh thần quốc gia, họ Hồ phải trở mặt trước. Cũng vì sự xao nhãng đó nên giới trí thức ở miền Bắc, như Phan Khôi, Nguyễn Mạnh Tường, là những người chỉ tham gia kháng chiến vì lý tưởng quốc gia, ngày nay lâm vào tình trạng khó khăn.

Tình hình văn nghệ trong vùng kháng chiến 1956-1954

Thời kỳ ấy là thời kỳ kháng chiến của nước ta, nhưng nếu đem so với lịch cộng sản quốc tế thì có thể gọi thời đại ấy là Triều đại Stalin. Ngay từ thời bấy giờ văn nghệ sĩ tham gia kháng chiến đã chia làm hai phái. Một phái đảng viên, và một phái không đảng viên. Tuy chưa có xung đột công khai, nhưng hai phái vẫn không ưa nhau.

Phần lớn những văn nghệ sĩ đảng viên như Tố Hữu, Hoài Thanh, Xuân Diệu đều tập trung ở Việt Bắc, gần Trung ương, gần Đảng để nắm vai lãnh đạo. Còn quần chúng văn nghệ sĩ thì phần đông đều cố ý muốn tránh Trung ương, tránh Đảng, nên họ vẫn lẩn quất ở miền xuôi, miền đồng bằng, gọi là khu Ba, và sau khi khu Ba bị quân Pháp chiếm cứ thì họ tản cư vào Thanh Hoá.

Lúc bấy giờ các văn nghệ sĩ không Đảng này được Nguyễn Sơn, một thiếu tướng Việt cộng trọng dụng, biệt đãi, nên họ có dịp tụ hội lại một nơi và gây thành một sức mạnh. Ngày nay nói đến vụ án Nhân văn tưởng cũng nên nói đến vai trò của Nguyễn Sơn, vì nhóm Nhân văn coi Nguyễn Sơn như một ân nhân. Chứng cớ là hồi Nguyễn Sơn chết tháng 10 năm 1956, báo Nhân văn có đăng một bài khóc Nguyễn Sơn.

Tuy Nguyễn Sơn là một tay cộng sản đã nổi danh ở bên Trung Quốc, nhưng Nguyễn Sơn vẫn chưa gột hết tinh thần quốc gia. Thấy nước nhà kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Sơn nằng nặc xin với Mao Trạch Đông cho về để giúp nước, và khi về nước thì chỉ chú trọng đến việc đánh Pháp, không chú trọng đến việc bành trướng Đảng. Sau này Nguyễn Sơn ngang nhiên chống lại Đảng vì phản đối chủ trương nhận viện trợ của Trung cộng. Nói cho đúng thì Nguyễn Sơn là một thứ Tito trong hàng ngũ cộng sản Việt Nam.

Khi Nguyễn Sơn làm khu trưởng khu Bốn, ông ta tập trung tất cả các văn nghệ sĩ ở khu Bốn lại một nơi rồi giúp cho họ phương tiện để sinh sống, để sáng tác vì Nguyễn Sơn đề cao văn nghệ, và yêu mến văn nghệ. Nhưng từ 1950 trở đi, sau khi Nguyễn Sơn bị đuổi về Tàu thì cuộc đời của nhóm văn nghệ sĩ khu Bốn bắt đầu đen tốị Họ bị bạc đãi nên họ không chịu sáng tác nữa.

Mỗi lần cấp bộ lãnh đạo đòi hỏi thì họ cứ khất lần, họ nói rằng họ còn “đương thai nghén” chưa sản xuất được, và cuối cùng trong mấy năm, từ 1950 cho đến 1954 chẳng có văn nghệ sĩ nào sản xuất gì hết. Thái độ “đình công tập thể” này được chứng minh bằng một câu của cụ Phan Khôi trong bài: “Phê bình lãnh đạo văn nghệ” của cụ. Nói về Thế Lữ, cụ viết: “Còn Thế Lữ, có lần tôi hỏi tại sao anh không làm thơ như trước kia. Anh trả lời rằng đợi đến bao giờ anh ‘chỉnh’ được tâm hồn, cảm thông được với quần chúng cần lao, bấy giờ anh sẽ làm”. Thái độ này không phải chỉ riêng Thế Lữ. Văn Cao, tác giả bài “Tiến quân ca” cũng đã thốt ra rằng: “Nay Đảng bảo phải, mai Đảng bảo sai, ai còn biết đường nào mà sáng tác”.

Nói chung từ 1950 trở đi, nghĩa là từ khi chính sách của Việt cộng thay đổi và các cố vấn Tàu đã sang Việt Nam thì các văn nghệ sĩ không Đảng đã đình chỉ mọi công việc sáng tác. Vì vậy nên từ 1950 trở đi các văn nghệ sĩ kháng chiến không sản xuất được một tác phẩm nào có giá trị, ngoài những bài thơ ca ngợi Đảng, ca ngợi Bác, của nhóm văn nghệ sĩ thuộc thành phần lãnh đạo viết. Tuy có viết, có xuất bản, nhưng những thơ văn nịnh hót đó cũng chẳng có ai đọc.

Đây là một bài Tố Hữu tán dương Hồ Chí Minh và Sít-ta-lin:
Hoan hô Hồ Chí Minh
Cây hải đăng vô sản
Bão táp chẳng rung rinh
Lửa trường kỳ cách mạng
Hoan hô Sít-ta-lin
Đời đời cây đại thọ
Rợp bóng mát hoà bình.

Hoặc là:
Chúng ta có Bác Hồ
Thế giới: Sít-ta-lin
Đảng ta phải mạnh to
Thế giới phải đỏ mình.

Ở một chỗ khác, thi sĩ khát máu hô:
Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong,
Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng
Thờ Mao Chủ tịch, thờ Sít-ta-lin… bất diệt.

Trên đây là thơ của Tố Hữu, còn sau đây là thơ của Xuân Diệu:
Mỗi lần đấu tranh gay go
Chúng con lại được Bác Hồ tới thăm,
Nghe lời Bác dạy khuyên răn,
Chúng con ước muốn theo chân của Người…
Chúng con thề nguyện một lời:
Quyết tâm thành khẩn…
lột người từ đây .
Trên đây là thơ Xuân Diệu nịnh Bác, còn sau đây là lời Xuân Diệu nạt nhân dân. Ta hãy nghe lời hò hét:
Anh em ơi! Quyết chung lưng
Đấu tranh tiêu diệt tàn hung tử thù
Địa hào, đối lập ra tro,
Lưng chừng phản động đến giờ tan xương.
Thắp đuốc cho sáng khắp đường,
Thắp đuốc cho sáng đình làng đêm nay.
Lôi cổ bọn nó ra đây
Bắt quỳ gục xuống, đoạ đày chết thôi…

Đại khái thì từ 1950 cho đến 1954, trong vùng cộng sản kiểm soát chỉ có một lối thơ khát máu như vậy thôi. Là những người văn nghệ sĩ chân chính, còn giữ vững bản tính cao quý của con người, dĩ nhiên ai cũng phải tạm thời gác bút, vì không thể nào hoà điệu được với một hạng người như vậy.
Tóm lại, các văn nghệ sĩ ở vùng kháng chiến đã đình công dài hạn từ 1950 trở đi, để tỏ ý không tán thành đường lối của Đảng, chế độ độc tài của Đảng, và nhất là chính sách “đấu tố” do các cố vấn Trung Quốc nhập cảnh vào Bắc Việt.

Những triệu chứng báo hiệu cuộc nổi loạn

Sau khi Việt cộng về Hà Nội, thì báo chí, sách vở xuất bản ở Hà Nội vẫn đầy rẫy những bài ca tụng Đảng, ca tụng Bác, những bài “anh hùng ca” kêu gọi nông dân đứng dậy tàn sát địa chủ, phản động, lừng chừng. Nhưng hình như từ ngày bác Malenkov bị hạ bệ thì uy tín của Đảng có bị giảm mất một phần. Trên mặt báo giới tuy chưa có bài nào công kích hẳn chế độ, nhưng báo Thời mới, một tờ báo của tư nhân còn sót lại nêu ra nhiều vấn đề để độc giả thảo luận, trong số đó có vấn đề “Yêu nhau có cần tiêu chuẩn hay không?”, nghĩa là: Có nhất thiết phải là cán bộ Đảng mới đáng được các cô con gái yêu không? Ngụ ý của người đưa ra vấn đề này là đả phá cái tệ mới phát hiện ở Hà Nội là các cô gái chưa chồng đua nhau lấy cán bộ Đảng, cán bộ “Bốn túi” (Cán bộ bốn túi là cán bộ cao cấp, vì cán bộ cấp dưới chỉ được mặc áo có hai túi). Lúc bấy giờ có khẩu hiệu “Phi bốn túi bất thành phu phụ”.)

Những bài này không đả động đến đường lối chính sách của Đảng, nhưng một phần nào cũng đã làm giảm uy tín của cán bộ lãnh đạo.

Thế rồi cụ Phan Khôi xuất đầu lộ diện. Nhà Nho bảy mươi tuổi bắt đầu đả kích chế độ bằng một mưu mẹo mà cán bộ cộng sản mắc ngay tức khắc. Cụ được cán bộ giao cho dịch một cuốn sách có chữ Pháp sang tiếng Việt, trong đó có một chữ “Pomme de terre”, cụ dịch ngay ra là “khoai nhạc ngựa”. Cuốn sách cụ dịch được xuất bản, và sau đó ít lâu báo Cứu quốc viết một bài phê bình cụ là lẩm cẩm, bảo cụ: “Sao không dịch là ‘khoai tây’ mà lại dịch là khoai nhạc ngựa. Khoai nhạc ngựa là cái quái gì?” Báo Cứu quốc cứ yên trí rằng cụ Phan đã 70 tuổi đầu nên cụ đã lẩm cẩm. Không ngờ trẻ mắc mưu già. Cụ trả lời ngay bài phê bình đó. Cụ nhận ngay là lẩm cẩm, nhưng cụ phân bua rằng: Cán bộ phụ trách lâu nay cấm cụ dùng chữ “tây”. Có lần cụ dùng chữ “đường tây”, chúng xoá đi mà thay vào chữ “đường kính”. Cụ dùng chữ “chè Tàu” thì chúng chữa là “chè Trung Quốc”, chữ “thịt kho tàu” thì chúng chữa là “thịt kho Trung Quốc”. Lần này để chiều ý chúng, cái gì cũng phải Trung Quốc mới hay, thì cụ dịch “pomme de terre” ra “khoai nhạc ngựa” vì người Trung Quốc gọi nó là “mã linh thư”.
Đấy là lần đầu tiên cụ Phan Khôi mang cái dốt của cán bộ ra giiễu trên mặt báo chí. Việc này chứng tỏ rằng uy tín của cán bộ đã bắt đầu bị suy sụp.

Cuộc khởi nghĩa bắt đầu

Ngày 20 tháng 2 năm 1956 Khrushchev đọc bài diễn văn hạ bệ Stalin. Tuy bài diễn văn này đọc trong một khoá họp bí mật, nhưng tài liệu đó cũng lọt ra ngoài, và không bao lâu toàn thể thế giới đều biết. Việt cộng cố giấu, nhưng giới văn nghệ miền Bắc vẫn biết được, vì họ đọc một vài tờ báo Pháp lọt vào tay họ. Không khí chống lại Đảng dưới hình thức chống tinh thần Stalin bắt đầu. Vào khoảng tháng 3 năm 1956 nhà xuất bản Minh Đức ở chiến khu về cho ra ngay một cuốn sách nhan đề Giai phẩm 1956. Trong cuốn này có nhiều bài nêu lên những thối nát của chế độ. Phùng Quán viết một bài nhan đề là “Cái chổi quét rác rưởi” trong đó anh nói rằng chệ độ miền Bắc đầy những rác rưởi dơ bẩn và anh, lấy tư cách là nhà văn, tình nguyện làm cái chổi quét cho sạch những rác rưởi đó. Cũng trong số đó Lê Đạt có viết một bài nhan đề là “Ông Bình vôi”[1] , trong đó có câu:
Những kiếp người đã sống lâu trăm tuổi
Y như một cái bình vôi
Càng sống càng tồi
Càng sống càng bé lại

Bề ngoài thì bài này chỉ công kích những cán bộ nhiều tuổi Đảng, sống lâu lên lão làng, nhưng kỳ thực người dân Bắc Việt có thể hiểu ngay là ám chỉ ông Hồ Chí Minh, càng sống, càng tồi, vì ngày nay ông Hồ không còn thương nước thương nòi như hồi ông còn là Nguyễn Ái Quốc nữa. Đấy là một thái độ láo xược vô bờ bến, nhưng Việt cộng không dám bắt bẻ, vì nếu nêu bài thơ ấy ra thì mất hết uy tín của ông Hồ. Bài mà họ nêu ra để khủng bố, là bài “Nhất định thắng” của Trần Dần, một nhà thơ trẻ tuổi. Bài thơ dài hơn năm trăm câu, tả sự khổ cực của hai vợ chồng tác giả, thiếu thốn, thất nghiệp, đi trong thành phố Hà Nội mà chỉ thấy “mưa sa và mầu cờ đỏ”. Trong bài thơ ấy, tác giả cũng nêu lên sự đau xót khi thấy hàng vạn người cứ tiếp tục bỏ vùng Việt cộng mà di cư vào Nam. Không nói rõ nhưng ngụ ý của tác giả là: chế độ miền Bắc quá dã man nên họ phải xa lánh, chứ chẳng có ai dụ dỗ họ bỏ nhà bỏ cửa vào Nam như là tuyên truyền Việt cộng vẫn thường rêu rao. Tất cả trách nhiệm về cuộc di cư vĩ đại này Việt cộng phải chịu. Trong bài thơ đó có một đoạn như sau:
Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc
Tai bỗng nghe những tiếng thì thầm -
Tiếng người nói xen tiếng đời ầm ả -
Chúng phá hiệp thương! -
Liệu có hiệp thương! -
Liệu có tuyển cử? -
Liệu tổng hay chẳng tổng? -
Liệu đúng kỳ hay chậm vài năm?
Ôi! Xưa nay Người vẫn thiếu tin Người
Người vẫn kinh hoàng trước tương lai…

(Xem trọn bài trong phần giới thiệu.)
Vì chữ “Người” trong hai dòng cuối bằng chữ hoa, nên cán bộ lãnh đạo vịn ngay vào cớ đó để buộc cho Trần Dần có ý ám chỉ ông Hồ Chí Minh vì xưa nay chữ Người viết hoa vẫn dành riêng cho ông Hồ. Như vậy là tờ Giai phẩm mùa Xuân bị tịch thu và Trần Dần bị bắt, bị mang ra đấu trước một cuộc họp đông đảo của toàn thể các văn nghệ sĩ trong “Hội các nhà văn”. Trần Dần bị quy vào tội phản động và bị bắt giam. Phẫn uất quá, Trần Dần cứa cổ tự tử, nhưng không chết, sau này vẫn mang một cái sẹo ở cổ. Cái sẹo đó trở thành một dấu hiệu của sự áp bức văn nghệ dưới chế độ cộng sản miền Bắc.

Giai phẩm mùa Thu ra đời

Nhưng chẳng bao lâu thì Mikoyan sang thăm Hà Nội để giải thích cho ông Hồ về sự cần thiết phải thay đổi chính sách, phải nới lỏng tay. Tiếp theo đó, ngày 26 tháng 5 năm 1956, họ Mao tuyên bố chính sách “Trăm hoa đua nở”. Và chỉ một tháng sau, công nhân Ba Lan nổi loạn ở Poznan. Việt cộng lúng túng phái cán bộ đi giải thích về vụ Poznan, nhưng dân chúng Bắc Việt nhất thiết không tin lời giải thích của cán bộ.

Cũng vào dịp này, Đảng Lao động bắt đầu cho nhân dân học tập về chính sách mới của Khrushchev. Trong một bài đăng trong báo Nhân văn số 2 xuất bản ngày 20 tháng 9 năm 1956 có một đoạn nói về buổi họp đó như sau:
Đợt học tập của giới văn nghệ tháng tám vừa qua đã là một cuộc tranh đấu sôi nổi của trên 300 người công tác văn nghệ. Phát triển sự việc như thế nào, chỉ trích bè phái như thế nào, xây dựng Trung ương Đảng như thế nào, Nguyễn Đình Thi tổng kết quanh co như thế nào, Nguyễn Hữu Đang tham luận mạnh bạo như thế nào, Tố Hữu nhận lỗi qua loa như thế nào, anh chị em đã nghĩ những gì… báo Nhân dân biết rõ. Thế rồi bè phái lãnh đạo văn nghệ vẫn cứ ngoan cố làm thinh… tuyệt nhiên không giải quyết một nguyện vọng nào của anh chị em.”
Xem đoạn văn đó thì chúng ta thấy rằng quần chúng văn nghệ đã tấn công mãnh liệt vào “bè phái” lãnh đạo, đã đẩy “bè phái” đó vào chỗ bí, không có đường thoát. Như vậy là quần chúng văn nghệ đã nắm được ưu thế, và họ không bỏ lỡ dịp tấn công luôn và liên tiếp.

Ngày 29 tháng 8, 1956 Giai phẩm mùa Thu tập 1 ra đời. Trong tập này cụ Phan Khôi giáng một chuỳ chí mạng vào đầu giai cấp lãnh đạo. Bài của cụ nhan đề là “Phê bình lãnh đạo văn nghệ“. Bài này đã làm nhân dân Hà Nội xôn xao. Có người viết trên báo Thời mới, ví bài của cụ Phan như một “quả bom tạ” thả ngay giữa Hà Nội. Có người thốt lên rằng chín mười năm nay mới lại nghe thấy tiếng nói “sang sảng” của cụ Phan.

Tờ Nhân văn số 1 ra đời vào ngày 15 tháng 9. Giới sinh viên đại học cũng hưởng ứng sôi nổi và xuất bản một tờ báo chống Đảng lấy tên là Đất mới. Tờ tuần báo Trăm hoa của thi sĩ Nguyễn Bính, trước kia hiền lành, nay cũng hưởng ứng phong trào, ra một loạt mới đả kích Đảng. Phong trào lan rộng đến nỗi giọng công kích lan ra cả tờ Thời mới là tờ báo hàng ngày, lâu nay vẫn ngoan ngoãn đối với Đảng . Nó thâm nhập cả vào báo chí của Đảng. Báo Cứu quốc, cơ quan của Mặt trận Tổ quốc cũng nêu ra nhiều tệ hại của chế độ trong mục tự phê bình, nhan đề là Cuốn sổ tay. Mà đặc biệt là báo Nhân dân, cơ quan chính thức của Đảng cũng tiết lộ nhiều “sai lầm”. Cho đến cả báo Học tập, cơ quan nghiên cứu lý thuyết của Đảng cũng nêu ra nhiều vụ hà lạm của cán bộ đảng viên. Nói chung thì suốt trong ba tháng, nhân phong trào sửa sai, tất cả dư luận và toàn thể báo chí đều phàn nàn về bệnh “quan liêu” của bè phái lãnh đạo. Khác nhau là ở chỗ các báo đối lập thì nói thẳng tay, bổ những nhát búa chí mạng vào đầu giai cấp thống trị, còn các báo chí của Đảng thì bất đắc dĩ, thấy người ta nói nhiều và đúng quá, cũng phải a-dua theo, bộc lộ chút ít sai lầm, để tỏ ra mình không ngoan cố lắm, đó là nhất thời và cá biệt, còn nói chung thì Đảng và Bác bao giờ cũng sáng suốt.
Mọi việc “sai lầm” đáng tiếc đều do cán bộ cấp dưới gây ra, còn cấp trên vẫn nắm vững chính sách. Nhưng các báo chí đối lập không thèm đếm xỉa đến cấp dưới mà lại chĩa mũi dùi vào cấp lãnh đạo, nên cùng kỳ lý, Hồ Viết Thắng phải đứng ra tự đọc bản tự kiểm thảo về những sai lầm về Cải cách ruộng đất, Võ Nguyên Giáp cũng phải thay mặt Đảng công nhận những “khuyết điểm”.

Bút chiến với các báo của Đảng

Bị mất hết uy tín, và bị tấn công vào những chỗ yếu, không có cách gì đỡ, các cấp lãnh đạo chỉ có cách là làm thinh. Hồ Chí Minh hoàn toàn không lên tiếng. Tố Hữu sang Bắc Kinh nằm yên trong ba tháng. Bọn “cai văn nghệ” như Hoài Thanh, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư không dám hé răng. Những biến chuyển liên tiếp ở Đông Âu làm cho mấy “ông to” hoang mang, không biết địa vị của họ có còn được vững bền không. Tuy nhiên Đảng cũng phải tìm cách phản ứng bằng cách ra lệnh cho cán bộ chính trị viết những bài phản công trở lại. Bài đầu tiên là của Nguyễn Chương đăng trên mặt báo Nhân dân ngày 25-9-1956. Trong bài này Nguyễn Chương vu cho báo Nhân văn là tay sai của địch, vì theo Nguyễn Chương thì báo Nhân văn công kích địch thì ít, mà công kích ta thì nhiều. Báo Nhân văn liền đập lại bằng một bài như búa giáng. Bài đó do ba cây bút cứng của nhóm Nhân văn là Hoàng Cầm, Hữu Loan và Trần Duy viết và mang đầu đề là “Chúng tôi cực lực phản đối luận điệu vu cáo chính trị”. Họ đốp chát với Nguyễn Chương từ lý luận một, và sau mỗi lý luận, nhóm Nhân văn lại hạ một câu hài hước như sau: ” Bạn cố tình đến thế, chúng tôi còn biết nói sao?”.

Mỗi lần bẻ gãy lý luận của Nguyễn Chương, họ lại láy đi láy lại câu nói trên để nêu rõ tính cách “ngoan cố” của bọn cán bộ Đảng. Vừa bị đập mạnh vừa bị chế giễu, Nguyễn Chương cố gắng thanh minh bằng một bài thứ hai đăng trong báo Nhân dân thì bị luôn Chu Ngọc, trong nhóm Nhân văn giáng thêm cho một chuỳ, bằng một bài nhan đề là: “Quần chúng đã chán ghét lối chặn họng đó rồi”. Thế là Nguyễn Chương im bặt. Đến lượt Hoàng Xuân Nhị lên võ đài tỷ thí.

Hoàng Xuân Nhị là giáo sư thạc sĩ có sẵn một mớ lý thuyết Mác-xít, mang từ Pháp về nên lôi cả ông Mác và Lê-nin ra để đối phó bằng cách dùng lời Lê-nin và Mác để chứng minh rằng văn nghệ phải có đảng tính và văn nghệ sĩ phải triệt để phục tùng sự lãnh đạo của Đảng. Nhóm Nhân văn liền cử ngay một sinh viên đại học là Bùi Quang Đoài, học trò của ông Nhị lên đo sức với ông Nhị. Bùi Quang Đoài vạch ra rằng ông Nhị xuyên tạc lời nói của Lê-nin. Bùi Quang Đoài viết: “Một là ông Nhị không tiêu hoá được tài liệu, hai là ông Nhị đã lợi dụng tài liệu để xuyên tạc. Nó không đúng với tinh thần trung thực của người trí thức“. Sau khi bẻ lý luận của vị giáo sư thạc sĩ, và chê vị giáo sư đó còn dốt lắm, Bùi Quang Đoài kết luận: “Tôi xin đề nghị với ông Nhị một điều… cố gắng nghiên cứu, suy nghĩ, để giữ bản chất trung thực của người trí thức”. Từ đấy không thấy Hoàng Xuân Nhị trở lại võ đài nữa. (Xem trọn bài trong phần tài liệu.)

Chiến thuật khủng bố ngầm

Chiến thuật đó lần lượt được Đảng mang áp dụng qua những thủ đoạn như sau :

  1. Ra lệnh cho mậu dịch không bán giấy in báo cho nhóm đối lập. Thủ đoạn này không có kết quả gì vì nhóm đối lập được nhân dân nhiệt liệt ủng hộ giúp tiền mua giấy ở chợ đen.
  2. Khủng bố những người phát hành. Báo Nhân văn trong số 4 ra ngày 5-11-56 có tố cáo thủ đoạn đó như sau:
    Một khách hàng vào một hiệu sách ở khu Hồng Quảng. Khách hỏi: ‘Ở đây có bán báo Nhân văn không?’. Ông chủ hiệu vừa vuốt râu mép vừa trả lời: ‘Bán báo Nhân văn có mà chết sớm’.”
    Thủ đoạn này lại cũng không thành công vì nhóm đối lập huy động sinh viên và học sinh đi bán.
    Đảng cũng ra lệnh cho bưu điện không phân phát báo Nhân văn. Số báo Nhân văn kể trên cũng tố cáo hành động đó và viết một câu hài hước: “Biết đâu mấy ông ở bưu điện chẳng thích báo Nhân văn quá nên giữ lấy để đọc một mình“.
  3. Khủng bố những người đọc. Hàng loạt cán bộ được tung ra khắp phố phường Hà Nội, xông vào từng nhà một để giải thích rằng báo Nhân văn là báo phản động. Báo Nhân văn có nêu lên một trường hợp rất hài hước là cán bộ đi nói xấu báo Nhân văn vào nhầm nhà một văn nghệ sĩ trong chính nhóm Nhân văn, và bị vợ nhà văn đó trả lời cho mấy câu đanh thép làm cho chị cán bộ phải câm miệng.
  4. Vận động thợ in không in. Để thực hiện mưu mô này, Đảng phải huy động đến Hoàng Đạo là tay gián điệp số một, đã nổi tiếng trong vụ phá hoại chiếc tàu Amyot d’ Inville và trong việc điều tra “Vụ án Bái Thượng”. Hoàng Đạo được tức khắc bổ sang công đoàn để dùng hệ thống công đoàn uy hiếp công nhân nhà máy in, bắt phải đình công không in báo “phản động”. Tuy nhiên, công nhân vẫn không nghe theo. Báo vẫn cứ ra đều, không hề bị gián đoạn.

Vu cáo chính trị

Sau khi phá ngầm không kết quả. Đảng chủ trương phá công khai bằng cách vu khống nhóm văn nghệ sĩ là tay sai của địch, của đế quốc. Để chứng minh việc đó, báo Nhân dân dựng đứng câu chuyện chính phủ miền Nam triển lãm báo Nhân văn Courtinat Sài Gòn (sic). Sự thực thì lúc bấy giờ chính phủ miền Nam chưa có lấy một tờ Nhân văn trong tay, vì mãi đến tháng 11, khi tờ Nhân văn sắp bị đóng cửa mới có được mấy số lọt vào Sài Gòn, do kiều bào ở Paris gửi về. Báo Nhân dân chỉ được tin phong phanh rằng Bộ Thông tin ở Sài Gòn hồi tháng 6-1956 có tổ chức một cuộc triển lãm những tài liệu chứng tỏ Việt cộng không tôn trọng Hiệp ước Genève, tại Phòng Thông tin Sài Gòn ở đường Catinat. Trong cuộc triển lãm này, ngoài những tài liệu chính trị và quân sự chứng tỏ rằng Việt cộng thực sự có cấu kết với Bình Xuyên, Hoà Hảo để quấy rối miền Nam, cũng có một số báo chí Việt cộng, bắt được trong các hầm bí mật, cùng với cán bộ Việt cộng nằm vùng. Nhưng toàn là các báo chí của Đảng như Nhân dân, Tổ quốc v.v… không hề có Nhân văn, vì lý do tờ Nhân văn lúc đó chưa ra đời. Báo Nhân dân lại chỉ nhớ mang máng nên lầm Catinat thành Courtinat, một cửa tiệm bán tạp hoá của người Pháp ở cùng phố.

Ngoài cái “chứng cớ” tưởng tượng kể trên, Đảng cũng không nại thêm được chứng cớ gì khác, nhưng cứ nhất định rêu rao rằng nhóm Nhân văn là tay sai của địch, là gián điệp của Phòng Nhì, của Mỹ, là tờ-rốt-kít phá hoại, vân vân… đủ thứ danh từ mà trước kia Đảng đã rộng rãi tặng cho giai cấp địa chủ.

Đóng cửa báo Nhân văn

Sau khi báo Nhân dân vạch tội “gián điệp” của nhóm văn nghệ sĩ đối lập thì Đảng tổ chức học tập ở khắp mọi nơi, và sau kỳ học tập, tất cả các đoàn thể công nông binh, cho đến cả học sinh và dân “Nam bộ tập kết” đều phải ký vào bản kiến nghị lên án nhóm Nhân văn và đòi chính phủ phải có biện pháp trừng trị. Dựa vào kiến nghị của “mọi tầng lớp nhân dân”, Đảng ra lệnh cho Uỷ ban Hà Nội ký giấy đóng cửa tờ báo Nhân văn và tịch thu tất cả mọi số đã phát hành kể từ số 1.

Ngày 15 tháng 12-1956, ông Hồ Chí Minh ký một sắc lệnh tước quyền tự do ngôn luận của báo chí và bắt phải phục vụ “công nông binh”, phục vụ nền vô sản chuyên chính mệnh danh “chính thể dân chủ cộng hoà”. Sắc lệnh cũng doạ phạt tù từ 5 năm đến khổ sai chung thân, kèm theo tịch thu một phần hay toàn bộ gia sản, nếu ai còn phạm vào những điều cấm.

Sau khi sắc lệnh được ban bố, những tờ báo khác như Trăm hoa, Đất mới, Giai phẩm đều chết không có cáo phó.

Sự thực thì những điều cấm trong sắc lệnh ngày 15-12-1956 đã có ban bố trước, ngay từ khi Việt cộng mới về tiếp thu Hà Nội, hồi tháng 10 năm 1954. Nhưng hồi đó tất cả các báo chí đều là báo chí của Đảng, nên Việt cộng chủ quan, chỉ mở một cuộc họp báo ở Phòng Thông tin, phố Tràng Tiền, rồi giao hẹn mồm về mấy điểm cấm đoán . Đại khái có 5 điều:

  • Không được chống chính phủ, chống chế độ;
  • Không được xúi giục nhân dân và bộ đội làm loạn;
  • Không được nói xấu các nước bạn;
  • Không được tiết lộ bí mật quân sự;
  • Không được đăng bài vở có phương hại đến thuần phong mỹ tục.

Một lý do khác là lúc bấy giờ Việt cộng mới ở chiến khu về Hà Nội là nơi có tai mắt quốc tế, muốn tỏ ra có thái độ “yêu chuộng tự do” hơn “phe quốc gia”, nên tránh không muốn cấm bằng sắc lệnh, sợ gây dư luận, nên chỉ đe doạ bằng mồm.

Họ không ngờ rằng “khẩu thiệt vô bằng”, sau này nhóm văn nghệ sĩ đối lập cứ làm như quên không nhớ và cứ ra báo một cách rất tự nhiên để chống lại chế độ, chống lại Đảng.

Đảng ra báo Văn

Sau khi đóng cửa tờ báo Nhân văn, và bóp chết mấy tờ báo đối lập khác, Đảng thấy cần thiết phải cho ra một tờ tạp chí văn học để thay thế, vì chả lẽ trong nước không có lấy một tờ báo nào chuyên về văn học. Đảng bèn chỉnh đốn lại Hội Văn nghệ, bắt bầu lại ban chấp hành, gạt những phần tử đối lập ra và đưa toàn những “cai văn nghệ” vào ban chấp hành mới. Lúc bấy giờ một mình trên võ đài, Đảng tha hồ chửi rủa nhóm Nhân văn là phản động, là gián điệp tay sai của địch. Đảng cho phép Hội Văn nghệ xuất bản tờ tạp chí Văn. Chủ bút là Nguyễn Công Hoan, phó là Nguyễn Tuân và Tổng thư ký toà soạn là Nguyên Hồng.

Báo Văn xuất bản mỗi tuần một kỳ. Một nửa số trang dành riêng cho những bài dịch tiểu thuyết Nga, một nửa khác gồm toàn những bài tán tụng văn học Trung Quốc vĩ đại. Kết quả là giá trị văn nghệ rất kém, không ai buồn xem. Lý do là vì các văn nghệ sĩ có tài đều một lòng tẩy chay, bất hợp tác với cơ quan ngôn luận của Đảng.

Báo Văn bị chỉnh

Thấy báo Văn nhạt nhẽo quá, Đảng lấy làm ngượng và tức bực, nên nóng mặt phải lên tiếng. Tờ Học tập, cơ quan nghiên cứu lý thuyết của Đảng viết một bài chê báo Văn là dở. Tác giả bài đó là Thế Toàn, một cán bộ chính trị còn ít tuổi viết:
Qua 10 số đầu của tuần báo Văn, chúng tôi nhận thấy nội dung tờ báo còn nghèo nàn. Tờ báo hầu như xa rời thực tế, xa rời cuộc sống, tách rời những nhiệm vụ trung tâm của cách mạng.”
Nguyên Hồng, Tổng thư ký toà soạn của báo Văn bị mất mặt nên phải ứng ngay bằng một bài trả lời Thế Toàn, đăng trong báo Văn số 15 ra ngày 16 tháng 8-1957. Sau khi gạt phăng những lời buộc tội của đối phương, Nguyên Hồng phê bình trở lại Thế Toàn là công chức, là quan liêu và “trịch thượng”.

Báo Văn quay ra chống Đảng

Sau đó người ta thấy báo Văn thay đổi thái độ. Những bài nịnh Đảng thấy bớt dần, và những bài xược với Đảng thấy mỗi ngày một nhiều thêm. Nhìn đến tên tác giả các bài có ngụ ý chống Đảng, thấy tên các nhà văn trước kia đã viết trong nhóm Nhân vănGiai phẩm.

Người đầu tiên là Phùng Quán. Phùng Quán là một sinh viên trước kia đã viết bài “Chống tham ô lãng phí” đăng trong Giai phẩm mùa Thu. Lần này Phùng Quán viết bài “Lời mẹ dặn”. Bà đó có những câu như sau:
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều,
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù cầm dao doạ giết
Cũng không nói ghét thành yêu.

Tôi muốn làm nhà văn chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã.
Bút giấy tôi, ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn trên đá.
Đến tờ Văn số 24, độc giả lại thấy Hoàng Cầm xuất hiện. Hoàng Cầm là một chiến tướng của nhóm Nhân văn. Ở đây Hoàng Cầm viết một vở kịch thơ ngắn, nhan đề là “Tiếng hát”, nói về chuyện Trương Chi. Nhưng Hoàng Cầm biến lời hát của Trương Chi thành tiếng gọi của Tự Do. Mỵ Nương tượng trưng cho giới văn nghệ bị kìm hãm trong ngục tù, và ông Quận công, người cha của Mỵ Nương tượng trưng cho uy quyền độc đoán của Đảng.

Tiếng hát của Trương Chi kêu gọi mọi người bị cộng sản hành hạ, đấu tố, hãy đứng dậy. Trương Chi hát:
Nào người quả phụ trắng khăn tang
Nào đứa em mồ côi khát sữa
Nào ai sống nhục chết oan
Nào ai tan lìa đôi lứa
Nghe tiếng hát này…
Trong khi đó thì cha của Mỵ Nương (ngụ ý muốn nói Đảng):
vừa truyền lệnh
khoá kín cửa lầu,
lấp cả sông
Để không còn tiếng hát!
Nhưng mặc dầu ngăn cấm bằng cách nào, tiếng kêu gọi Tự Do vẫn lọt tới lòng người:
… cửa ngoài bằng đá tảng
Tiếng hát đẩy được vào
Vì đó là tiếng gọi của trời cao
Của đất rộng…
Và Mỵ Nương (ý muốn nói giới văn nghệ sĩ) vẫn gan góc:
Ta mở được, ta vượt qua tường đá
Ta chạy ra sông! Đi bốn phương trời
Tìm tiếng hát… ta đi cùng thiên hạ…

(Xem trọn bài trong phần tài liệu)
Tóm lại, ý chính của Hoàng Cầm là nhất định chống lại sự áp bức của Đảng và quyết tâm phá tan mọi gông cùm xiềng xích.

Sau Hoàng Cầm đến lần Trần Duy xuất hiện. Trần Duy vẽ một bức tranh khôi hài chế giễu sự can thiệp thô bạo của Đảng vào văn nghệ. Ông vẽ một bức tranh tả một người hoạ sĩ đang vẽ một đoá hoa. Cán bộ bắt bẻ, bắt phải vẽ thêm hết thức này đến thức khác để cho hợp với đường lối chủ trương của Đảng. Sau khi tuân theo lời cán bộ vẽ thêm mãi vào bức tranh, bức tranh biến thành một thứ hổ lốn, không có nghĩa lỳ mà cũng không còn mỹ thuật. (Xem tranh ở trang sau.[2] )

Cuối cùng là kiện tướng Phan Khôi ra mắt. Cụ viết một truyện ngắn về gia đình cụ, nhan đề là “Ông Năm Chuột”. Câu chuyện dài dòng, nhưng ngụ ý của cụ là giai cấp thống trị thuở xưa cũng như giai cấp thống trị ngày nay, đều đầy dẫy những thối nát, nhưng cứ cố tình che đậy. Mặc dù khéo léo che đậy, trong dân gian vẫn có những người ranh mãnh, nhìn thấy hết. Che đậy cũng vô ích. (Xem bài “Ông Năm Chuột” trong phần tài liệu.) Bài đó kết thúc số phận báo Văn. Đảng bắt Hội Văn nghệ phải đình bản tờ báo ngay tức khắc.

Đấu tố văn nghệ sĩ

Lúc mới đóng cửa báo Văn thì Đảng còn hy vọng có thể dàn xếp được, nên Hội Văn nghệ tuyên bố là chỉ tạm đình bản một kỳ, lấy cớ là để sửa soạn số Tết. Nhưng suốt trong ba tháng, Hội không thể tái bản được tờ báo, vì tất cả các văn sĩ đều tẩy chay. Đảng không còn cách gì hơn là khủng bố sắp lượt.

Việc đầu tiên là bắt 304 văn nghệ sĩ đi chỉnh huấn. Như thường lệ, mọi người đi chỉnh huấn đều bị dồn ép, áp bức tinh thần cho đến mức phải bộc lộ những sai lầm và viết bài “tự kiểm thảo”.

Có bốn người không chịu đi dự lớp chỉnh huấn: Phan Khôi, Trương Tửu, Thuỵ An và Nguyễn Hữu Đang. Đảng ra lệnh bắt Thuỵ An và Nguyễn Hữu Đang giam vào nhà pha Hoả Lò. (Nguyễn Hữu Đang hình như đã tự tử sau khi bị bắt [3] )Trương Tửu bị cất chức giáo sư ở trường Đại học Văn khoa, vợ con và cả gia đình nhà vợ bị bao vây kinh tế, nghĩa là rút giấy phép buôn bán (gọi là giấy đăng ký).
Cụ Phan Khôi vì đã 73 tuổi, và vì có nhiều uy tín trong nước, nhất là đối với trí thức ở miền Nam, nên hiện được để yên. Tuy nhiên cụ bị “treo giò” không được giao thiệp với ai mà cũng không ai được lui tới thăm cụ. Mặc dù vậy, cụ nhất định không chịu đầu hàng. Ngồi nhà cụ vẫn viết một cuốn sách nhan đề là Nắng chiều gửi đến ban chấp hành Hội Văn nghệ để chửi cộng sản một cách thậm tệ (Xem phần tài liệu).

Trong khi mấy lãnh tụ của nhóm Nhân văn bị cô lập, hoặc bị bắt thì Đảng mở một chiến dịch chửi rủa họ, rộng lớn hơn tất cả mọi chiến dịch chửi rủa từ xưa tới nay. Chiến dịch này kéo dài mãi đến nay vẫn chưa hết.

Đảng cũng còn nhận thấy “nọc độc Nhân văn” đã thấm nhiều vào đầu óc mọi người, nên bắt tất cả giới trí thức, công chức, cán bộ, học sinh và cả cán bộ bộ đội, phải tẩy não sắp lượt.

Số phận hiện nay của các văn nghệ sĩ đối lập

Sau cuộc chỉnh huấn thì mặc dầu đã thú tội, các văn nghệ sĩ ở miền Bắc đều bị đưa đi “học tập lao động“. Mọi người đều phải đi và Đảng nhận thấy rằng trong cuộc “khởi nghĩa hụt” vừa qua, mọi người đều bị ảnh hưởng “xấu” của nhóm Nhân văn, không ít thì nhiều. Tuy vậy sự trừng phạt cũng tuỳ theo tội trạng. Nhẹ thì được lao động ít, phái đi những nơi gần. Nặng thì bị đầy đi nước độc, phải lao động nhiều.

Một đoạn ngắn trong bài “Nắm chắc lấy vũ khí chiến đấu của chúng ta” đăng trong tạp chí Văn nghệ số 7, tháng 7-1958, để lộ chính sách đó:
Mọi người đều thấy là cần thiết và rất hoan nghênh một việc quan trọng mà ban chấp hành hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật đã đề ra là tất cả các văn nghệ sĩ đều phải cố gắng, tích cực đi vào thực tế đời sống công nông binh ‘tham gia lao động’. Tất nhiên nhóm phá hoại Nhân văn-Giai phẩm cũng đi với chúng ta, nhưng việc làm của họ hoàn toàn có ý nghĩa khác”.
Ý nghĩa khác đó, là không phải đi để “học tập lao động” mà là đi để “an trí”, để được giao phó cho chính quyền và chi bộ địa phương quản thúc, để làm như một tên tù khổ sai và để muỗi độc chích thêm cho một liều vi trùng sốt rét, vì Đảng cho rằng 9 năm vừa qua, lá lách của những người anh dũng đó, tuy có sưng nhưng chưa rụng hẳn. Vậy họ bị đưa đi những nơi đâu? Trở lại những nơi hẻo lánh, những nơi “ma thiêng nước độc” mà họ đã từng lặn lội trong chín năm trời. Trong thời gian trước họ không chết, vì họ còn là chiến sĩ, là đảng viên, họ có trợ cấp, có thuốc thang. Khu Việt Bắc âm u, trước kia là trung tâm cách mạng, nay lại trở lại nơi giam cầm chính trị phạm.

Những trại giam được thiết lập ở đâu? Sinh hoạt trong trại ra sao? Và tội nhân khi tới nơi phải làm những công việc gì? Chúng ta hãy nghe Yến Lan, một văn sĩ tập kết kể lại. (Nên nhớ rằng Yến Lan chưa phải là đầu sỏ, chưa được xếp hạng vào loại “tử tù”.)

Yến Lan kể: (Trích báo Văn học số 9, ngày 15-8-1958)
“… Đây là một vùng đồi trọc… không một quán, cũng không một mái chùa, một cây đa cổ thụ. Nhà dựng ở chân đồi, lúp xúp một kiểu… Huyện lỵ trông bề ngoài thật là nghèo khổ. Toàn là nhà tranh, lèo tèo, ngắn ngủn… Huyện lỵ cách thôn chúng mình hơn ba trụ số. Đi vào ngang qua những cánh đồng, rìa theo triền đồi và vượt qua sườn đồi. Lên cao xuống thấp, lòng mỗi người lại nghĩ đến một cảnh nào như đã sống quen, hoặc có đi qua, và hái được một số kỷ niệm chiến khu, một cảnh nghỉ chân trên đường phiêu lãng cũ. Riêng Lan, sao mà tha thiết nhớ đến An Khê.

Ba hôm đầu, tổ mình đã đi vào sản xuất, cùng theo xã viên ra đồng làm ruộng. Lan đã bừa trong ruộng nước. Lại cầy và tát nước. Mấy hôm nay cắt lá, vớt bùn ao làm phân xanh.

… Lúc mới về, hỏi ra tình hình sinh hoạt, thấy thừa người lớn, vắng trẻ con (ở đây đẻ nhiều nhưng nuôi được it), nhiều người chân phềnh ra như chân voi…” (Yến Lan)
Và đây là một cảnh khác, do Hoàng Chương, một cán bộ “văn công” khu V tập kết và bị “cưỡng bách lao động” kể lại: (cũng trích trong bài báo kể trên):
“… Từ nhà đến đồng Cống xa chừng ba cây số. Chúng tôi dậy thật sớm tranh thủ gánh phân để tránh bớt nắng trưa. Tôi nhớ năm nào tiếp tế bộ đội ở chiến trường, gánh lúa bốn mươi cân leo dốc, nhờ vui và thích mau gặp bộ đội nên quên mệt.[4] Cô Thu, người Hà Nội, trước chưa quen gánh, hôm nay cũng cố được hai mươi cân. Nhìn Hùng cởi trần gánh thoăn thoắt, ai biết đó là một sinh viên Hà Nội. Cuộc sống vui vẻ thân mật, tôi thấy như sống giữa gia đình, làng xóm của mình ở miền Nam!” (Hoàng Chương, Hội Văn công Liên khu V)
Không bút nào tả được tâm trạng của những con người yêu chuộng Tự Do, đã hy sinh tất cả để theo đuổi kháng chiến, đã vô tình giúp sức cho cộng sản thành công, và khi cùng nhau tới đích, mới sống ở Hà Nội chưa được bao nhiêu ngày lại bị cộng sản đưa trở lại “chiến khu” để sống nốt những ngày tàn. Phong kiến ngày xưa không bao giờ bội bạc với công hầu một cách “tập thể” như vậy.

Chương III: Phương pháp đấu tranh của trí thức ở miền Bắc

Lịch sử loài người đã ghi chép nhiều chế độ tàn bạo: Tần Thuỷ Hoàng, Néro, Hitler, vân vân. Nhưng chưa có một chế độ nào vô nhân đạo bằng chế độ cộng sản. Đây là một điểm cần phải nhận định. Điểm thứ hai là các chế độ bạo tàn từ trước tới nay đều chỉ dùng bạo lực để đàn áp dân chúng, không dùng đến thủ đoạn, do đó, dân chúng còn một lối thoát là dùng mánh lới để lừa dối chính quyền. Trong thời Pháp thuộc chúng ta đã nghe câu chuyện vợ lên huyện tố cáo chồng nấu rượu lậu, để sau khi chồng đi tù, vợ ở nhà yên tâm… nấu rượu lậu. Mưu mô, mánh lới, vốn dĩ là khí giới của kẻ yếu.

Ngày nay, dưới chế độ cộng sản, thì thứ khí giới đó không còn hiệu nghiệm, vì chính quyền cộng sản, mới xuất thân từ nơi dân chúng, không lạ gì thứ khí giới đó, và còn biết dùng nó một cách hiệu nghiệm hơn mọi người vì cộng sản có phương tiện phổ biến kinh nghiệm, có cả một hệ thống tay sai để bố trí lừa bịp đại quy mô.

Vì vậy nên một cuộc cách mạng chống cộng, phát xuất ngay trong lòng cộng sản phải có những chiến thuật tinh vi hơn những chiến thuật đã được áp dụng từ trước tới nay, trong mọi cuộc cách mạng khác.

Trong cuộc nổi dậy vừa qua của trí thức ở miền Bắc, những người tham gia đã áp dụng phương pháp gì, chúng ta là những người ngoại cuộc khó lòng biết rõ. Tuy nhiên, theo rõi tin tức bằng báo chí và nhất là nghiên cứu các bản thú tội của một số nhân vật trong nhóm Nhân văn-Giai phẩm, chúng tôi tạm ghi ở nơi đây một số ít nhận xét. Chúng tôi tạm phân tách đường lối chống đối của giới trí thức đối lập thành một số chiến thuật.

1. Chiến thuật bất hợp tác

Nói nôm là tẩy chay Đảng, không viết bài do Đảng “com-măng”. Hễ cán bộ Đảng, những “cập-rằng văn nghệ” thúc giục thì thoái thác nói rằng chưa nắm được thực chất vấn đề, còn đang tìm cảm hứng, hoặc dây dưa khất lần, nói rằng sắp sửa viết, hoặc còn đương “thai nghén”. Nếu bị bức quá, bị doạ cắt sinh hoạt phí, hoặc đuổi ra khỏi trại thì cầm bút viết quấy quá cho xong chuyện, hay dở không cần. Nếu bị khiển trách thì lấy cớ là tại “chưa lột được xác”. Đa số văn nghệ sĩ đã áp dụng chiến thuật này trong suốt thời gian kháng chiến. Bà Nguyễn Thị Kim, một điêu khắc gia có tài, nhận ba sào ruộng của chính phủ cấp để cày cấy sinh nhai, nhưng đến khi kiếm tạm đủ ăn thì không nặn tượng nữa. Lãnh đạo hỏi tại sao không nặn, thì bà rêu rao rằng tại cày cấy khó nhọc, tay bị cứng rắn không nặn được tượng nữa.

Cũng vì giới văn nghệ miền Bắc trường kỳ áp dụng chiến thuật đó, nên suốt trong thời gian kháng chiến nền văn nghệ của Việt Minh không phát triển. Trong chín năm liền, trừ một vài bài thơ ca ngợi Bác Hồ, ông Sít-ta-lin, của Tố Hữu, của Xuân Diệu, ngoài ra không có một tác phẩm nào đáng kể, trừ một số thi ca có tính chất lãng mạn bị cấm không cho phát hành.

Chúng ta thấy giới văn nghệ ở miền Bắc chỉ thực lòng sáng tác khi họ cầm bút viết bài chống lại Đảng, trong hai năm 1956 và 1957. Những bài của họ mà chúng tôi sẽ trích trong phần tài liệu đáng được coi là những kiệt tác trong văn chương nước nhà và thế tất sau này phải ghi vào văn học sử. Một số bài được dịch ra ngoại ngữ và phổ biến ở nhiều nơi, đã làm ngoại quốc thán phục. Văn chương chống cộng ở miền Bắc đã được liệt vào hạng hiếm có nhất trên thế giới. Nhưng sau khi tờ Nhân vănGiai phẩm bị đóng cửa thì một lần nữa các văn nghệ sĩ ở miền Bắc lại rút lui vào thế tiêu cực. Khi Đảng cho ra tờ báo Văn để thay thế tờ Giai phẩm, họ tẩy chay không viết, cho đến lúc mấy ông cập-rằng văn nghệ phụ trách tờ Văn nổi loạn nốt, mời họ tiếp tay, họ lại cầm bút một lần nữa. Hiện nay chắc họ lại đương “thai nghén”, nhưng họ sẽ không đẻ ra một tác phẩm “đề cao cộng” như Đảng mong muốn, mà trái lại, hễ gặp thời cơ thuận tiện họ sẽ đẻ ra những tác phẩm “chống cộng” còn mạnh mẽ hơn những tác phẩm trước.

Sự thực thì cộng sản có thể cưỡng bách mọi người bắt phải lao động chân tay, nhưng không thể nào bắt một nhà văn phải sản xuất theo ý muốn, đúng phẩm, đúng chất, vì sáng tác văn nghệ là một công việc chế biến trong đầu não, không có phương thức gì thôi thúc hoặc lãnh đạo được. Không danh, không lợi, những nhà văn đã từng sống nhiều năm “không một ngọn đèn, không một củ khoai”, tất nhiên có thể “đình công thụ động” một cách lâu dài. Chiến thuật “bất hợp tác” của các nhà văn Việt Nam đối với cộng sản cùng một sắc thái giống phong trào “bất hợp tác” của thánh Gandhi đối với thực dân Anh.

2. Chiến thuật “Vờ ca ngợi Đảng để công kích Đảng”

Chiến thuật này rất phổ thông. Không ai không áp dụng, nhưng người áp dụng chiến thuật đó một cách tài tình hơn mọi người là ông Nguyễn Mạnh Tường.

Trong suốt bài diễn văn dài tới 40 trang,[5]ông lên án khắt khao toàn bộ chính sách cộng sản, nhưng ông không để hở một dịp nào khiến Đảng có thể gán cho ông tội “chống Đảng” vì, xen lẫn vào những lời đả kích chính sách, thỉnh thoảng ông lại tỏ lời ca ngợi Đảng và tuyên bố rằng ông vẫn tin tưởng ở Đảng. Khôn ngoan hơn những người khác, ông Tường không mạt sát Trường Chinh, vì ông biết trước rằng Trường Chinh còn có ngày trở lại địa vị lãnh tụ. Trái lại, ông ca ngợi Trường Chinh, thường nhắc lại những lời thú nhận của Trường Chinh để bênh vực cho thái độ của mình. Ý ông muốn nói: “Đây, chính ông Trường Chinh cũng phải công nhận là sai lầm, đâu phải chỉ có mình tôi”. Có thể nói là trong tất cả các tài liệu chống cộng sản suốt trong hai năm 1956 và 1957, bài diễn văn của ông Tường có kết quả tai hại nhất đối với cộng sản, được báo chí ngoại quốc chú ý đặc biệt, trích đăng, phê bình, sử dụng làm tài liệu nghiên cứu tình hình Bắc Việt,[6]thế mà Việt cộng không hề làm gì nổi ông Tường, không dám lên tiếng chửi rủa ông như họ đã chửi rủa những người khác, vì không khép ông vào tội gì được. Lẽ dĩ nhiên, ông Tường là luật sư, nên ông có “mồm mép”, vừa biết rào trước đón sau như những người không học luật.

Người khôn khéo thứ hai là cụ Phan Khôi. Trong bài “Phê bình lãnh đạo văn nghệ”[7]cụ mạt sát Đảng không nể lời, nhưng cụ vẫn cứ rêu rao là cụ sẵn lòng chịu sự lãnh đạo của Đảng.

Kế đến những nhà văn đứng tuổi khác như ông Đào Duy Anh, ông Trần Đức Thảo, ông Sỹ Ngọc, ông nào cũng biết dè dặt chỗ cần phải dè dặt. Công kích “quá tả” hoạ chăng chỉ có ông Nguyễn Hữu Đang và mấy ông ít tuổi hơn. Tóm lại, chiến thuật chung là vờ ca ngợi Đảng để công kích lại Đảng. Như vậy mới tránh được sự khủng bố của Đảng. Tránh khủng bố để duy trì lực lượng, để củng cố phong trào và để lôi cuốn một số đảng viên bị nhồi sọ lâu ngày, còn đang quá ư tin tưởng ở Đảng.

Trần Dần đã tả lại chiến thuật của ông bằng mấy lời sau đây:
Viết bây giờ nên làm lối ‘xôi đỗ’, tức là đả kích xen ca ngợi thì lãnh đạo (Đảng) cũng phải chịu“.
Riêng về trường hợp ông Trương Tửu thì cả một nghi vấn đương được nêu lên. Ông công kích chính sách của Đảng một cách gắt gao hơn ai hết, nhưng không đứng trên lập trường “dân chủ” để công kích. Ông mang lý thuyết Mác-Lê chính thống ra để so sánh và kết luận rằng Việt cộng đã đi sai đường lối Mác-Lê, đã phản bội chủ nghĩa Mác-Lê. Nói một cách khác, ông Tửu vẫn đứng trên lập trường Đệ Tứ để công kích Đệ Tam.

Vì vậy mà Việt cộng hiện quy ông Tửu là Trotskiste. Điều đó cũng đúng một phần, vì trước kia ông Tửu ở trong nhóm Hàn Thuyên. Nhưng với một người như ông Tửu, đã kinh nghiệm qua hơn mười năm chung sống với cộng sản, đã bị đấu tố[8] thì khó lòng tin được rằng ông không có dịp để nhận định rằng toàn bộ chủ nghĩa Mác-xít là sai. Biết đâu việc ông đề cao chủ nghĩa Mác-Lê chỉ là một chiến thuật. Ông Tửu xưa nay vẫn có tính thích lập luận một cách độc đáo, khác với mọi người.

3. Chiến thuật giai đoạn

Chia cuộc đấu tranh thành từng giai đoạn và ấn định cho mỗi giai đoạn một mục tiêu hợp với hoàn cảnh chủ quan và khách quan là một chiến thuật do cộng sản Đệ Tam khai sinh và áp dụng một cách thường xuyên. Ngày nay, những người trong hàng ngũ cộng sản được cộng sản đào tạo lại mang chính chiến thuật đó ra để chống lại cộng sản. Bắt chước cộng sản, họ tìm ra những điểm yếu nhất của cộng sản để đả phá trước tiên. Hễ phá vỡ được phòng tuyến của đối phương họ mới tìm cách tấn công rộng ra một chỗ khác, dần dần đi tới chỗ bác bỏ toàn bộ chủ nghĩa cộng sản.

4. Chiến thuật “nhất điểm lưỡng diện”

Nhất điểm lưỡng diện là một chiến thuật quân sự của tướng Lâm Bưu, đã được mang ra áp dụng tại chiến trường Cao Ly. Lâm Bưu chủ trương không tấn công toàn diện mà dồn hết lực lượng tấn công một nhược điểm, mang trọng pháo đi đầu bắn phá tan hoang, mở lối cho công binh dọn đường vào trước rồi bộ binh kéo theo sau. Khi bộ binh đã đột nhập vào đồn trại của địch thì đánh toả ra hai bên. Hạ xong một đơn vị phòng thủ của địch thì tức khắc phân tán lực lượng, tập trung tại một nơi khác để tấn công một vị trí khác.

Ngày nay nếu chúng ta nghiên cứu phương pháp tấn công của nhóm Nhân văn-Giai phẩm, ta phải công nhận rằng họ đã áp dụng một phương pháp tương tự. Họ kết hợp tất cả các lực lượng chống Đảng, học sinh, sinh viên, cán bộ cũ bị xử trí oan, cán bộ miền Nam tập kết, phối hợp tất cả các lợi khí tuyên truyền, thơ ca kịch, nhạc, truyện ngắn, truyện dài, để đại tấn công vào một điểm yếu của Đảng.

Lấy việc công kích mậu dịch làm tỉ dụ. Chúng ta thấy không biết bao nhiêu tài liệu nhằm đả kích mậu dịch. Nào là thơ trào phúng, truyện ngắn, tranh vẽ đều mang mậu dịch ra chế giễu. Ngay cả trong bài diễn văn của ông Nguyễn Mạnh Tường, chúng ta cũng thấy một đoạn dài nói về những tệ hại của mậu dịch. Các văn sĩ biết rằng công kích mậu dịch thì vừa lôi cuốn thành phần công thương bị mậu dịch bóp chết, vừa hái được sự đồng tình của quảng đại quần chúng (trong đó có cả cán bộ cấp dưới) vì mọi người đều bị điêu đứng mỗi khi phải đến mậu dịch mua hàng. Một mặt khác đánh vào mậu dịch tức là giáng một đòn vào nền kinh tế của Đảng, nên đối với các nhà văn chống Đảng, mậu dịch là phòng tuyến cần phá vỡ trước tiên.

Lê Đạt đã bộc lộ rằng:
Mậu dịch là chỗ yếu của Đảng, ai cũng biết, đánh vào đấy sẽ được quần chúng ủng hộ đấu tranh với Đảng, và báo chí của Đảng dù có muốn phản công lại cũng chịu.”
Câu nói đó chứng minh một chiến thuật.

Về lãnh vực văn nghệ thì các văn nghệ sĩ tập trung mũi dùi vào một người. Người đó là Tố Hữu, trước kia đã được Việt cộng tôn là “thần tượng” của thi ca Việt Nam. Chỗ yếu của Tố Hữu là đã làm nhiều bài thơ ca ngợi Sít-ta-lin quá lời, gọi Sít đại nhân là “ông nội”. Ngày nay “ông nội” bị bác Khrushchev quy cho đủ thứ tội, nên Tố Hữu không dám há miệng. Đứng trước tình hình đó, tấn công vào Tố Hữu trước tiên phải là thượng sách. Kẻ thù không có phương thế chống đỡ mà hạ được thần tượng đó tức là gạt bỏ một cục đá tảng ngăn đường tiến thủ của các mầm non trong văn nghệ. Về một mặt khác, Tố Hữu là một trong “thập bát tú” (mười tám Trung ương uỷ viên) nên đánh được Tố Hữu tức là hạ uy thế của Trung ương Đảng.

Tấn công xong Tố Hữu thì mặt trận tấn công lan ra các “cập-rằng văn nghệ” như Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, quây quần xung quanh “vị thần tượng” Tố Hữu. Bài “Phê bình lãnh đạo văn nghệ” của cụ Phan Khôi và nhiều bài khác của Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Phùng Quán, bài “Thi sĩ máy” của Như Mai đều nhằm mục tiêu này. Cứ như vậy rộng dần ra toàn thể “giai cấp mới”, giai cấp cán bộ Đảng lộng hành và thối nát, nịnh trên nạt dưới, gây nên biết bao nhiêu tai hoạ trong dân gian.[9]

Về sự áp dụng chiến thuật này, Trần Dần đã bộc lộ rằng: “Viết về Cải cách ruộng đất bây giờ phải đánh Trung ương là chính, thứ nữa mới đánh cán bộ, thứ nữa mới đến cốt cán“.

5. Chiến thuật bảo tồn lực lượng

Vì biết phong trào vừa mới manh nha, lực lượng tấn công còn yếu, đối phương còn nắm vững guồng máy cai trị, nên các văn nghệ sĩ đối lập phải thận trọng, vừa tấn công Đảng vừa cố gắng bảo toàn lực lượng. Do đó họ phân công mỗi người mỗi việc. Những nhà văn sẵn có tên tuổi như cụ Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang thì đứng ra công khai để tranh đấu, còn những văn sĩ trẻ tuổi thì nấp sau để phục kích, mỗi lần bị Đảng phản công. Trần Dần viết như sau:
Nhóm Giai phẩm mùa Xuân hồi đó tạm thời phân tán, người nằm vào hẳn báo Nhân văn, như Hoàng Cầm, Lê Đạt. Người ném đá giấu tay như tôi, Tử Phác,… Còn như Văn Cao, Đặng Đình Hưng thì đứng bên ngoài ủng hộ mà nhân đó hoạt động phối hợp bên Nhạc…”
Ở một đoạn khác trong bài kiểm thảo Trần Dần viết:
Tôi nghĩ bây giờ cọ lắm sầy vẩy, phải tìm những cách khôn khéo hơn. Văn Cao có đề ra ý kiến: ‘Bây giờ cứ nắm cơ sở, tức là nắm các nhóm sáng tác, lâu dần nhân tâm sẽ hướng về mình’. Từ đó tôi áp dụng một cái jeu serré (nước bài chặt chẽ) hơn trước. Tôi hay nói với anh em: ‘Võ phải cho kín mới được’. Trước hở quá rồi, đấu tranh bộ đội, Giai phẩm mùa Xuân, Nhân văn dều manh động, vaines agitations cả. Chỉ có chui vào sáng tác tức là cái giáp trụ rắn nhất (Đảng) đánh cũng không chết.”
Đến khi nhận thấy phong trào đi quá nhanh, Đảng bắt đầu dùng bạo lực để khủng bố, thì các văn nghệ sĩ đối lập phải tìm cách ghìm bớt phong trào lại để tránh tổn thất. Chúng ta hãy nghe Trần Dần kể lại:
Khoảng số 2 Nhân văn. Lê Đạt lên trại Cải cách ruộng đất tìm tôi, tôi bảo trước sau phong trào cũng bị đổ vỡ thôi. Tôi xui Lê Đạt tham gia ghìm Nguyễn Hữu Đang lại và nói: ‘Mày làm như Các Mác với Ba Lê Công xã ấy’, biết là thất bại nhưng cứ xông vào giải bớt thất bại đi“.
Cũng vì áp đụng chiến thuật mềm dẻo này mà đa số các văn nghệ sĩ, sau khi phong trào chống đối bị tan vỡ, đều chịu đi chỉnh huấn và công khai bộc lộ. Họ áp dụng câu phương ngôn “tránh voi chẳng hổ mặt nào”, để một lần nữa tránh tổn thất. Không phải là họ “ham sống sợ chết”, nhưng nếu để cho cộng sản khủng bố rùng rợn quá thì thế hệ sau sẽ một phần nào nhụt mất nhuệ khí. Những người được cộng sản Đệ Tam đào luyện không có thái độ như Nguyễn Thái Học, chủ trương “không thành công cũng thành nhân”.

Có nhiều người ở miền Nam không tán đồng thái độ này. Họ cho rằng đầu hàng kẻ thù như vậy là không có “khí phách”, không đủ tiết tháo. Nhưng chúng tôi nghĩ rằng đối với cộng sản thì không thể nào dựa vào khí phách và tiết tháo mà thắng được. Càng tỏ ra có khí phách chúng càng giết không nể tay. Hàng vạn người trước đây bị quy là địa chủ, chỉ vì khí phách không chịu đầu hàng, nên bị chúng giết từng loạt. Hiện nay vấn đề chính không phải là nêu cao khí phách để cổ võ tinh thần quần chúng, giác ngộ quần chúng vì toàn thể nhân dân đã sẵn có tinh thần chống cộng. Vấn đề chính trong hiện tại là đấu tranh bền bỉ. Mỗi lần thất bại là phải cố gắng bảo tồn lực lượng để trù tính một cuộc đấu tranh kế tiếp. Cộng sản thắng lợi vì áp dụng đường lối đó. Trong tương lai cộng sản tất nhiên sẽ bị thất bại cũng vì đối phương biết áp dụng phương pháp đó.

Một mặt khác, sau khi tất cả các báo chí đối lập đã bị bóp chết, thì chỉ còn một cách là công khai bộc lộ để nhờ báo chí của Đảng trích đăng tâm sự của mình, hòng để lại cho lớp sau một kinh nghiệm mà lịch sử chưa từng ghi chép.

Trên đây là ý kiến riêng của chúng tôi, vì chúng tôi so sánh việc “đầu hàng” của nhiều địa chủ với việc “đầu hàng” của các văn nghệ sĩ. Đảng bắt phải đầu hàng để Đảng lên mặt với nhân dân, vậy thì cứ “đầu hàng” vì qua những vụ đấu tố địa chủ, phú nông, toàn thể nhân dân đều biết rằng những trò đó chỉ là một tấn đại bi hài kịch mà mọi người phải lần lượt lên sân khấu đóng vai trò Đảng đã ấn định cho mình. Chúng tôi tin rằng những người như Trần Dần đã viết bài “Hãy đi mãi” (xem phần tài liệu) hay Phùng Quán đã viết bài “Lời mẹ dặn” (xem phần tài liệu) là những người có dư thái độ bất khuất và có đủ gan dạ bền bỉ.

Ý kiến chúng tôi có đúng hay không, chỉ có tương lai mới có thể trả lời.

Trong khi chờ đợi, chúng ta hãy tin rằng Người là Người mà Vật là Vật. Không có thế lực nào có thể biến con người thành con vật. Người hơn vật ở chỗ biết nói, nên hễ biết nói là phải nói theo ý mình. Người bao giờ cũng tranh đấu đòi cho được tự do ngôn luận, bảo đảm cho mọi thứ do khác.

Mạc Đình
Sài Gòn, ngày 8-12-1958

[1]Thực ra đây là bài “Mới”, tin trong Giai phẩm mùa Xuân 1956 (talawas)

[2]Bức tranh của Trần Duy nhan đề “Một phương pháp xây dựng văn nghệ” trên báo Văn số 30, ngày 29.11.1957, in lại trong sách này ở trang 35 (talawas)

[3]Thông tin này đã được chứng tỏ là không đúng. Ông Nguyễn Hữu Đang mất tại Hà Nội ngày 08.02.2007 tại Hà Nội (talawas).

[4]Ngụ ý bây giờ thì không vui như vậy.

[5]Xem bài “Qua những sai lầm trong Cải cách ruộng đất” trong phần tài liệu.

[6]Giữa hôm ông Hồ sang Rangoon, báo The Nation là tờ báo lớn nhất của Miến Điện trích đăng bài diễn văn của ông Tường dưới đề: “Đây, hiện tình Bắc Việt”.

[7]Xem bài trong phần tài liệu.

[8]Tháng hai năm 1953 ông bị cán bộ làng Quần Tín là nơi ông tản cư mang ông ra đấu, bắt ông phải quỳ và đánh ông mấy cái bạt tai.

[9]Xem bài “Cũng những thằng nịnh hót” của Hữu Loan trong phần tài liệu và bức hí hoạ ở trang 14.

Nguồn: Hoàng Văn Chí, Trăm hoa đua nở trên đất Bắc. Mặt trận Bảo vệ Tự do Văn hoá xuất bản, Sài Gòn 1959. 318 trang. Nguyệt san Ngày về tái bản, Hướng Việt phát hành. In tại nhà in Lion Press, 3018 Akron Ct, Denver Co. 80231. Bản điện tử do talawas thực hiện.

MỘT VỤ KIỆN CÁO VÀ NHỮNG KẺ ĐI BUÔN LẬU

  BIA MIỆNG

Trang mạng biamieng.com và tạp chí BM (BM) tại tiểu bang Washington là một cái gai trong mắt những kẻ “đi buôn lậu”. Chúng tôi tạm gọi như thế về hoạt động của những kẻ đang ở đất nước tự do nhưng lúc nào cũng và luôn toa rập tìm cách liên hệ (cả gián tiếp và trực tiếp) với chài mồi của CSVN. Họ còn mang tinh thần đầu óc nô lệ cho các tập đoàn thế lực của Hoa kỳ cùng tiếp tay cho CSVN trong quá trình muốn bành trướng quyền lực ở Việt Nam. Danh từ “đi buôn” này không lột tả được hết những việc làm của họ dù các sinh hoạt của họ đang làm nhiều người Việt có lương tri cảm thấy tủi hổ. Tuy nhiên danh từ này cũng có sự hiệu dụng một phần nào khi cần phải miêu tả hành vi và tính cách của một số người không làm gì cho tổ tiên Việt hãnh diện.

Khi chấp nhận “buôn lậu” thì không loại trừ bất cứ thủ đoạn gian manh xảo quyệt nào trong lúc tiếp cận hay tương tác với người Việt tỵ nạn để miễn sao đem lợi về cho mình và hụt hao/đầu hàng cho kẻ đối tác là được. Hơn thế nữa, khi đã xem là sinh hoạt “đi buôn” thì phải có đường dây thương lượng, chia chác mối lợi, tạo ra một dây chuyền quấn rối—một mạng nhện họ mong bền chắc vì bị chế ngự bởi đói khát quyền lợi hay chức vị. Sinh hoạt “đi buôn” thì bắt nguồn từ đầu nậu bán sĩ với tư bản đỏ, qua đến trung gian đi đêm ăn chút cháo huê hồng, rồi đến những kẻ bán lẻ lộ mặt hằng ngày, và lại trở về chốt đầu nậu.

Chủ trương của BM qua tờ báo giấy trong nhiều năm qua luôn là thi hành công việc săn lùng tin tức về mánh khóe những “kẻ buôn lậu” thuộc tầm cở địa phương này. Trong vòng một năm nay thêm vào đó nhóm chủ trương BM đã chính thức hóa việc loan tải dữ kiện lên mạng toàn cầu hầu có thể phơi bày sự thật về bọn “buôn lậu” xuyên quốc gia bất lương ấy. Việc công bố các áp phe của chúng, đưa mạng nhện của họ ra ánh sáng cộng đồng địa phương, cũng như phổ biến tin tức này vượt khỏi cấp tiểu bang là một chuyện cấp bách–nhất là trong giai đoạn này khi chài mồi của CSVN, tư bản Hoa kỳ, và Việt gian ve vãn mua chuộc cộng đồng Seattle. Họ đặc biệt chú trọng các hình thức dân vận và nghị quyết 36 tạo ra vấn nạn về báo chí, văn hóa, giáo dục, thương mại, và chỉnh trang đô thị. Làm sao BM có thể làm ngơ khi số phận người Việt trong nước ngày càng bi thảm mà cộng đồng địa phương thì đã ra chiều lũng đoạn và phân hóa trầm trọng vì cái mạng nhện “buôn lậu” này?

Vì phương hướng dứt khoát trên, nhóm BM phải hiển nhiên trở thành kẻ thù không đội trời chung với bọn “buôn lậu”. Chúng tìm đủ mọi cách không chỉ quấy nhiễu để triệt hạ tiếng nói của những anh em trong nhóm chủ trương BM. Chúng còn mạ lỵ, vu khống, tạo ra kiện cáo, hay bịa ra đủ mẹo tiểu nhân khác để cô lập BM. Vậy mà hoàn toàn vô hiệu quả đối với anh em BM. Song song đấy thì nhận thức của đồng hương về quan điểm BM rất chính xác. Chúng càng bôi bẩn bao nhiêu thì niềm tin của đồng hương dành cho hoạt động truyền thông của BM càng nhiều bấy nhiêu.

Nhóm chủ trương BM đã bị hăm dọa kiện cáo nhiều lần, và đã 2 lần bị bọn họ kiện chính thức tại tòa. Lần thứ nhất là vào ngày 28 tháng 5 năm 2008 khi ông thủ từ đình Việt Nam—ông Bùi Đức Ly (thuộc nhóm Việt tân)—đưa đơn kiện ông Huỳnh HKA và ông Nguyễn Quốc Hùng, hai người thuộc nhóm chủ trương BM. Tòa đã lập tức không tốn thời giờ mọi người, đuổi về ngay từ đầu buổi điều trần với lời phán “No personal knowledge” (1)

Sau hai năm, vào ngày 2 tháng 6 năm 2010 vừa qua là vụ kiện lần thứ hai. Lần này xuất phát từ ông Lê Quang Khánh (LQK), một người nay không còn là thành viên của Hội Thủ Đức (HTĐ) và đang cư ngụ tại Redmond. Y nhất định kiện ông Huỳnh HKA (HKA), một thành viên trong ban cố vấn của HTĐ và nằm trong nhóm chủ trương báo BM. Y dựng “phong” cho cá nhân ông HKA là có một thế lực lớn và “khống chế” cả HTĐ. Ông LQK đã vịn vào một suy diễn tưởng tượng rồi phóng đại rằng ông HKA đã và sẽ “quấy rầy” (harass) cá nhân ông ta, và yêu cầu tòa phải xử để “ngăn cản” tất cả các phương tiện truyền thông như điện thư, điện thoại, bài viết, tin bướm, v.v. và v.v…để “chận đứng” các hành vi “xách nhiễu” của ông HKA và hai người khác.

Kết quả vụ kiện này ra sao? Xin mời quý vị độc giả theo dõi phần tường trình chi tiết buổi điều trần tại tòa địa phương (Redmond Courthouse) thuộc thành phố Redmond, tiểu bang Washington, và một số lời bàn như sau.

1. Nguyên nhân:

Việc ông LQK khởi tố kiện tụng là từ một điện thư (email) đầu tiên của chính ông Khánh (lúc đó còn là một thành viên của Hội cựu SVSQ Thủ Đức). Vào ngày 05 tháng 12 năm 2009 ông LQK gởi điện thư tới ông Nguyễn Đình Lãng (người xử lý thường vụ trưởng ban lãnh đạo của HTĐ). Đây là một lá thư với nội dung gây hiềm khích, và mang âm hưởng gây phiền nhiễu cho HTĐ. Những điều y viết để đặt vấn đề với HTĐ thật ra chỉ dựa vào những suy diễn ám ảnh đầy tội vạ nhưng lại vô căn cứ.

Y tự cả quyết rằng kết quả cuộc bầu cử trong kỳ đại hội 2009 của HTĐ là do lôi kéo, bè phái. Điều quan trọng nhất là y đã suy diễn và tưởng tượng mà không có bằng chứng rạch ròi. Ông LQK dám cho rằng một số người thuộc các cơ chế điều hành của HTĐ sẽ dùng Hội như là căn cứ địa để hậu thuẩn gây chiến tranh với các cộng đồng, hội đoàn và các hội đồng hương khác trong tiểu bang WA… (chú thích: phần trích chữ in nghiêng là nguyên văn trong thư của ông LQK).

Điện thư (email) này của y đã được gởi đi đến nhiều địa chỉ trong cộng đồng địa phương. Trong số các địa chỉ người nhận lại có những địa chỉ không thuộc thành phần thành viên của hội, hoặc có liên quan đến HTĐ. Y bảo điều y “định” là do những cảm tính, và đồng thời bắt hội phải giải quyết việc y cho là “conflict of interests” (mâu thuẫn quyền lợi). Ông LQK đặc biệt chú trọng đến ông HKA, một trong các ủy viên tham vấn của HTĐ. Lý luận của ông thì lại đáng buồn cười với nguyên văn như sau: “… Tôi có cái cảm giác là ban chấp hành Hội TĐ kỳ này nó gần giống như Hội QNĐN3 và tờ BM là cơ quan ngôn luận của Hội TĐTB/WA… (chú thích: phần trích chữ in nghiêng là nguyên văn trong thư của ông LQK).

Vì các hành vi nêu trên của ông LQK, Hội Thử Đức đã mời ông đến họp để đối thoại và giải quyết minh bạch. Kết quả là trước mặt bốn cơ chế điều hành y đã đồng ý với nguyên tắc hoạt động của hội, và ký vào biên bản nhận những lỗi lầm của y: việc viết phóng đại do ”cảm giác” chứ không có bằng chứng về Hội. Y cũng đã cuối cùng nhận lỗi là làm sai nội quy khi gởi email đi đến những thành phần không liên hệ đến Hội. Tuy nhiên, sau đó y lại có các hành động khước từ chuyện chính mình đã ký biên bản nhận lỗi. Ông LQK tiếp tục không chấp hành điều quy của Hội, và có các hành động quấy nhiễu HTĐ sau buổi họp này.

Sau hành vi tung điện thư (email) lên mạng lần đầu tiên và buổi họp nhận lỗi với HTĐ thì y lại đi thêm một bước nữa. Vào ngày 20, tháng giêng, năm 2010, y đã thuê luật sư tên là Armstrong viết thư gởi đến Hội TĐ. Lời thư này mang vẻ đe dọa và quấy nhiễu (chẳng hạn như sẽ nhờ đến pháp luật can thiệp nếu hội không giải quyết vấn đề giữa ông và ông HKA). Y sau đó còn gởi một lá thư khác vào ngày 22 tháng 03 năm 2010 tới Hội Thử Đức trong tư cách hăm he. Lần này ông LQK không còn nói bóng gió như trước về một số người trong HTĐ. Y đã tấn công trực tiếp bằng cách nêu đích danh tên tuổi cá nhân họ. Y dọa sẽ đưa những người thuộc bốn cơ chế điều hành của Hội ra tòa nếu không giải quyết chuyện ông đã viết thư cảnh cáo và tung lên mạng (chú thích: y liệt kê tất cả tên cá nhân của những người này trong lá thư ấy).

Dĩ nhiên một trong những người “được” y “đặc biệt quan tâm” nhất vẫn là ông HKA, một người vừa là thành viên của Hội Thử Đức vừa là thành viên của tạp chí BM. Tóm lại, y đã gởi điện thư (email) trực tiếp đến cho ông Nguyễn Đình Lãng (vị xử lý thường vụ trưởng ban lãnh đạo của Hội cựu SVSQ Thủ Đức) nhưng hoàn toàn đề cập đến cá nhân ông HKA. Lá thư y viết này đầy lời lẽ tục tĩu, nói láo ngoài việc vu khống đối phương (2).

Ông Nguyễn Đình Lãng đã trả lời thư cho y và luật sư, và lập lại điều đã ghi lại trong phiên họp với HTĐ không giải quyết chuyện giữa ông và ông HKA vì đó là giữa hai cá nhân, không phải là chuyện của hội. Ông HKA cũng viết thư trả lời y và kèm thư đầy đủ chi tiết cho luật sư Armstrong. Thư ông HKA chứa đựng cả lý lẫn tình và với các dữ kiện bằng cớ theo tuần tự ngày tháng. Ngoài ra, ông HKA đã nhấn mạnh lời yêu cầu với y là đừng làm phiền Hội nữa. Ông HKA cũng xác nhận trong thư là ông sẵn sàng hầu tòa nếu y muốn thực hiện chuyện đó (3). Kết quả hiển nhiên là y đã bất chấp các đối thoại và các bằng cớ dữ kiện này, tiếp tục quấy rầy, và chọn chuyện đem ông HKA ra “KIỆN”.

Trong điện thư (email) vào ngày 02 tháng 05 năm 2010, y đã viết những lời vu cáo cho người em của ông HKA tên là Ý. Anh Ý khi biết chuyện tự dưng cá nhân mình bị mang vạ đã lập tức gọi điện thoại tới y muốn làm sáng tỏ vấn đề. Tuy nhiên, y đã trả lời lung tung với các lý lẽ không rõ ràng, và cuối cùng thì lại cúp ngang điện thoại. Anh Ý không thỏa mãn khi bị cư xử bất lịch sự nên gọi điện thoại tiếp tục nhiều lần mong nói chuyện cho ra lẽ.

Sau đó y quyết định báo cho Cảnh Sát là anh Ý là người quấy nhiễu ông ta! Cảnh Sát gọi điện thoại cho anh Ý và yêu cầu đừng liên lạc nữa. Trong cuộc nói chuyện với cảnh sát, anh Ý có hỏi cảnh sát là nếu không thể gọi điện thoại thì anh Ý có quyền viết tin bướm (flyer), đăng báo, hay điện thư email như là phương tiện để liên lạc với y hay không. Cảnh Sát đã đáp lại rằng, “Anh có quyền xử dụng những phương tiện đó, ngoại trừ chuyện gọi điện thoại trực tiếp tới ông LQK mà thôi.”

Anh Ý do đó đã không điện thoại cho y nữa. Anh quyết định gởi email trực tiếp cho y cùng kèm theo một số địa chỉ của những người trong HTĐ vào ngày 7 tháng 5 năm 2010(4) Một ngày sau đó, anh Ý và ông HKA nhận được giấy của tòa trực tiếp từ cảnh sát thông báo về cuộc điều trần trong vòng 15 ngày tới. Kèm theo giấy tòa là lời khai của LQK với nội dung chủ yếu là ông HKA, vợ của ông HKA, và anh Ý đã quấy nhiễu ông LQK. Trong đơn xin được “bảo vệ tính mạng“ (restraining order” hay “protection order”) này, y đưa ra bằng chứng rất đơn sơ: một danh sách rất sơ sài trong đó có số vô danh (unknown), và có một số ghi số điện thoại của anh Ý đã gọi anh ta! (5)

Việc y đã bất chấp và chọn chuyện đem ông HKA ra “KIỆN” là chuyện quá hiển nhiên. Thật ra đây cũng chỉ là một trong những hành động trắng trợn luôn luôn đi theo một trình tự lớp lang có kế hoạch và có hậu thuẫn để gây nhiễu nhương. Hơn thế nữa, đây là một thế thường tình mong dập tắt tiếng nói của BM. Làm sao mà bọn người “buôn lậu” không muốn triệt hạ? Vì nhóm chủ trương BM chưa bao giờ nhượng bộ hay đồng ý bị mua chuộc. Vì nhóm chủ trương BM cũng chẳng đầu hàng hoặc chán nản từ bỏ phận sự của mình: phải hoàn toàn không thiên vị trong việc thông tin phơi bày tất cả những hành tung đi đêm mà lại tỏ đạo đức giả với trống kèn chiên giáo khua “chống cộng” y như thật.

2. Tường thuật vấn đề điều trần (hearings):

2a. Đến tòa lần đầu:

Ngày 19 tháng 5 năm 2010 lúc 10:15am tại Redmond courthouse: Khi chúng tôi đang ở phòng chờ, những người lần lượt đến yểm trợ cho ông LQK là các nhân vật như sau: ông Nguyễn Trọng Nghị, Nguyễn Văn Thảo, Ngô Bá, và Ngô Hiến. Trong lúc chưa vào phòng xử, Ngô Bá xởi lởi đến chào ông HKA và vừa cười vừa nói nhỏ: “Tôi nghe nói anh giỏi luật nên đến để học hỏi mánh lới!”. Ông HKA cười trả lời: Đây là lần thứ hai có mặt anh. Lần thứ nhất là Bùi Đức Ly kiện tôi, anh nhớ không? Luật là luật chứ mánh lới sao được.

Khi vào phòng điều trần, nhóm BM chúng tôi cùng nhiều người thuộc các trường hợp khác chờ Ông Tòa (Judge) điểm danh theo tuần tự. Khi vụ kiện của ông LQK được bắt đầu xướng thì toà gọi y lên trước. Y xách cặp tiến về ghế vị trí dành cho người nguyên đơn. Ông LQK trông có vẻ rất “oai khăn” với khuôn mặt vừa căng thẳng vừa héo hon (có lẽ vì nhiêu khê sắp xếp hồ sơ tính toán kiện tụng chăng?). Liền sau đó ông tòa gọi người phối ngẫu của ông HKA, bà Thuận. Vì không có thông dịch viên của tòa cung cấp (người bị đơn không xin trước) nên tòa tạm hoãn buổi điều trần lại 2 tuần cho đến ngày ngày 02 tháng 06 năm 2010.

Trong lúc chờ đợi thì chúng tôi có tham dự việc tòa xử một trường hợp khác. Trường hợp một cặp vợ chồng động lòng cho một cậu bé (dì ghẻ con chồng) của một cặp khác chưa tròn 18 tuổi ở tạm vì anh ta không muốn về nhà. Cặp vợ chồng này đã phải chịu chấp nhận thi hành lời Tòa yêu cầu là không được đến gần cặp vợ chồng (mà con trai không còn muốn về nhà và dây dưa liên hệ nữa) đưa đơn kiện. Đúng là “làm ơn mắc oán”. Nhờ phiên xử này mà anh em BM chúng tôi cũng học hỏi thêm được một số kinh nghiệm về những buổi điều trần.

Trước khi ra về anh Ý đã không quên nói với các ông Bá, Hiến, Nghị là “Hai tuần nữa chúng ta gặp tại đây”. Mọi người ra về và chờ sự có mặt do tòa chỉ định của một thông dịch viên trong lần tới.

2b. Đến toà lần thứ hai:

Ngày 2 tháng 6, 2010, vào lúc 10:15am: Chúng tôi đến tòa sớm giờ định khoảng chừng 20 phút. Khi vào phòng đợi thì đã thấy có mặt ông LQK cùng một luật sư người Mỹ da đen được thuê đại diện cho y ngồi tại đó. Lần này mặt mũi y nhìn có vẻ tươi tỉnh hơn (vì có thêm luật sư chăng?). Chúng tôi chưa thấy những người bạn của y xuất hiện như lần trước. Khoảng 10:05am thì chúng tôi vào phòng xừ. Riêng ông HKA rất mong mỏi thấy lại những người bạn của y đã xuất hiện lần trước. Họ cần chứng kiến tai nghe mắt thấy quyết định của ông Tòa về vụ kiện này.

Sự mong mỏi của ông HKA rồi cũng có kết quả. Lần lượt các người bạn của ông LQK có mặt đầy đủ và còn có sự tham gia của một người nữa không biết tên khoảng trên 50 tuổi. Đồng hồ trước mặt đã chỉ 10:15am nhưng một trường hợp đang xử vẫn kéo dài. Tòa quyết định nghỉ 15 phút vì còn có nhiều vụ xử liên hệ đến vi phạm uống rượu lái xe,.

Sau đó thì bà nhân viên thư ký gọi yêu cầu chúng tôi chuyển đến phòng số 01. Khi vào phòng, chúng tôi đã thấy có một vị quan toà phái nữ ngồi sẵn sàng ở đó. Ông LQK cùng luật sư tiến về phía bàn bên phải của quan tòa dành cho nguyên đơn khi được xướng. Kế tiếp Tòa gọi tên anh Ý. Người thông dịch viên và anh Ý đến bàn dành cho người bị đơn. Sau khi bà Tòa bảo phần phía nguyên đơn trình bày, ông luật sư của LQK cầm hồ sơ đứng dậy và trình bày sự việc.

Ông luật sư này nêu lên trường hợp của thân chủ ông là y đã bị quấy nhiểu bằng điện thoại nhiều lần, và dẫn chứng một email với những lời hăm dọa (threat) có thể gây nguy hiểm cho tính mạng của thân chủ của ông. Ông do đó xin Tòa chấp nhận lời yêu cầu bảo vệ (restrain order) mà nguyên đơn đã xin.

Bà Chánh án quay sang hỏi anh Ý có ý kiến gì về yêu cầu này, anh Ý đã trả lời: “Thưa bà! Ông LQK là người sinh hoạt ai cũng biết trong cộng đồng. Tôi là người không liên can gì đến các sinh hoạt cộng đồng này, cũng như những xích mích giữa y và người khác. Sự việc không liên quan đến tôi nhưng y đã viết điện thư email vu khống tôi. Khi tôi gọi điện thoại cho y để hỏi cho ra lẽ, y trả lời là anh tôi, tức ông HKA, đã nói đến gia đình y thì y có quyền nói đến tôi. Khi tôi không đồng ý với lý luận đó thì ông KL cúp ngang điện thoại.”

- Bà Tòa hỏi: Có phải số điện thoại (206) 551-3307 là của ông không?

- Anh Ý trả lời : Vâng,

- Bà Tòa hỏi: Anh có gọi điện thoại nhiều lần cho y không?

- Anh Ý trả lời : Vâng, tôi gọi một số lần vào ngày hôm đó vì y không bắt điện thoại trong khi tôi thì muốn làm sáng tỏ sự việc.

Bà Tòa quay về phía nguyên đơn và yêu cầu cung cấp thêm bằng chứng vì có những lần số điện thoại liệt kê không phải là số của anh Ý. Ông LQK đưa cho luật sư của y thư email mà anh Ý gởi cho y vào ngày 7 tháng 5 năm 2010. Bà Chánh án bảo thông dịch viên dịch điện thư email đó.

Anh thông dịch viên đọc từng câu trong thư email rồi chậm rãi dịch ra tiếng Anh từng câu một. Vị tòa này chăm chú nghe những lời dịch. Theo nhận xét của vài người là thì bà chánh án có vẻ cảm động về những lời lẽ trình bày trong thư email này mặc dù người thông dịch viên đã dịch không chính xác lắm. Khi thư email đã được dịch xong, bà chánh án đã nói với luật sư của y như sau: “Tôi không thấy nội dung trong thư này có phần nào là có thể làm nguy hiểm đến tính mạng của thân chủ ông cả!” Ông LQK liền xin phép được nói. Y cho là nội dung điện thư email bằng tiếng Việt này rõ ràng là một chứng cớ của sự hăm dọa, và y sẽ lâm vào một tình trạng nguy hiểm. Vị tòa này liền ngắt lời ông LQK, “Một thư email mà ông Khánh thì diễn dịch khác, người thông dịch viên diễn dịch khác, và do ông Ý viết thì cũng có phần diễn dịch của ông ta. Tôi biết nghe theo ai?” Ông luật sư da đen liền tìm vài lời chống chế.

Điều thú vị là trong khi luật sư trình bày thì y ngồi bên cạnh không yên. Ông LQK chồm lên chồm xuống vừa nhìn về phía ông HKA vừa chỉ chỏ nói lẩm bẩm “That’s him, that’s him!” Mọi người trong phòng bật cười vì hành động lanh chanh đứng ngồi không yên này. Bà Chánh án ra lệnh cho mọi người cũng như ông Khánh phải ngưng ngay các hành động tạo mất trật tự này. Bà nói bà đang xử trường hợp của ông Ý, không phải người ngồi ở dưới. Bà còn nói thêm với đại ý là bà không có quyền cấm cản việc liên lạc qua những phương tiện thông tin như điện thư email, viết báo, tin bướm hoặc viết trên mạng internet. Bà nói đây là quyền tự do tiên khởi của mọi công dân Hoa Kỳ (dĩ nhiên khi viết thì phải tuân theo luật pháp không vu cáo, mạ lỵ ai cả).

Cuối cùng vị tòa này tuyên bố không chấp thuận lời yêu cầu của y về chuyện anh Ý quấy nhiễu y trong tương lai. Bà bảo là không đủ bằng chứng để phán xét là anh Ý đe dọa ông LQK. Bà bảo y và anh Ý ký xác nhận vào giấy chứng minh là đã hiểu quyết định của tòa.

Bà tòa hỏi ông luật sư muốn gọi ai trong trường hợp thứ hai. Y lập tức liền đổi ý định và xin luật sư cho gọi chỉ mỗi ông HKA mà thôi. Tòa do đó không gọi người thứ ba lên bàn bị đơn. Người thứ ba đó là vợ của ông HKA, một người hoàn toàn vô can, không hề dính liếu gì đến sự việc mâu thuẫn nhưng cũng bị y vu cáo đưa ra tòa.

Ông HKA kế đó đã tiến lên bàn ngồi dành cho bị đơn–nơi mà ông thông dịch viên đang ngồi. Luật sư của ông Khánh một lần nữa đứng dậy, trên tay có một xấp hồ sơ, và rồi trình bày lên bà chánh án. Lần này thì ông cũng phát biểu đại ý là ông HKA đã có những hành động quấy nhiễu và đe dọa thân chủ của ông ta. Ông kết luận rằng thân chủ ông đang lo sợ cho sự an toàn của y, và xin Tòa bảo vệ bằng lệnh ngăn cấm tất cả mọi phương tiện liên lạc và đến gần ông LQK.

- Bà tòa hỏi ông HKA : Ông hãy đọc số điện thoại của ông.

- HKA trả lời: Số điện thoại nhà của tôi là (425) 778-5157, số di động là (206) 816-2924

Bà Tòa mỉm cười. Tưởng cũng nên nhấn mạnh là y kiện cả ba người đã quấy nhiễu y. Tuy nhiên, y chỉ nêu lên số điện thoại của anh Ý. Vì thế, bà tòa hỏi số điện thoại của ông HKA để so sánh với số điện thoại được khai báo. Bà nói không có số điện thoại nào trong bản danh sách liệt kê này là của ông HKA cả.

Ông Khánh trình bày tiếp với lý lẽ như sau: Email của ông Ý là do ông HKA viết. Những địa chỉ người nhận trong thư email này thì giống như những địa chỉ người nhận của ông HKA luôn gởi đi. Y cho là ông HKA là người chủ chốt trong việc hăm dọa y.

Bà tòa nói: Không có gì chứng minh đủ là do ông HKA cả. Thư này có thể do người khác, chẳng hạn như bạn ông HKA, hay bất cứ ai trong những người của nhóm sinh hoạt này. Y lại lần nữa quả quyết rằng ông HKA là người quấy nhiễu và đe dọa ông và sẽ tạo nguy hiểm cho ông (vì lý luận của y quá thô thiển không đủ thuyết phục được ai nên trong phòng tham dự lại có tiếng cười khúc khích cùng tiếng xì xào, bà Toà liền cảnh cáo mọi người không được làm ồn).

- Bà chánh chất vấn ông LQK: Ông HKA sẽ làm gì và đe dọa như thế nào ?

- Y trả lời: Tôi không biết nhưng tôi cảm như vậy…

Có tiếng cười khúc khích nữa từ phía dưới. Đến lúc này thì y vẫn chồm lên thụt xuống đưa tay xin phép nói nữa. Bà Chánh án không chấp nhận. Nhưng y cứ xin tỏ bày và nói với đại ý như sau: Nếu tôi tìm ra email của ông Ý phát xuất từ máy của ông HKA thì sao? Bà Chánh án trả lời: “Ông cứ nhờ luật sư của ông và đem ra tòa nếu ông có thêm bằng chứng.”

Bà Chánh án không muốn gạn hỏi gì thêm, nói tiếp rằng bà sẽ xử y hệt như trường hợp thứ nhất của ông Ý, và bảo thư ký đưa giấy cho y và HKA ký.

Ông HKA có xin phép bà chánh án “Thưa bà! Bà có thể cho phép tôi nói một vài lời với ông Khánh cùng với những người trong cộng đồng chúng tôi ở đây được không?”

- Bà chánh án trả lời: Không. Mọi người đã hiểu hết chuyện rồi. Chuyện ông muốn nói thêm thì không liên can đến vụ này.

Bà nói tiếp: “Trường hợp này bắt nguồn từ mâu thuẫn xích mích giữa hai cá nhân. Làm người lớn đi chứ! (“Grow up!”). Việc như thế này mà cũng đem đến tòa để làm mất mấy tiếng đồng hồ của mọi người ở đây…”

Một phút sau ông HKA xin phép bà chánh án để hỏi: Thưa bà! Trong trường hợp có những người muốn vu cáo chúng tôi rồi đi kiện thì chúng tôi phải làm gì?

- Bà Chánh án trả lời : Ông có thể đưa sự việc vu khống đó ra Tòa dân sự.

- Ông HKA nói: Cảm ơn bà.

Buổi điều trần cuối cùng đã giải tán (dismiss) và mọi người ra về vào lúc 11:30 giờ trưa. Trên tay ông Khánh, ông HKA, và anh Ý đều có tờ quyết định của tòa với dấu tô vào khoảng ô như sau: “The request for a full order is denied, and the petition is dismissed. Any previously entered temporary order expires at 11:30AM today.” (Tạm dịch: Lời yêu cầu có bảo vệ tối đa bị từ chối, và đơn xin bị bác bỏ. Tất cả lệnh xin bảo vệ tạm thời trước đó đều hết hạn định vào lúc 11:30 giờ trưa hôm nay.”)

2c. Trong lúc rời khỏi phòng điều trần:

Khi ông Ngô Bá trước khi ra về nói với ông Nguyễn Quốc Hùng: “HKA tài thiệt!”, thì ông Hùng trả lời: “Càng kiện càng ngu.”

Ông HKA đi ngang gặp người bạn không biết tên của ông Khánh thì cũng nói như sau: “Anh thấy chưa, kiện mà không thắng. Lại còn bị bà Tòa mắng cho chứng tỏ là mình ngu. Ở Mỹ lâu mà chẳng biết luật lệ như thế nào…” Ông bạn của LQK cười vui vẻ. Sau đó ông HKA lại vỗ vai Ngô Bá và nói: “Anh thấy chưa, kiện cái đách gì mà kiện! Ra Tòa bị chửi, càng kiện càng ngu! Anh còn nhớ Bùi Đức Ly vu cáo kiện tôi không? Ra Tòa bị đuổi về. Ông nào cũng thuê luật sư. Anh thấy tôi có cần luật sư đâu!”

Ngô Bá và Ngô Hiến cười ra chiều vui vẻ nhưng không biết trong thâm tâm hai ông ấy có ghét ông HKA không thì là chuyện khác. Trên bề mặt thì xem rất đồng ý với ý kiến của HKA và cũng tỏ ra khi dễ anh bạn LQK của mình. Cũng không biết họ muốn xử dụng ông LQK như một con cờ thí không!!! Ra khỏi cửa HKA còn nói lớn cốt chia xẻ để cho ông Nguyễn Trọng Nghị nghe. Nhưng ông Nghị và Thảo thì lại rời phòng điều trần rất nhanh cố ý tránh xa nhóm chúng tôi. Hai ông dù sao cũng thừa biết nếu đi chậm thì cũng “được” nghe những lời nói rất ư là “đau lòng”: những lời tiếp theo những tiếng xì xào từ đám đông lúc rời phòng điều trần là “Stupid and bad! Stupid and bad!” (Tạm dịch: “Ngu và tệ quá! Ngu và tệ quá!”).

3. Lời bàn:

a. Chuyện Riêng hay Công:

Anh em BM chúng tôi muốn tường trình buổi điều trần tại tòa ở thành phố Redmond này để quý bạn độc giả có thể thông hiểu phần nào một số vấn đề căn bản liên hệ đến tòa án luật pháp tại Hoa Kỳ. Chuyện riêng và công thật ra không dễ dàng phân biệt một khi đã xông xáo sinh hoạt trong cộng đồng. Các bài học và kinh nghiệm riêng tư cá nhân nhưng rất đáng được chia xẻ cho mọi người hầu ngăn chận dị ứng và phản ứng tiêu cực về việc thưa kiện trong cộng đồng.

Điều quan trọng hơn nữa là quý vị không có gì phải sợ hãi hay cảm thấy xấu hổ mất mặt khi có giấy tòa gọi ra điều trần bất ngờ. Nếu mình không làm gì sai bậy thì không có gì phải áy náy hay lo sợ. Ở Hoa Kỳ có nhiều người vì không còn lương tâm vì cái tôi và cái danh lớn vĩ đại nên thích làm kẻ đi kiện. Người ta mệnh danh cho những kẻ điên rồ này là “happy suer”.

Thứ hai, quý vị không cần phải tốn tiền thuê luật sư mất hàng nghìn bạc nếu mình biết mình đã không làm gì sai trái, và biết đối phương không đủ bằng cớ buộc tội. Thứ ba, tòa phải cung cấp thông dịch viên cho quý vị nếu ai muốn diễn đạt đầy đủ thông suốt rõ ràng bằng tiếng Việt. Nếu họ dịch không đúng thì có quyền khiếu nại. Đây là quyền công dân của chúng ta.

Thứ tư, nếu bị quấy nhiễu thì phải thâu thập tất cả các chứng cớ và đưa người vu khống mình ra tòa dân sự (nếu muốn). Xin nhớ Tòa án dân sự có ba cấp: (1) Small Claims (Bộ phận bồi thường nhỏ dưới $5,ooo); (2) Landlord/Tenant (Bộ phận nhà đất thuê mướn và bồi thường trên $5,ooo); và (3) Regular Special Civil part (Bộ phận dân sự đặc biệt cho các bồi thường trên $15,000). Quý vị có thể tham khảo thêm chi tiết về cách thức làm đơn và ra tòa mà không cần phải thuê luật sư để đòi bồi thường thiệt hại tại các mạng hỏi đáp trên mạng lưới internet, chẳng hạn như tại địa chỉ như sau: http://www.judiciary.state.nj.us/civil/civ-02.htm

b. Boss hay Cu-li:

Trước đây trong một thư email, ông LQK tự xưng y thuộc lại làm chủ (“BOSS”). Y cũng khoe thêm là đã tốt nghiệp đại học ở Mỹ, đi làm cho chính phủ một thời gian dài. Y cho biết sau đó nghỉ việc để tự mở công việc tư, rồi ngưng công việc này để làm thông dịch viên cho một công ty tư. Ông LQK nói y luôn ở trong tư thế làm chủ (“BOSS”), không bao giờ làm cu-li như ông HKA. Y đã mạt sát ông HKA là một thằng cu-li, dốt nát chẳng làm nên trò trống gì. Y còn nhiều lần xỉ nhục và vu cáo đủ điều cho ông HKA trong nhiều hoàn cảnh/phương tiện khác nhau. Chữ BOSS này làm anh em BM chúng tôi nhớ đến một câu chuyện mà chắc mọi người đều biết: Câu chuyện “Xếp không ăn chuối”!).

Bây giờ qua kết quả vụ kiện này thì y đã chứng minh được gì? Vị BOSS này có bằng cấp 4 năm và chỉ làm những công việc “quan trọng” xem ra cũng rất ngon lành…thế mà tại sao lại có thể hành động như người ngu ngơ không thông hiểu vấn đề luật pháp căn bản? Y muốn dùng tòa án là phương tiện để phân bua kết tội đối phương mà mình không ưa hay xích mích nhưng không có được một bằng chứng để vịn vào. Lý lẽ của y thì không đủ thuyết phục, rồi lại bỏ tiền thuê luật sư tham dự điều trần với tơ tưởng tạo áp lực mạnh để ảnh hưởng phán xét của tòa. Than ôi thật là trớ trêu khi trời không cách gì chiều lòng người quá cao ngạo. Tâm trí người BOSS còn “được” bà chánh án chê bai phán cho một câu khinh bỉ đáng nhớ đời!

Ông BOSS với “mác” trí thức, tri thức, kiến thức, nhưng văn hóa văn minh ở đâu? Văn minh căn bản tối thiểu cũng chẳng có cho dù chỉ so với hạng CU-LI—loại mà y luôn cho là thấp kém hơn mình. Nếu CU-LI thua BOSS thì cũng là lẽ thường tình, nhưng BOSS mà bị mất mặt trước sự chứng kiến của người CU-LI thì quả là nhục. Nếu là người có văn hóa, liêm sĩ, và tự trọng thì sau khi Tòa phán như vậy cũng nên tìm đối phương để xin lỗi hầu mong đạt được thông cảm và hòa giải. Té ra là BOSS KHÔNG ĂN CHUỐI!

c. Người lớn hay con nít:

Xin quý vị độc giả nhớ lại lời phán gần cuối buổi điều trần của vị quan tòa như sau: “Trường hợp này bắt nguồn từ mâu thuẫn xích mích giữa hai cá nhân. Làm người lớn đi chứ! (“Grow up!”). Việc như thế này mà cũng đem đến tòa để làm mất mấy tiếng đồng hồ của mọi người ở đây…” Bà tuy không lớn giọng khi phán như thế nhưng rất đáng cho người “gây ra chuyện” suy gẫm để nhớ đời. Không thể chối cãi là người “đâm đơn” đi kiện tụng mà phải nhận lời chê bai đó. Thật là vừa nhục vừa đau!!!

Phải làm người lớn hay trưởng thành ra có nghĩa đừng hành động như thể con nít—cứ đi kiện tụng bá láp bá vơ cho thỏa mãn tự ái và cái tôi mà không có bằng chứng nào cả. Không biết ông LQK còn nhớ đoạn cuối cùng trong lá thư ông HKA trả lời y và ông luật sư Armstrong cũng tương tự như lời bà tòa phán không nhỉ? (3).

Không biết còn bao nhiêu kẻ “đi buôn” đang tiếp tục toan tính và gạ gẫm người “làm chủ” khác đi làm chuyện con nít nhỉ? Chắc chắn họ sẽ tiếp tục đi buôn tiếng tăm mình đã rụi tàn như cánh buồm rách nát, tiếp tục đi buôn tấm lòng đã nhuộm thẳm màu mực đen tối, tiếp tục đi buôn lương tâm thui chột bị chộc thủng vì danh lợi hảo. Xin đừng quên lúc nào nhóm BM cũng sẵn sàng đối ứng với các kế hoạch đi đêm, và không hề chùng bước trước những kẻ “buôn lậu”.

4.Dư luận vụ kiện:

 Quanh vụ kiện chúng tôi nghe được một vài dư luận như sau ,tưởng cũng nên nói là quý vị nào có tên được đề cập,nếu thấy không đúng sự thật thì cứ gọi cho chúng tôi để chúng tôi sắp xếp gặp nhân chứng . Chúng tôi viết lại ý chứ không thể nào nguyên văn được.

a. Ông Mai Hoàng Tổng : Chúng tôi đã can ngăn nhưng ông Khánh này không nghe,chuyện cá nhân mà cứ đem hội Thủ Đức vào ,ông Trà anh em cột chèo với ông Khánh có gọi tôi than phiền về ông Khánh, chuyện gia đình của nó lủng củng nên không còn biết gì cả ,kiện cáo tòa nào mà xử…..

b. Ông Nguyễn Trọng Nghị: Chúng tôi cũng đã can ngăn nhưng tên Khánh không nghe,chuyện hắn đụng với Huỳnh Kim Anh can gì lôi em của KA ra. Tại phiên tòa thái độ nóng nảy của Khánh không thể chấp nhận,chồm lên chồm xuống,chỉ chỏ nói lung tung.Tôi đã lầm thằng Khánh ,tưởng nó ngon lành không ngờ nó tệ thật,tư cách của hắn ở tòa làm mất cảm tình bà Chánh Án ,thằng K Anh khôn hơn nó nhiều,lúc nào nó cũng cười cười..Tôi đi dự để cho biết Tòa xử vụ gọi điện thoại như thế nào?

c.Ông Trịnh Quang Minh: Chúng tôi đã cản nhưng không được ,Thủ Đức có dính dáng gì đâu mà hắn cũng lôi ra ,chắc gia đình hắn ra sao ấy…Anh Nghị đã kể lại đầy đủ…

5. Kết luận:

Qua hai vụ kiện người trong nhóm Bia Miệng và những email nặc danh hoặc những lời rỉ tai nói xấu cùng những lời mạ lỵ …Không phải là chuyện cá nhân mà là một sự triệt hạ nhóm BM có tổ chức tuần tự và lớp lang . Quý độc giả nghĩ gì khi những sự kiện đó xảy ra ? Nếu nhóm người này có quyền lực thì cách hành xử của họ đối với những người nói lên tiếng nói trung thực của mình chẳng khác gì CSVN hành xử với những nhà đấu tranh cho tự do ,dân chủ ở VN?

Về vụ việc LQK chúng tôi chỉ nêu lên lần này để phổ biến rộng rải (trên báo,website…) mà thôi ,còn nhiều chuyện chúng tôi phải làm trong công cuộc đấu tranh cho VN có Tự Do,Dân chủ ,húng tôi chủ trương không cải chày cải cối trên diển đàn internet chỉ phí thời gian vô ích.

BIA MIỆNG.

CHÚ THÍCH:

1. Bản sao đơn kiện và lệnh tòa về vụ kiện từ ông Bùi Đức Ly

 
 
 

Đơn kiện củ Bùi Đức LY

 
 
 

 
 
 
 

 

LỆNH CỦA TÒA ÁN

 

    2. Điện thư email của y(LQK) gởi ngày 9 tháng 5 năm 2010 với lời lẻ vô giáo dục.

May 9, 2010

 Thưa qúi Hội,

 Sau khi tôi gởi thư cho hội TĐ và HKA ngày 2 tháng 5/2010, cá nhân HKA như người điên loạn, đã gởi lại tới tấp ( có gởi riêng) cho tôi rất nhiều emails với lời lẻ bới móc, biạ đặt. Tên HKA nó bảo tôi đi thông dịch cho nó để kiếm cơm, tại sao tôi phải đi làm nghề thông dịch? thông dịch sai, có liên hệ với Hải Phòng trước 75, bợ đít ông Dũng để chống lại nó vì nó có công vạch mặt…..Mi, HKA, mi có biết luật lệ là một thông dịch viên không được quyền lấy thù lao khi đi thông dịch cho một người quen, có liên hệ. Ta đi giúp mi là giúp cho một người bạn, ta đâu có nghĩ là ta sẻ được chén cơm cuả mi, ta iả vào chén cơm cuả mi (xin lổi đồng môn), ta đi giúp mi thông dịch ở Olympia hoặc thông dịch với luật sư cho mi, ta có lấy tiền công hoặc thù lao của mi đâu?? Mi chưa biết ơn ta mà nói điều phản trắc. Mi nói taị sao ta phải đi làm thông dịch để kiếm sống? tại sao không được? Ta có đi làm cu ly đâu, sao mi quan tâm đến cuộc sống cuả ta nhiều vậy? Sau khi ta tốt nghiệp tại UW năm 88, ta có đi làm cho chính quyền địa phương được nhiều năm, sau đó ta ra mở dịch vụ làm ăn riêng (business owner), ta làm chủ, ta là boss. Vợ của mi (lúc còn độc thân) một thời cũng đã là công nhân của ta, ta không phải đi làm mướn cho ai đến ngày hôm nay đã hơn 20 năm, hiện tại ta vẩn là boss, ta có dịch vụ thông dịch riêng, cũng có thông dịch viên làm cho ta, ta nuôi cả vợ lẩn con nên người. Mi lo cho ta làm chi, hảy lo cho cái thân của mi đi! Mi nói 90% HO qua đây là cu li, ta không cần biết bao nhiêu %, ta không chê ai, làm nghề gì, ta chỉ chê (only you) thằng cu li như mi không biết thân phận cu li cuả mình mà đi so sánh: “Ông Dũng chỉ hơn được tôi cái bằng bác sĩ y khoa mà thôi!” BM 05/09 trang 15. Ông Dũng là bác sĩ y khoa, có phòng mạch riêng, ông ta là nhân sĩ cộng đồng. Còn mi có cái gì? Mi làm được cái gì nên nổi? Mi phải biết mi là ai? Who you are? So sánh như vậy thiên hạ cười chết. Mi đi làm cu li ở hảng BÒ qúa khổ cực, bèn tạo ra tai nạn lao động (theo lời kể) để kiếm một quả cho đở khổ, nhưng thất bại, xong rôì mi sang làm cu li ở hảng LÒ. Bản thân mi làm không đủ nuôi thân làm sao giúp được cho các em của mi sang sau, mọi thứ có bà vợ mi nai lưng ra lo hết, có lần vợ mi bực mình nói với các em của mi “Anh của tụi bay có con cặt chứ có cái gì!” (xin lổi đồng môn), mi nằm gần đó nghe thủng lổ tai nhưng cứng họng không nói được tiếng nào! Taị sao? Tại vì mi bất tài vô tướng ở xứ này! Đừng hỏi tại sao ta biết chuyện mắc công ta chỉ nhân chứng phiền hà. Mi nói trong email là ta có liên hệ với Hải Phòng trước 75. Ý của mi muốn nói gì? Muốn ám chỉ cái gì? Ta và vợ cuả ta là việt cọng? Mi quẩn trí rồi HKA! Vợ trước của ta là người Hải Phòng, một người vợ, một người đàn bà tuyệt vời, nhưng bà ta đã về với Chúa hơn 11 năm rồi mi. Trước khi bà ta về với Chúa, bà ta cũng may được vài chục lá cờ lớn nhỏ để ta biếu cho các cộng đồng, hội đoàn…Hội TĐ của mi ta cũng tặng một lá cờ (ô. Minh giử) để một ngày nào đó lở mi hoặc đồng môn, chiến hửu nào nằm xuống thì cũng được phủ lá cờ cho đàng hoàng. Xét cho cùng thì bà vợ của ta cũng có lòng ,làm được việc nhỏ cho cộng đồng (thầm lặng, không cần ai biết).Theo lời kể, thì chiếc lá đại kỳ của bà ta may đã được diển hành trên đường phố Newyork. Còn mi làm được cái gì ra cơm cháo cho cộng đồng? Mi có công vạch….cái con đầu bùi (xin lổi đồng môn). Mi bảo ta bợ đít ông Dũng để chống mi vì mi có công vạch mặt….Ta chưa bao giờ cộng tác làm việc với ông bác sĩ NXD, thậm chí ông BS Dũng cũng chẳng biết ta là ai. Ta muốn làm một người Việt thầm lặng, không ồn ào. Chính mi mới theo PHÒ và BỢ ĐÍT ông bs NXD, bị nhóm ông Dũng đá giò lái HỘC MÁU rồi ôm hận báo thù (xem Bảng lên tiếng….của TP/3-17-10). Mi nói mi có công vạch mặt…..Mi vạch cái con đầu bùi (xin lổi đồng môn), mi càng vạch thì VC càng mạnh, đừng có tự hào bậy bạ người ta cười cho. Ngày hôm qua 5-5-10, mi có gởi một email cho hội TĐ và cho ta, mi có nhắc tới một con chó điên. Ta chưa bao giờ gọi mi là con chó điên, nhưng người ta nói mi là con chó điên, trong đó có người đáng là niên trưởng của mi, mi gọi anh anh, em em. Họ còn nói tệ hơn nừa, nhưng ta đã bỏ bớt ở email trước, “Nó là cức (shit), nó là con chó điên, nó bị tâm thần rồi, đừng dính với nó làm gì, tha cho nó đi!” (xin lổi đồng môn). Mi kể một câu chuyện li kỳ khá hẩp dẩn, có lần mi nói với ta rằng ” Thằng Sáu Hồ Hởi nó viết chuyện biạ đặt, nhưng nó nói riết rồi người ta cũng tin” Bây giờ mi bắt chước học ngón nghề của sư phụ mi để viết trên báo Biamiệng của mi phải không? Câu chuyện mi kể còn thiếu, không biết xảy ra ở VN tại đâu, năm nào? Mi kể câu chuyện đó để so sánh ta với người trong truyện, mi nói là truyện có thật? Nhưng mà ai tin mi?? Mi phải nói như thế này thì người ta mới tin: “Tôi là Hùynh Kim Anh, nếu tôi kể chuyện láo, biạ đặt, tưởng tượng, tôi MÚT con đầu bùi của ông KL và cuả các đồng môn hội TĐ” (xin lổi đồng môn), lúc đó thì hội TĐ và ta mới tin chuyện mi kể là có thật. Mi có dám viết như vậy không? Trong một email mi gởi cho ông Hậu mi nói “Từ ngày tôi không chơi với anh, tôi chưa bao giờ nói về anh” Nghe mi nói ta tưởng mi hiền như ma sơ! có khi nào mi để yên cho ai khi hết chơi với họ đâu, không chuyện này cũng chuyện khác để bêu rêu. Mi nói về ông Hậu ta nghe thủng lổ tai “Nịnh bợ mới được làm an ninh (security or body guard) cho 10 đời thủ tướng“, có nghỉa là không nịnh bợ thì làm sao làm lâu như vậy được. Chuyện của mi còn dài, Nếu ta nói sai ta nhận lổi, chuyện ta nói ta chụi trách nhiệm. Riêngđồng môn hội TĐ,tôi xin cáo lổi vìđã dùng những từ ngữ màđáng lẽ không nên dùng. Thành thật cáo lổi đồng môn.

 Khánh Lê

peterlkq@gmail.com

  Tái bút:Thưa quí Hội, tôi chuẩn bị gởi thư thì thấy có một cái email khác nửa của tên HKA viết bài: Gởi đến các ông Thủ Đức. Có nghỉa là thằng HKA gởi cho ông Quan HKA. Mi HKA, mi không dám đối diện với ta, mi không dám gọi phôn cho ta để nói chuyện phải trái, mi sai bảo thằng em của mi (tên cúng cơm họ Huỳnh tên Ý, tên đi Mỹ thí khác). Em mi không phải là đối tượng của ta. Mi dùng chiến thuật của việt Cọng, lùa con nít đi trước. Thằng Ý là em ruột của mi, mi nở lòng nào đem em mình ra làm bình phong đở đòn. Mi mới là thằng hèn hạ sợ ta, rồi đứng sau lưng tạo ra điạ chỉ email, viết bài gởi cho hội TĐ, chỉ lấy số phôn của em mình, nhưng cũng không dám viết họ tên thật. Mi gởi email này lúc 10:12PM ngày 7 tháng 5/2010 trong lúc em của mi đi làm ca đêm! Mi có dám nói rằng “Tôi là Huỳnh Kim Anh, tôi không viết bài này, nếu tôi viết bài này thì tôi MÚT con đầu bùi của ông KL và tất cả con đầu bùi của đồng môn hội TĐ” (xin lổi đồng môn). Nếu được như vậy thì ta tin là email và bài là của em mi viết, nếu mi không nói được như vậy thì chính mi là tác giả của email và bài viết đó! Cá nhân ta sẽ sẳng sàng để mi….MÚT (xin lổi đồng môn). Mi có quyền làm những gì luật pháp ấn định, đừng nói dài dòng. Mi HKA, không có ông Quan với ông Huyện nào đứng sau lưng ta đâu, một mình ta mà ông QUAN Hùynh Kim Anh còn vải đái không dám nói chi ông nào đứng sau lưng ta nửa. Cái gan của mi là gan con kiến. Xin lổi đồng môn lần nửa.”

3. Trích đoạn cuối cùng của thơ ông HKA gởi cho y vào ngày 1, tháng 2, năm 2010 :  

 Tôi cũng muốn ông tường tận là tôi rất yêu công lý, và rất ghét sự dối trá, lọc lừa. Hơn thế nữa, một điều nữa mà tôi yêu vô cùng là sự thật. Tôi còn nhớ lời một nhà văn phương Tây đã viết như thế này, “Trên đời, sự thật là cái dễ thương nhất”. Tôi yêu cầu ông từ nay trở đi đừng gởi bất cứ thư từ hay khiếu nại gì đến cho cá nhân hay hội đoàn nào mà có đề cập đến tên tôi. Vai trò của tôi trong Hội TĐ khác với các vai trò của tôi ở trong những hoàn cảnh và lãnh vực khác. Không hề có sự nhập nhằng giữa các vai trò đoàn thể trong xã hội với nhau, và vai trò liên đới giữa hội nhóm và các cá nhân được. Tôi cũng không có thì giờ để thưa qua cãi lại về những việc nhập nhằng đại loại cá nhân nhưng lại cố ý thổi phồng thành chuyện thuộc tầng lớp rộng hơn như thế này. Khoảng thời gian hiếm hoi còn lại của lứa tuổi cỡ ông và tôi thì lẽ ra nên xử dụng để tiếp tục học làm người. Học luân lý đạo đức làm chồng, học noi theo đạo đức dân tộc… Học để sáng trí và tỉnh thức để nhận biết cái ĐÚNG cái SAI hơn là suy gẫm nặn óc tìm phương chước mưu mô, kiện tụng để hại kẻ khác. Việc dùng “cảm giác” của cá nhân mình để đặt vấn đề với nhóm đoàn, họp hội mà mình đang liên hệ sinh hoạt, rồi phản ứng bắt họ phải “thỏa mãn” cái “cảm giác” đó xem ra không ích lợi cho cả người lẫn ta. Tôi thiết nghĩ hành xử như vậy là thiếu tình thiếu lý và nông cạn vì bản thân mình đã tự thu mình lại trong nhỏ nhen, hẹp hòi của cuộc sống.”

 4. Email của anh Ý gởi đến một số người trong Hội TĐ trong đó có đc ông LQK

Kính gởi đến các ông Thủ Đức.

 Chắc các ông ngạc nhiên khi nhận email này,mời quý ông đọc rồi sẽ hiểu rỏ câu chuyện. Tôi là một trong 4 người bị tên Lê Khánh vu khống ,khi VC chiếm VN tôi còn nhỏ lắm chừng 5 tuổi,tôi không biết về chế độ của các ông ,tôi biết nhiều về VC . Tôi qua Mỹ để tỵ nạn vc,tôi đi một cách hợp pháp,tôi được chính phủ Mỹ phỏng vấn rồi cho tôi đi. Tôi qua Mỹ tôi không dính đến những sinh hoạt của cộng đồng ,nhưng tôi biết nhiều về những sinh hoạt đó .Ở Seattle tôi quen rất nhiều ông quan thời trước ,tôi ủng hộ tinh thần chống cộng của hội Thủ Đức của các ông,nên bửa tiệc cuối năm tôi,vợ và 2 con đứa lớn nhất 2tuổi rưởi đi dự. Tôi ra ngoài hút thuốc tôi có gặp một ông bận đồ Thủ Đức ,tôi được biết là ông Đặng Ghi ông hỏi tôi khóa mấy? Tôi trả lời tôi còn nhỏ nhưng ủng hộ các ông vì các ông chống cộng sản,bằng chứng là gia đình tôi mua vé đi dự dù con tôi còn nhỏ,nhưng nếu ai làm bậy là tôi chửi.Ông Ghi gật đầu. Nói là nói vậy nhưng tôi không nghĩ các ông quan lại làm bậy,nhưng chuyện nói chơi đó nay thành thật ,tôi chưa bao giờ chơi trò email này,tôi mới mở email này để chửi tên Lê Khánh vi sao tôi chửi hắn?

Tôi giới thiệu thêm là khi ở VN tôi bị công an bắt giam hơn 2 tháng vì giám chống lại bọn chúng lấy đất của tôi. Ở VN tôi nghèo nhưng cũng ráng giúp đở một chiến sĩ của các ông,khi anh ấy bị công an truy nả ,tôi đem anh ấy về nhà ở .Khi qua đây tôi gặp một số chiến sĩ bạn của anh ấy tôi hô hào quyên tiền gởi về cho anh ấy, mỗi lần như vậy tôi cũng đóng góp .Anh Hà Minh Hùng trung uý nhảy dù ,anh cắt gân máu trong trại tù VC nhưng không chết.Anh Hùng nghèo khổ lại bị VC truy nả ,tôi và các anh em tôi không sợ liên lụy nên bao bọc anh Hùng,trong lúc đó các bạn bè cùng tổ chức của anh ấy xa lánh, đến nổi họ qua Mỹ rồi về thăm cũng không dám gặp .Chuyện tôi làm đó ở đây có các ông : Trịnh Quang Minh,Phạm Văn Thận,Huỳnh Kim Anh,Phạm Văn Tiến và các ông ở Cali biết rõ .

 Tôi vô can trong cộng đồng ,tôi không hại ai,không chửi ai,chỉ lo làm ăn nuôi vợ nuôi con .Thế mà tên lê Khánh vu khống cho tôi đủ điều ,tên này nói anh em tôi đi qua đây là ghép với ông già Luyện.tên Khánh hồ đồ.Tôi gọi Lê Khánh để hỏi nó,nó không bắt điện thoại,tôi gọi nhiều lần ,tên khánh nhờ Cảnh Sát can thiệp ,sau khi đủ điều,tôi nói với cảnh sát ” ông khánh chụp mủ,vu cáo cho tôi,tôi gọi anh ta không trả lời ,lÊ KHÁNH LÀ NGƯỜI HÈN HẠ…” Tôi hỏi Cảnh Sát là tôi có quyền viết thư đem đi phổ biến khắp nơi trong chợ về bộ mặt thật của LK khộng ? người nữ cảnh sát trả lời”Đó là quyền của ông,không trực tiếp với LK là được ” (ý nói đừng gọi Đt).Tôi sẽ làm theo luật pháp trong những ngày sắp tới để yêu cầu tên Lê Khánh trả lời về sự vu khống cho anh em tôi . Tôi sẽ hỏi Lê Khánh về lý lịch của hắn ,mà tôi thu thập được …Chắc quý vị không ngờ bộ mặt thật của hắn. quý ông sẽ khỏi thắc mắc vì sao Lê Khánh liên tục đánh phá hội Thủ Đức của các ông,tôi biết được Lê Khánh đánh phá hội thủ đức vì tôi quen ít nhất là 5,6 ông quan trong hội . Nhân đây tôi nhắn cho lê khánh biết là tôi sẳng sàng chơi xả láng với lê khánh,chơi cở nào cũng được ,thử gan đứa nào to hơn ,lê khánh chơi kiểu nào tôi chơi kiểu đó .Quý ông Thủ Đức nhớ đón nghe những câu hỏi về lý lịch tên này,tôi sẽ đến các báo ở Seattle để nhờ đăng,tôi đích thân đi phát những tờ truyền đơn về Lê Khánh .Lê Khánh phải xin lổi chúng tôi về sự vu cáo đó ,tôi củng nhắn với các ông quan nào đứng sau LK thì ra mặt đi .Quan đừng có sợ dân đen .Khi các ông hét ra lữa tôi chỉ là đứa con nít ,có khi chưa sinh.

 chào các ông

 Mike số điện thoại của tôi là: (206)551-3307”

     5. Bản sao đơn kiện và lệnh tòa của ông LQK.

 

CHỈ CÓ ANH Ý GỌI MÀ LQK VU CÁO CHO HKA VÀ VỢ

LỆNH TÒA ( ô vuông có dấu chữ V )

TRĂM HOA ĐUA NỞ TRÊN ĐẤT BẮC (BÀI SỐ 03)

 

I. Phái cựu học

Phái này trước kia gồm những nhà văn xuất thân từ Nho học, đồng thời với cụ Ngô Đức Kế và Huỳnh Thúc Kháng, ra đời vào khoảng cuối thế kỷ trước, lúc Pháp mới bắt đầu đặt nền đô hộ trên toàn cõi lãnh thổ Việt Nam.

Nhưng tất cả các văn nhân trong thế hệ này đều đã qua đời, chỉ còn sót lại có hai cụ là Sở Cuồng Lê Dư và Chương Dân Phan Khôi. Cả hai cụ đều là người Quảng Nam và đều có tham gia phong trào Đông kinh Nghĩa thục và phong trào kháng thuế ở Trung kỳ.

Cụ Lê Dư đã mất hẳn trí nhớ nên từ lâu nay không còn sáng tác nữa, chỉ còn lại một mình cụ Phan Khôi, có thể nói là đại diện cho cả một thế hệ, cho một hệ thống tư tưởng Nho giáo, đơn thương độc mã chống chọi với ý thức hệ Mác-xít và chế độ cộng sản. Tiếng nói của cụ là tiếng nói của một học phái từ hai nghìn năm trước còn vang lại, nhắc chúng ta phải nhớ đến thời Xuân Thu, Chiến Quốc bên Tầu mà thực sự có “Bách gia tranh minh, bách hoa tề phóng”. Phong trào này ngày xưa bị Tần Thuỷ Hoàng đàn áp và ngày nay bị ông Mao Trạch Đông và ông Hồ Chí Minh tiêu diệt. Phan Khôi là đồ đệ cuối cùng còn giữ đủ tinh thần tiết tháo của trên bảy mươi thế hệ Nho gia.(1)

Cụ Phan Khôi

Cụ sinh năm 1887 tại làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, ông thân sinh ra cụ là Phan Trân, trước làm tri phủ, phủ Điện Khánh, sau từ quan về làm nghề dạy học. Bà mẹ cụ Phan Khôi là con gái cụ Hoàng Diệu, nguyên Tổng đốc Hà Nội, có lần đã đi sứ sang Tây Ban Nha và Anh Cát Lợi. Cụ Hoàng Diệu tuẫn tiết khi thành Hà Nội bị lọt vào tay Henri Rivière năm 1882.

Cụ Phan Khôi học chữ Nho rất giỏi và mới 19 tuổi đã đỗ tú tài (1905) tuy rằng sức học đáng để học cao hơn. Đỗ xong cụ tỏ ý chán khoa cử, vì cụ được gặp cụ Phan Bội Châu và cụ Phan Chu Trinh nên bị ảnh hưởng của hai nhà cách mạng này.

Năm 1907 cụ Phan Khôi ra Hà Nội, tham gia phong trào Đông kinh Nghĩa thục và viết cho tờ tạp chí Đăng cổ Tùng báo do phong trào này xuất bản. Chẳng bao lâu tờ tạp chí bị cấm và phong trào bị khủng bố. Cụ Phan liền rút lui về Nam Định rồi về Hải Phòng ẩn náu. Ít lâu sau cụ lén về Quảng Nam hoạt động trong Phong trào Văn thân cùng với cụ Huỳnh Thúc Kháng.

Trong một cuộc biểu tình đòi giảm thuế, cụ Phan bị bắt và giam tại nhà lao Quảng Nam cho mãi đến năm 1914, vì có chiến tranh Đức-Pháp, toàn quyền Albert Sarraut mới ân xá cho nhiều tù nhân, trong đó có cụ.

Trong thời gian bị tù, cụ Phan học chữ Pháp với những công chức cùng bị giam. Thoát khỏi tù, cụ ra Hà Nội làm nghề viết báo. Cụ viết cho tờ Nam phong, là tờ báo văn học duy nhất của thời bấy giờ. Vì bất bình với Phạm Quỳnh là giám đốc tờ Nam phong, cụ bỏ Hà Nội vào Sài Gòn viết cho tờ Lục tỉnh Tân văn.

Năm 1920 cụ lại trở ra Hà Nội viết cho tờ Thực nghiệp Dân báo và tờ Hữu thanh của cụ Ngô Đức Kế. Trong thời kỳ này cụ dịch thuê cuốn Kinh Thánh cho Hội Tin lành. Cuốn Nam âm thi thoại của cụ ra đời trong thời kỳ này.

Năm 1928, tờ Thực nghiệp Dân báo và tờ Hữu thanh bị đóng cửa, cụ Phan lại trở vào Sài Gòn viết cho tờ Thần chung và tờ Phụ nữ Tân văn, và gửi bài ra Hà Nội cho báo Đông Tây. Trong thời kỳ này cụ Phan bút chiến với Hải Triều, nhà văn cộng sản, về vấn đề duy tâm và duy vật. Cuộc bút chiến này sôi nổi dư luận trong toàn quốc.

Năm 1931, cụ Phan lại trở ra Hà Nội viết cho tờ Phụ nữ Thời đàm.

Năm 1936 cụ vào Huế viết cho tờ Tràng An và xin được phép xuất bản tờ Sông Hương. Cụ tái bản cuốn Nam âm thi thoại và đổi tên là Chương Dân thi thoại.

Năm 1939 tờ Sông Hương chết, cụ Phan lại trở vô Sài Gòn dạy học chữ Nho và viết tiểu thuyết. Thời kỳ này cụ viết cuốn Trở vỏ lửa ra.

Sau khi Sài Gòn bị phi cơ đồng minh oanh tạc dữ dội, cụ Phan rút lui về quê để tránh bom và sống an nhàn cho đến khi Việt Minh cướp chính quyền, năm 1945.

Cụ bất bình với chính sách khủng bố của Việt Minh thi hành ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, nhất là về việc cán bộ địa phương định phá huỷ nhà thờ cụ Hoàng Diệu, nên cụ lớn tiếng công kích. Cán bộ địa phương toan bắt cụ, nhưng vì nể Phan Thao là con cụ lúc bấy giờ làm cán bộ cao cấp trong uỷ ban Trung bộ, nên không dám bắt mà chỉ báo cáo lên cấp trên. Về phần cụ Phan, cụ cũng khôn khéo viết thư cho cụ Huỳnh Thúc Kháng lúc bấy giờ giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ ở Hà Nội. Cụ Huỳnh vội vàng can thiệp. Hồ Chí Minh dàn xếp vấn đề bằng cách tự tay viết thư mời cụ Phan ra Hà Nội hợp tác, nhưng kỳ thực là giao cho em họ cụ là Phan Bôi, tức Hoàng Hữu Nam, Trung ương Uỷ viên và Thứ trưởng Bộ Nội vụ phụ trách quản thúc.

Ra đến Hà Nội, cụ Phan không chịu ở nhà Phan Bôi, cụ lên phố Quan Thánh ở nhà Khái Hưng, tức Trần Khánh Dư, là một nhà văn theo Quốc dân Đảng. Khi Việt Minh khủng bố Quốc dân Đảng và vây nhà Khái Hưng để bắt Khái Hưng thì đồng thời cũng bắt được cụ Phan Khôi trong đó. Vì lúc bấy giờ Phan Thao con cụ làm chủ nhiệm báo Cứu quốc ở Hà Nội, nên một lần nữa Việt Minh lại không dám khủng bố cụ Phan. Chúng giao cụ cho Phan Bôi điệu lên chiến khu Việt Bắc. Cụ ở Việt Bắc suốt 9 năm kháng chiến.

Ở chiến khu cụ Phan được giao công tác phiên dịch sách chữ Hán hoặc chữ Pháp sang tiếng Việt. Tuy bất mãn, nhưng cụ cũng làm tròn nhiệm vụ. Ông Hồ lấy làm bằng lòng và ban cho cụ một chiếc áo “bờ-lu-dông” Mỹ-

Sự thực thì cụ Phan chỉ tán thành cuộc kháng chiến chống Pháp, nhưng cụ rất ghét Việt Minh. Hồi 1951 cụ làm bài thơ ví cuộc kháng chiến như hoa hồng và ví Việt Minh như gai. Đại ý cụ nói cụ vì yêu kháng chiến mà phải phục tùng Việt Minh. Bài thơ như sau:
Hồng gai

Hồng nào hồng chẳng có gai
Miễn đừng là thứ hồng dài không hoa,
Là hồng thì phải có hoa,
Không hoa chỉ có gai mà ai chơi?
Ta yêu hồng lắm hồng ơi!
Có gai mà cũng có mùi hương thơm.
(16-03-1951)
Cụ ghét Việt Minh về nỗi cấm đoán tự do ngôn luận nên cụ làm một bài thơ tả số phận con lợn như sau:
Đánh đùng một cái
Kêu éc éc ngay
Bịt mồm, bịt miệng,
Trói chân, trói tay
………………………
Từ dây đến cái dao

Chẳng còn xa là bao.

Cám cảnh cô độc ở Việt Bắc, cụ Phan làm một bài thơ chữ Hán mà Thế Lữ dịch ý như sau:

Một mình trước cảnh xanh núi rừng
Ta ngồi ngạo nghễ với bầy chim bầy vượn
Vì ta chạy loạn mà tình cờ gặp cảnh lâm tuyền.

(Cụ ví Việt Minh là thú vật.)

Và một bài khác Thế Lữ dịch ý như sau:

Một mình đêm giao thừa
Đến ngọn đèn làm bầu bạn cũng không có
Đắp lên thân suy tàn một tấm chăn kép
Chợp mắt mơ là nhằm miếng chua cay
Có vợ con mà sống chia cách
Không sinh kế đành phải ăn nhờ
Nghe tiếng gà mừng vùng dậy
Kháng chiến bốn lần gặp Xuân rồi
(1950)

Vì khí hậu độc nên cụ sinh ốm đau và phải vào bệnh viện nằm trong đó một thời gian. Ra khỏi bệnh viện, cụ đi hớt tóc và cảm hứng cụ làm bốn câu thơ:

Tuổi già thêm bệnh hoạn
Kháng chiến thấy thừa ta
Mối sầu như tóc bạc
Cứ cắt lại dài ra.
(1952)

Cuối năm 1954 cụ Phan Khôi ở chiến khu về Hà Nội cùng với đa số các văn nghệ sĩ khác. Vì không có nhà cửa ở Hà Nội nên Hội Văn nghệ dành cho cụ một buồng ở tầng ba của nhà trụ sở hội đường Gambetta cũ. Cụ vẫn tiếp tục công việc phiên dịch.

Mùa Thu 1956 cụ viết bài “Phê bình lãnh đạo văn nghệ” đăng trong Giai phẩm mùa Thu. Bài này gây nên ngọn lửa chiến tranh giữa trí thức miền Bắc với Đảng. Để nới rộng cuộc đấu tranh sang lĩnh vực chính trị, cụ Phan Khôi đứng ra làm chủ nhiêm kiêm chủ bút báo Nhân văn. Để tỏ ý chí đấu tranh đến cùng, cụ làm bốn câu thơ:

Nắng chiếu tuy có đẹp
Tiếc tài gần chạng vạng
Mặc dù gần chạng vạng
Nắng được thì cứ nắng
(1956)

Nhận thấy thái độ chống đối của cụ Phan Khôi là một điều tối nguy hại cho chế độ, Việt cộng, một lần cuối cùng, cố sức mua chuộc cụ bằng cách mời cụ sang Bắc Kinh để dự lễ kỷ niệm nhà văn Lỗ Tấn. Chính quyền miền Bắc hy vọng rằng cho cụ đi thăm các xưởng máy đồ sộ của Trung Quốc, cụ sẽ phải khâm phục sự tiến bộ của nước đàn anh vĩ đại, và do đó sẽ thay đổi quan niệm, không chỉ trích cộng sản nữa. Một lần nữa, cộng sản lại thất vọng.

Một hôm cụ Phan được đưa tới thăm nhà máy An Sơn của Trung cộng, cụ làm ra vẻ tấm tắc khen ngợi những máy móc tinh xảo và phát biểu như sau:

“Ngày xưa ông Mác nói : Lao động sáng tạo, nhưng tôi nghĩ rằng nên nói trí thức và lao động sáng tạo, mới đúng.”

Cán bộ Tàu lễ phép chữa lại:

“Thưa cụ, ông Mác nói là lao động là bao gồm cả trí thức trong đó chứ ạ!”

Cụ Phan trả lời ngay:

“Không đâu, ý ông Mác chỉ muốn nói công nhân thôi, còn trí thức thì sau này người ta mới thêm thắt vào đó.”

Cán bộ Trung cộng ứ hơi cứng họng không trả lời được.

Sau khi ở Trung Quốc về, cụ Phan lại tiếp tục công việc làm chủ nhiệm báo Nhân văn. Biết rằng Đảng sắp khủng bố đến nơi, cụ vẫn bình tĩnh tiếp tục cuộc đấu tranh. Hồi đó cụ làm bốn câu thơ hài hước như sau:

Làm sao cũng chẳng làm sao
Dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi
Làm chi cũng chẳng làm chi
Dẫu có làm gì cũng chẳng làm sao

Việc cụ Phan Khôi chống đối Đảng trong hai năm vừa qua như thế nào, chúng tôi đã trình bày tường tận trong mục: “Lịch trình đấu tranh của trí thức ở miền Bắc“. Chúng tôi cũng đã tường thuật việc cụ bị đả kích và chửi bới như thế nào. Họ bảo cụ là phản động Việt gian, phá hoại, tờ-rốt-kít, cụ hút thuốc phiện, chơi gái… và cụ “hủ hoá” cả với nữ sĩ Thuỵ An nữa (nên nhớ rằng khi cụ Phan gặp bà Thuỵ An, cụ đã ngoài 70 tuổi). Điều đó không làm cho chúng ta ngạc nhiên vì tục ngữ của chúng ta đã sẵn có câu : Được là vua, thua là giặc.

Điều mà chúng ta cần chú ý là nhờ có sự chửi bới moi móc đó mà chúng ta biết thêm được một vài chi tiết về sự nghiệp văn chương của cụ Phan. Số là trong báo Văn nghệ số 15, xuất bản hồi tháng 8, 1958, Đoàn Giỏi, một cán bộ văn nghệ có viết một bài mạt sát cụ Phan, trong đó có nói nhiều đến cuốn Nắng chiều của cụ Phan mà từ trước tới nay chưa ai biết, vì chưa xuất bản.

Cũng vì không thể kiếm được nguyên bản nên chúng tôi tạm trích bài phê bình của Đoàn Giỏi để độc giả có thể có một khái niệm về tác phẩm cuối cùng của cụ và cũng để độc giả thử đoán xem Đoàn Giỏi có chủ tâm đả kích cụ Phan Khôi không, hay là chỉ mượn cớ chửi bới để phổ biến một tác phẩm mà từ lâu Đảng vẫn giấu kín trong tủ sắt. Chúng tôi không dám quyết định, chỉ biết rằng sau khi đăng bài đó, ban biên tập tờ Văn nghệ phải tự kiểm thảo và từ ngày ấy thấy vắng tên Đoàn Giỏi trên mặt báo. Chúng tôi cũng không dám phê bình cụ Phan Khôi vì cụ là tiền bối. Những người đã có dịp quen biết với cụ trong cuộc đời bôn ba của cụ, tất nhiên biết về cụ rõ hơn chúng tôi.

* Phê bình lãnh đạo văn nghệ

Ngày 14 tháng 7 trước đây, một anh bạn trẻ đến với tôi, ngỏ ý muốn tôi viết một bài cho tập Giai phẩm mùa Thu, tôi nhận lời, và viết bài nầy.

Tôi không phải không nhớ nhập tâm rằng cái Giai phẩm mùa Xuân đã gây ra một cảm giác nặng nề cho giới văn nghệ(2), nhưng mà tôi cứ viết. Là vì tôi nghĩ thấy mùa Thu không thể giống được với mùa Xuân. Thầy Mạnh Tử nói rằng “Bĩ nhất thời dã, thử nhất thời dã”. “Thời” là mùa, mùa nào tiết khí ấy, mà cũng mùa nào thức ấy.

Huống chi cái tôi viết đây là viết bằng văn xuôi, có chi nói nấy, nói toàn những sự thực, tôi không làm thơ, trong đó không có cái gì nhiêu khê, bí hiểm, như “Cái bình vôi” của Lê Đạt, “Con chó đói” của Trần Dần, “Cái chổi quét rác rưởi” của Phùng Quán, nó như ruột voi, như phổi bò, suôn đuồn đuột mà xốp xồm xộp, ai đọc cũng thấy ngay tôi nói gì, khỏi phải hiểu ý nầy ra ý khác thì tôi tưởng cũng nên viết lắm.

Tôi muốn nói sự thực. Nhưng có người bảo rằng “có những cái sự thực không nên nói”. Tôi không tin. Đó là ở dưới chế độ nào kia, chứ ở dưới chế độ của chúng ta, đã lấy phê bình, tự phê bình làm võ khí, thì còn có cái sự thực nào là cái sự thực không nên nói?

Tôi muốn phê bình. Nhưng có người khác lại bảo rằng “phê bình nội bộ thì được, không nên viết trên sách báo, bên địch chúng thấy chúng sẽ xuyên tạc ra”. Tôi cũng không tin. Cái thời kỳ “đóng cửa dạy nhau” đã qua rồi, ngày nay chính là ngày có mâu thuẫn gì giữa nội bộ cần phải giải quyết trước mặt quần chúng nhân dân, không nhờ ánh sáng của quần chúng nhân dân soi dẫn cho, thì không thể giải quyết nổi. Vả lại, đã nhận rằng ăn của nhân dân, làm việc cho nhân dân, nhân dân là chủ, có quyền kiểm tra mọi việc, thì sao cứ im ỉm ta với nhau không cho nhân dân biết?

Bởi những lẽ đó, tôi viết bài nầy phê bình lãnh đạo văn nghệ của Hội Văn nghệ Việt Nam, cái cơ quan mà tôi sống trong đó tám chín năm nay từ khi nó mới bắt đầu thành lập ở Việt Bắc tới giờ, và phê bình rất thẳng thắn.

Hồi còn ở Việt Bắc, đường lối văn nghệ có vẻ giản đơn lắm. Tóm lại là theo chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa hiện thực xã hội để phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân, nhất là phục vụ cho cuộc kháng chiến trước mắt. Những người công tác văn nghệ lúc bấy giờ có làm đúng và đầy đủ như thế không, chưa nói đến; một điều có thể nói chắc là ai nấy đều cố gắng đi theo đường lối ấy. Đối với lãnh đạo, họ có thắc mắc gì không? Hầu như không có thắc mắc gì cả. Nếu có thì cũng đã chín bỏ làm mười, vì trong thời gian đó, cái vĩ đại, cái gian khổ mà vinh quang của cuộc kháng chiến ngập trên người họ, họ đang để lòng mà nghĩ đến kháng chiến, không nghĩ đến chuyện khác.

Ở đây tôi không đi sâu hơn, không đi tìm cái cớ tại làm sao mà sau khi thắng lợi trở về thủ đô, lãnh đạo văn nghệ thành ra vấn đề, quần chúng văn nghệ thắc mắc đối với lãnh đạo; tôi chỉ đưa ra cái hiện tượng không tốt ấy sau khi trở về Hà Nội hai năm nay.

Thình lình tôi dùng cái danh từ “quần chúng văn nghệ” chắc có người thấy mà lấy làm chướng mắt. Nhưng không dùng thì không lấy gì đủ chỉ rõ một cái hiện tượng: cái hiện tượng đối lập, một bên là lãnh đạo văn nghệ, một bên là quần chúng văn nghệ. Trước kia, trong thời kháng chiến, lãnh đạo với thứ quần chúng ấy là một, mà bây giờ là hai. Thêm một điều đáng chú ý, là cái thứ quần chúng ấy, hiện nay, không chỉ là văn nghệ sĩ theo kháng chiến ở Việt Bắc, mà còn văn nghệ sĩ ở vùng mới giải phóng, mà còn văn nghệ sĩ ở vùng Nam bộ, ở khu V ra tập kết nữa, một thứ quần chúng khá đông đảo, hễ lãnh đạo không khéo thì nó dễ thành ra đối lập.

Ở dưới chế độ tư sản, sự đối lập là thường: nhân dân đối lập với chính phủ, công nhân đối lập với chủ xưởng, học sinh đối lập với nhà trường… Nhưng ở dưới chế độ của chúng ta, về mọi phương diện, yêu cầu phải đi đến không đối lập, hễ còn có đối lập, là cái hiện tượng không tốt, cái triệu chứng không tốt.

Sở dĩ có cái hiện tượng ấy là bởi trong lĩnh vực văn nghệ chúng ta hai năm nay có những điều sai lệch về lãnh đạo mà tôi sẽ cử đại khái ra như dưới đây. Đây là những việc nổi bật lên, tôi thấy rõ thì tôi nói; còn những việc khác, về mặt tổ chức, về mặt hành chính tôi không biết cho lắm thì tôi không nói.

1. Về vấn đề tự do văn nghệ sĩ

Sau khi về Hà Nội không lâu, giữa một cuộc toạ đàm ở trụ sở Hội Văn nghệ, một cán bộ cao cấp(3) lấy tư cách cá nhân đề ra cái vấn đề “tự do của văn nghệ sĩ”. Cái vấn đề ấy được giải thích là: Có một số văn nghệ sĩ nào đó đòi tự do hay là có ý đòi tự do, mà tự do một cách bừa bãi, đến nỗi “ví như một kẻ kia đi trên đường phố, thấy có người ôm cái cặp da đẹp, giật ngang lấy đi, rồi nói rằng đó là tự do của mình vì mình thích cái cặp da.” Do đó, kết luận là: phải có lãnh đạo, văn nghệ sĩ phải ở dưới quyền lãnh đạo.

Tôi thấy vấn đề đặt như thế không đúng. Sự thực trước mắt chúng ta không hề có như thế.

Bao nhiêu văn nghệ sĩ từng theo kháng chiến, không luận ở Việt Bắc, ở Nam bộ, ở Khu V, đều đã ở trong Hội Văn nghệ, đều đã bằng lòng chịu lãnh đạo rồi, nếu họ không bằng lòng chịu lãnh đạo thì họ đã không ở trong Hội Văn nghệ. Còn những văn nghệ sĩ ở vùng mới giải phóng, họ còn ở lại đây tức là họ rắp tâm chịu lãnh đạo, nếu không thì họ đã đi vào Nam. Tóm lại, văn nghệ sĩ hiện nay có mặt ở miền Bắc không ai đòi tự do bừa bãi hết, không ai định “đánh giật cặp da” hết, tôi không biết vì sao lại đặt ra vấn đề ấy.

Quả thật như vậy, văn nghệ sĩ của chúng ta chẳng những đáng yêu mà lại đáng thương nữa. Họ biết trước kia họ đã đi sai đường, họ ngoan ngoãn chịu lãnh đạo. Mồ ma Tô Ngọc Vân(4) , anh là một hoạ sĩ cụp vẽ mỹ nhân, năm 1948, anh còn vẽ bức tranh màu đề là “Hà Nội đứng lên”, trình bày một người thiếu phụ tuyệt đẹp đứng hiên ngang trong đống lửa, chung quanh là những cái nếp nhà đổ vì bom đạn. Thế mà sau đó anh chừa hẳn cái vai cụp ấy. Ở Triển lãm Hội hoạ năm 1952, trong một bức tranh không có thể không có phụ nữ, thì anh vẽ một đám đàn bà già và gái bé. Còn Thế Lữ, có lần tôi hỏi tại sao anh không làm thơ như trước kia. Anh trả lời rằng đợi đến bao giờ anh “chỉnh” lại được tâm hồn, cảm thông được với quần chúng cần lao, bấy giờ anh sẽ làm. Thứ văn nghệ sĩ như thế, mà nói họ đòi tự do, dù chưa phải là tự do bừa bãi, cũng đã oan họ lắm rồi, oan mà không có chỗ kêu.

Có lẽ bởi nhìn thấy ở một khía cạnh nào rồi nhận định hẳn như thế, nên từ đó lãnh đạo gắt hơn, kỳ tiêu diệt thứ tự do ấy của văn nghệ sĩ. Nhưng, sự thực, thứ tự do ấy vốn không có để bị tiêu diệt, mà cái cá tính của văn nghệ sĩ, cái nghệ thuật tính của văn nghệ, nhân đó, tuy chưa đến bị tiêu diệt, chứ cũng đã bị thương.

Chưa nói đến cá tính và nghệ thuật tính. Ngay đến ý kiến, ngôn luận của quần chúng văn nghệ dù rất bình thường, không có gì hại, cũng bị kìm hãm. Tôi là một người đã chịu cái điều khó chịu ấy, tôi nói ra đây tưởng không có ai ác đến nỗi bảo tôi là dựng đứng hay xuyên tạc.

Sau khi về Hà Nội mấy tuần lễ, có một cuộc họp mặt văn nghệ sĩ với mấy đồng chí văn nghệ Liên-sô. Một đồng chí nói rằng mình vì không đọc được tiếng Việt cho nên không biết văn học Việt như thế nào, chứ còn mấy ngành khác như nhạc, hoạ, kịch đều thấy có tiến bộ cả. Nhân đó, tôi phát biểu ý kiến, đại khái tôi nói văn học Việt vì những điều kiện nào đó hạn chế, nên hiện thời nó còn thấp kém lắm, chưa theo kịp sự tiến bộ của mấy ngành kia. Lại trong một cuộc họp khác sau đó, nói về âm nhạc, có mấy người đề cao nhạc cổ Việt Nam. Tôi tuy dốt âm nhạc chứ cũng biết rằng nhạc cổ của ta không cao đến cái mức ấy, bèn lại phát biểu ý kiến. Tôi thuật lại chuyện nghe ở người khác rằng có một nghệ sĩ nước bạn phê bình điệu hát chèo, trong đó đệm nhiều những “a ý a”, “tình tính tang”, còn đeo tính chất nguyên thuỷ. Mấy hôm sau, tôi gặp ông Hoài Thanh (5) ở chỗ thang gác từng thứ hai của trụ sở Hội Văn nghệ, ông bảo rằng mấy lần phát biểu ý kiến của tôi đều đáng phê bình, nhất là lần sau, sao lại bằng vào lời một nghệ sĩ nước ngoài mà phủ định nhạc cổ? Tôi chưa kịp nói gì thì ông đã đi xuống khỏi thang gác.

Tháng mười năm ngoái, tôi được cắt cử nói chuyện trong cuộc kỷ niệm Lỗ Tấn.(6) Trước khi nói, tôi phải viết ra trình qua lãnh đạo xem. Trong bài viết, có chỗ tôi nói Lỗ Tấn thông hiểu chủ nghĩa Mác lắm, nhưng trong văn chương của ông không hề dùng những danh từ mác-xít, mỗi khi đọc, làm tôi nghĩ đến con tằm: con tằm ăn dâu rồi nhả ra tơ, nếu nhả ra dâu thì không phải là con tằm. Ông Nguyễn Tuân hỏi tôi: “Nói như thế là định viser (ám chỉ) ai?” Đề nghị tôi nên chữa. Tôi lấy làm lạ, tôi sao lại có tâm địa xỏ lá đến nỗi mỗi khi nói phải có ám chỉ ai mới được; tuy vậy, tôi cứ hứa sẽ chữa. Một chỗ khác, nói về lối phiên dịch, Lỗ Tấn chủ trương trực dịch. Ông Hoài Thanh bảo tôi phải chữa, lấy lẽ rằng phiên dịch có nhiều lối, nếu lấy Lỗ Tấn làm khuôn mẫu thì Hồ Chủ tịch dịch Tỉnh uỷ bí mật(7) , không trực dịch, chẳng là không đúng hay sao? Tôi biết rõ rằng cái câu nói đó chỉ là thuật lại cái chủ trương của Lỗ Tấn, chẳng hề lấy làm khuôn mẫu, cũng chẳng hề đả động gì đến việc dịch của Hồ Chủ tịch hết, những tôi không cãi, cũng cứ hứa sẽ chữa, mà thật, tôi đã chữa ngay trong bản thảo trước mặt ông Hoài Thanh.

Đó là cái thói kỵ huý trong văn chương của thời phong kiến còn rớt lại. Thuở Thiệu Trị, ở trường thi hương Thừa Thiên, Đặng Huy Trứ vào trường thi, trong văn có câu “vi gia miêu chi hại”, nghĩa là làm hại giống mạ tốt, nhưng “gia miêu” là tên làng các vua triều Nguyễn, quan trường sợ bóng sợ gió, sợ như thế có thể hiểu ra là làm hại làng của vua, bèn đánh rớt bay. Lại thuở Tự Đức, cũng trường thi Thừa Thiên, Lương Gia Hựu cũng vào trường thi, trong văn có câu “vi thiên tử chi ấp”, chữ “ấp” đó nghĩa là kinh đô, thế mà quan trường sợ có thể hiểu nôm na rằng thiên tử ôm ấp cô gái nào, cũng đánh rớt bay. Thử so sánh mà xem, có phải mấy ông lãnh đạo của tôi cũng sợ bóng sợ gió, cũng kỵ huý như mấy ông quan trường ấy không? Người ta làm cho tôi cảm thấy qua việc ấy rằng nước Việt Nam ngày xưa, triều đại là triều đại Thiệu Trị, Tự Đức, cái nguồn văn chương là Tứ thư, Ngũ kinh, còn nước Việt Nam ngày nay, cũng là triều đại gì đó, chỉ khác cái nguồn văn chương là Mác-xít, chứ cái thói kỵ huý của quan trường thì không khác.

Trở lại vấn đề “tự do của văn nghệ sĩ”.

Thực ra thì, như trên đã nói, văn nghệ sĩ không đòi tự do bừa bãi, họ chịu ở dưới quyền lãnh đạo, chỉ duy cái vấn đề họ đặt ra là lãnh đạo phải như thế nào. Nói như thế cũng chưa hết ý. Phải nói rằng văn nghệ sĩ cũng muốn được tự do, nhưng họ chỉ yêu cầu được tự do trong nghệ thuật.

Đành rằng văn nghệ phục vụ chính trị, cho nên chính trị phải lãnh đạo văn nghệ. Nhưng phải hỏi: chính trị nếu muốn đạt đến cái mục đích của nó, thì cứ dùng những khẩu hiệu, biểu ngữ, thông tri, chỉ thị, không được hay sao, mà phải cần dùng đến văn nghệ? Trả lời cho thành thật, e chính trị phải vỗ vai văn nghệ mà nói rằng: “Sở dĩ tao tha thiết đến mầy là vì tao muốn lợi dụng cái nghệ thuật của mầy.” Đã cởi mở với nhau như thế rồi, văn nghệ đồng ý. Nhưng phần nghệ thuật nầy là phần riêng của văn nghệ, chính trị không bao biện được, nó phải đòi tự do trong phần ấy. Như thế, tưởng chính trị cũng lấy lẽ gì mà không đồng ý. “Hai bên đều có lợi”, cái nguyên tắc ấy, ở ngày nay, nó thích dụng trong bất cứ một sự hợp tác nào.

Nhưng hai năm nay, lãnh đạo văn nghệ của chúng ta đã đi quá trớn mà không giữ đúng cái giao ước bất thành văn ấy. Lãnh đạo đã xâm phạm mỗi ngày một hơn vào quyền riêng nghệ thuật của văn nghệ sĩ.

Trong văn nghệ, không cứ về ngành nào, sáng tác hay “sản xuất”, đều hầu như bị Ban Thường vụ của Hội xỏ sẹo dắt đi, hay quá lắm là nhúng tay vào. “Phục vụ công nông binh” và “phục vụ kịp thời”, cái đó đã đành rồi; “quần chúng văn nghệ” bực mình vì còn phải chịu mệnh lệnh của lãnh đạo ngoài những cái đó.

Tức như trước đây trong việc chấm giải thưởng về nhạc. Có một bài nhạc, Ban chấm giải (gồm những nhạc sĩ chuyên môn) đặt vào hạng thấp, thì Ban Thường vụ bảo phải nhấc lên hạng cao, lấy lẽ rằng “lời” nó hay và đúng chính sách. Ban chấm giải bầy rằng tuy “lời” hay mà “nhạc” tầm thường nên để hạng thấp, nhưng không được, rốt lại cũng phải nhắc lên hạng cao. Một anh nhạc sĩ trong Ban chấm giải thuật chuyện ấy cho tôi nghe và phàn nàn rằng thế thì làm thơ làm văn cho hay và đúng chính sách cũng được, việc gì phải làm nhạc và phải giao cho nhạc sĩ chấm? Tôi cho phàn nàn như thế là có lý lắm, trừ ra khi nào Ban Thường vụ cũng là nhạc sĩ chuyên môn thì vấn đề còn phải thảo luận lại.

Để rồi đến ngày Đại hội, trong mỗi ngành sẽ có người đứng lên nói những sự thực như thế ra. Tôi ở ngành văn, tôi đã kể một chuyện về viết như trên kia cũng đủ thấy là khó chịu rồi. Cái sự bẻ bai bẻ họe của bà già đối với nàng dâu, hà tất phải kể ra hàng tràng, thiên hạ mới biết.

Ông Nguyễn Tuân (8) và ông Hoài Thanh đều là nhà văn nổi tiếng, tôi không nói các ổng không có thẩm quyền về nghệ thuật viết văn. Nhưng các ổng có nghệ thuật của các ổng, còn tôi có nghệ thuật của tôi. Trong nghệ thuật ngụ cái cá tính của mỗi người một khác, do đó nghệ thuật tính của văn nghệ của mỗi tác giả một khác. Có thế thì mới có được cái quang cảnh “trăm hoa đua nở”. Nhược bằng bắt mọi người viết phải viết theo một lối với mình, thì rồi đến một ngày kia, hàng trăm thứ hoa cúc đều phải nở ra cúc vạn thọ hết.

Mà nếu cứ thế nầy mãi, than ôi, cái ngày ấy cũng chẳng xa đâu!

Cái tác phong lãnh đạo ấy hiện đã truyền nhiễm khắp Hà Nội rồi. Một toà soạn nào đó cũng có quyền chữa bài của tôi, vứt bài của tôi. Mà phải chi đáng chữa mà chữa, đáng vứt mà vứt cho cam. Mới đây, trước ngày 20 tháng 7, có một nhà báo – giấu làm gì? Nói ngay là nhà báo Tổ quốc – nhà báo Tổ quốc viết thư cậy tôi viết một bài. “Viết một bài về chuyện miền Nam”, như thế là đã “ra đề” cho tôi “làm bài” đó, tưởng cũng đủ lắm rồi. Trong thư, ông đại chủ bút còn “dàn bài” cho tôi nữa: những là “yêu cầu” thế này, “mục đích” thế nọ, và hạn từ một ngàn rưởi chữ đến hai ngàn chữ. Tôi lấy làm đau xót quá (có lẽ đó vì tôi tự ái, đáng kiểm thảo), bèn kiếm cách từ chối. Cụ Đồ Chiểu ơi! Cụ Đồ Chiểu! Ở thời cụ, cụ đã kêu:

Ở đây nào phải trường thi

Ra đề, hạn vận một khi buộc ràng?

thế mà đến ngày nay, bảy tám mươi năm sau cụ, người ta còn ra đề, dàn bài, lại hạn chữ cho tôi nữa đó cụ ơi! Tôi còn làm ăn gì được nữa cụ ơi! Tôi còn là tôi đâu được nữa cụ ơi!

2. Về vụ Giai phẩm mùa Xuân

Lãnh đạo như thế cho nên mới có tập Giai phẩm mùa Xuân. Nói cho tiêu tội, mấy người viết Giai phẩm mùa Xuân, họ vốn không hề cho tôi biết gì cả, nhưng khi tôi đọc thì tôi – có lẽ như tục ngữ nói: voi thuộc voi, ngựa thuộc ngựa, tôi biết ngay là vì họ bất bình với lãnh đạo.

Sáng hôm mùng Một Tết âm lịch năm nay, ông Tố Hữu (9) đến chơi trụ sở Hội Văn nghệ. Giữa anh em đông, ông hỏi ý kiến tôi về tập Giai phẩm mùa Xuân. Tôi nói trong đó chỉ có bài thơ của Trần Dần nói lôi thôi, có hơi không lợi (10); còn của Phùng Quán, của Lê Đạt, tôi thấy nói đúng đấy. “Chống công thức”, “quét rác rưởi tư tưởng” là việc chúng ta cần phải làm. Có điều cái gì là công thức, cái gì là tư tưởng rác rưởi, chẳng những nên bảo họ nói rõ ra, mà còn nên bảo họ viết lên báo cho rõ ra. Ông Tố Hữu nói một câu có đông anh em cùng nghe: “Giấy mực đâu mà phí để cho họ viết?”. Thế rồi làm thinh. Tôi làm thinh, nghĩa là tôi trải đời nhiều rồi, tôi tròn lắm rồi, tôi không dại dột đến nỗi đã thế rồi mà còn cứ nói nữa.

Mấy hôm sau, nghe nói tập sách mỏng ấy bị thu về, tôi cho rằng sự thu về ấy là thất sách. Sao lại phải làm to chuyện cái chuyện không đáng làm to? Sao lại gợi cho những kẻ hiếu kỳ lén lút tìm mua tập sách ấy 3000 đ một tập mà đọc? Sao lại làm như là sợ nó? Ở Trung Quốc, Hồ Phong nói xấu lãnh đạo văn nghệ đến thế nào, mà “Ba sắp tài liệu” của Hồ Phong vẫn được công bố ra, cả đến cái Ý kiến thư của hắn cũng được công bố ra, chẳng ai hề sợ.

Thế rồi một ngày xuân mới, ánh mặt trời ấm áp, tối lại, có mấy hạt mưa phùn để giúp cho những cây rụng lá mùa đông nứt lộc ra, thì ở trụ sở Hội Văn nghệ khai hội từ 7 giờ tối đến 1 giờ sáng để phê bình bài thơ Trần Dần, mà ký thực là hỏi tội Trần Dần, một mầm non văn nghệ. Hỏi tội độc một Trần Dần thôi, là cái ngón chính trị tài tình lắm đấy, để cô lập Trần Dần và phân hoá lũ người trong Giai phẩm, cái ngón ấy đã thành công. Hết thảy có độ một trăm rưởi người, trong đó có vài chục người đứng lên nói, đại khái giống nhau và kết luận là Trần Dần có tội. Không phải không có những người thấy rằng Trần Dần dù có tội cũng không đến to như thế, nhưng mà họ đã làm thinh.

Tôi nhớ có một vị bắt lỗi trong bài thơ Trần Dần có chữ “Người” viết hoa. Lấy lẽ rằng chữ “Người” viết hoa lâu nay chỉ để xưng Hồ Chủ tịch, thế mà Trần Dần lại viết hoa chữ “Người” không phải để xưng Hồ Chủ tịch. Tôi ngồi nghe mà tưởng như mình ở trong chiêm bao: chiêm bao thấy mình đứng ở một sân rồng nọ, ông Lê Mỗ tố cáo ông Nguyễn Mỗ trước ngai vàng, rằng trong phép viết, chỉ có chữ nào thuộc về hoàng thượng mới phải đài, thế mà tên Nguyễn Mỗ viết thư cho bạn, dám đài chữ không phải thuộc về hoàng thượng. Nhưng may cho tôi, tôi tỉnh ngay ra là mình ngồi trong phòng họp Hội Văn nghệ.

Rồi đến ông Hoài Thanh viết một bài trên báo Văn nghệ, bằng giấy trắng mực đen, ghép Trần Dần vào tội phản động, đứng về phía địch chống lại nhân dân ta (Báo Văn nghệ số 110 ra ngày 17-3-56).

Thật cái tội phản động ở xứ nầy sao mà ghép một cách dễ dàng quá. Hồ Phong bên Trung Quốc, còn phải điều tra bao nhiêu năm, công bố “Ba sắp tài liệu”, mới vạch mặt hắn là phản cách mạng, là tay sai của Tưởng Giới Thạch được. Tôi lại còn thấy một cái tài liệu, nói Hồ Phong từng bị bắt quả tang có một thanh gươm, ở cái nạm có bốn chữ “Tưởng Trung Chánh tặng”, ở cái lưỡi có ba chữ “Đảng Nhân hồn”. Như thế thì phản động là đáng lắm, có đâu chỉ một bài thơ mà đã là phản động?

Tuy vậy, Trần Dần còn có phúc hơn cậu cử Nguyễn Thuyên con trai cụ lớn Tiền quân Nguyễn Văn Thành nhiều lắm. Trần Dần với bài thơ hàng hơn năm trăm câu mà chỉ mang tiếng là phản động thôi, không như cậu cử Thuyên, bài thơ chỉ có 56 chữ, ý tứ vu vơ, mà bị chết chém, và còn liên luỵ đến anh em, bè bạn, liên luỵ đến ông cụ bố phải uống thuộc độc mà chết. Trong chỗ đó, tôi thấy thời đại dân cộng hoà dân chủ rộng rãi đối với văn nghệ hơn thời đại chuyên chế triều Gia Long rất nhiều.

Cuối cùng, ông Nguyễn Đình Thi, thư ký toà soạn báo Văn nghệ viết liên tiếp ba bài đại cà sa phê bình tập Giai phẩm mùa Xuân. Sau khi ba số báo in ra xong, ông Thi đưa cả cho tôi xem và hỏi ý kiến tôi đối với ba bài ấy.

Đọc xong sau một hôm, hai chúng tôi nói chuyện với nhau. Tôi bảo ông Thi rằng ông đặt sai vấn đề. Vấn đề Giai phẩm là vấn đề lãnh đạo, chứ không phải vấn đề quần chúng. Tôi phân tích rõ ràng cho ông thấy rằng tại lãnh đạo văn nghệ có thế nào cho nên quần chúng văn nghệ mới bất bình mà phát biểu ra như thế. Ví dầu trong sự phát triển của họ có lầm lỗi cũng còn là cái ngọn, mà cái gốc, phải tìm đến ở chỗ do lãnh đạo gây ra. Thế mà cả ba bài của ông Thi không có một chữ nào đụng đến lãnh đạo hết, chỉ đổ lỗi cho mấy người viết trong Giai phẩm, thế là không công bình, thế là quá đáng. Khi viết đây, tôi ngồi dưới ngọn đèn điện 20 nến, tôi nói có mặt đèn làm chứng, ông Thi nhận cho lời tôi nói là đúng, hứa sẽ viết phê bình lãnh đạo, nhưng mãi tới nay chưa thấy viết.

Đọc trong bài thứ nhất của ông Nguyễn Đình Thi, đến chỗ ông nói mấy người trong Giai phẩm là “cả vú lấp miệng em”, làm tôi nhớ lại một vài chuyện cũ mà tủm tỉm cười một mình. Năm 1920, tôi làm thư ký kiêm kế toán cho công ty Bạch Thái ở Hải phòng, tôi thấy ông Bạch Thái Bưởi bóc lột công nhân làm tàu của ông rõ ràng, thế mà một hôm ông chỉ vào mặt các anh làm tàu mà nói rằng: “Chính chúng mầy bóc lột tao”; năm 1930 hay 1931 gì đó, tôi viết báo ở Sài Gòn, biết thực dân Pháp khủng bố cộng sản dã man hết sức, thế mà trên báo Tây, chúng gọi Xô viết Nghệ An là “khủng bố đỏ” (terreur rouge). Nghề thế, hễ mình muốn người khác đừng nói đến cái tật xấu của mình, thì mình đem ngay cái tật xấu ấy đổ trên đầu người khác để đấm họng họ cho câm đi. Chính ông Nguyễn Đình Thi “cả vú lấp miệng em” cho nên ông bảo trước rằng bọn Trần Dần, Phùng Quán, Lê Đạt là “cả vú lấp miệng em”. Thực ra thì bọn nầy có “” đâu mà “cả”, vả lại họ cũng không có ai là “em” họ hết.

3. Về vụ giải thưởng văn học 1954-1955

Sau khi giải thưởng nầy tuyên bố, ở đâu thì không biết, chứ ở Hà Nội, dư luận bàn tán xôn xao, nhiều người không phục, cho rằng có mấy tác phẩm trong đó không xứng đáng được giải. Nói như thế, có thể bị coi là nói vu vơ, không có bằng chứng. Nhưng muốn có bằng chứng cũng không thể có được, vì cả nước chỉ có một tờ báo Văn nghệ có thể đăng những bài phê bình văn nghệ, mà là của Hội Văn nghệ, thứ dư luận ấy có muốn phát biểu cũng không phát biểu vào đâu. Tuy vậy, bằng chứng cũng không phải toàn không có. Dạo trước, tờ Trăm hoa có ba bài của ba người công kích tập thơ Ngôi sao của Xuân Diệu, nhưng khốn nỗi, nó ra đến bài thứ ba thì nó chết. Dù vậy, tôi thấy dư luận ấy là quả có, chẳng tin, ai thử làm một cuộc trưng cầu ý kiến mà xem.

Chính tôi là một người ở trong Ban Chung khảo chấm giải, tôi đã biểu đồng tình với thứ dư luận ấy trước khi nó xôn xao, nghĩa là trước khi tuyên bố kết quả giải thưởng.

Ban Chung khảo có mười người, tôi là một. Tôi quên lửng, không biết do ai công cử hay chỉ định, khi nhận được giấy triệu tập thì cứ di dự vào, làm việc, lãnh tiền thù lao, nhưng khi việc xong thì tôi đâm ra trách mình một cách bâng quơ: phải chi mình đừng dự vào đó thì hay.

Tác phẩm của mỗi ngành trong văn học, như thơ, tiểu thuyết, kịch bản… sau khi chuyền cho nhau đọc rồi, về mỗi ngành có một buổi họp toàn ban để bình định thứ bậc. Trong khi bình định, hễ đồng ý với nhau thì thôi, bằng có mâu thuẫn thì biểu quyết bằng lối giơ tay, “thiểu số phục tùng đa số”.

Hôm bình định về thơ, tôi phản đối tập Ngôi sao đứng giải nhì, tôi nói: có vớt vát lắm thì cũng chỉ nên để nó đứng giải ba. Tôi cử ra những câu bí hiểm không thể hiểu nghĩa được, thì ông Huy Cận (một trong Ban chung khảo) bảo rằng đó là tại tôi “muốn” không hiểu thì không hiểu. Quái, tôi “muốn” làm sao được? Theo lẽ, ông Huy Cận nếu binh vực cho Ngôi sao thì phải cắt nghĩa rạch ròi những câu ấy ra, chứ sao lại bảo rằng tôi “muốn” không hiểu? Nhưng cả ban làm thinh, tự hồ ai cũng hiểu những câu ấy, không ai tỏ đồng ý với sự chỉ trích của tôi. Tôi còn cử ra những câu tầm thường quá, không xứng đáng là thơ, và nói rằng thơ Xuân Diệu ngày nay trở kém thơ Xuân Diệu ngày trước. Một ông trong ban (quên là ai) cãi rằng nếu thế thì bao lâu nay Đảng giáo dục Xuân Diệu không có hiệu quả gì sao? May mà một ông khác (quên là ai) lập tức đưa tay ngăn cản lại, nói đó không phải là cái luận cứ vững, đừng đưa ra. Nhưng đồng thời tôi trót đã vọt miệng thốt ra câu này: Đảng giáo dục Xuân Diệu làm cách mạng, chứ có giáo dục Xuân Diệu làm thơ đâu, thật như đức Khổng tử đã dạy rằng: “Ngựa tứ chẳng kịp lưỡi”. Cũng vì tôi nên có sự mâu thuẫn, phải biểu quyết, thì tôi đứng về thiểu số, mà nhớ hình như thiểu số tuyệt đối.

Hôm khác bình định về tiểu thuyết. Tôi phản đối Truyện anh Lục của Nguyễn Huy Tưởng đứng giải nhì. Tôi cử ra sáu bảy chỗ, kết luận rằng cái tiểu thuyết này nhiều chỗ không giống với sự thực, trái với chủ nghĩa hiện thực bước thứ nhất, nếu nó được giải cao thì khi ngoại quốc dịch nó ra, nhất là khi bên địch đọc nó, bất lợi cho văn học của chúng ta. Cả ban không ai bác lại lời tôi, tuyệt nhiên không có một người nào bác lại tôi, nhưng thế nào không biết, cuối cùng cũng phải biểu quyết, và tôi vẫn đứng về thiểu số, và lại là thiểu số tuyệt đối.

Đến khi việc đã xong rồi, Ban Chung khảo không còn có buổi họp nào nữa rồi, tôi mới tiếp được hai tác phẩm về ký sự, đều đứng giải ba, có thông tri bảo đọc và cho ý kiến. Tôi thấy cái Nam bộ mến yêu của Hoài Thanh chỉ là bài viết chạy như bài đăng trên báo, không có gì là giá trị văn học, còn cái Lên công trường của Hồng Hà viết có công phu hơn. Tôi nhớ ra mình đã từng hạ hai tác phẩm của hai ông Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng xuống mà không được, bây giờ không còn có đủ sức bướng để mà hạ của ông Hoài Thanh xuống nữa, bèn viết một mẩu giấy đề nghị đưa Lên công trường lên giải nhì. Nhưng mẩu giấy ấy về sau chìm đi đâu mất, không ai nhắc đến.

Sau có một buổi họp giữa những người chấm giải với những người được giải. Đáng lẽ, một buổi họp như thế, thế nào Ban chấm giải cũng phải gợi cho những người được giải có thắc mắc gì thì nói ra. Bởi vì bây giờ không phải như thời phong kiến chấm trường thi, quan trường ăn tiền lấy đỗ bậy bạ rồi ai rớt nấy chịu. Nhưng mà không thấy đả động gì đến việc ấy. Gần rốt buổi họp tôi mới đề nghị xin cho nói thắc mắc. Thế rồi có mấy người nói thắc mắc của họ. Cuối cùng tôi cũng đưa ra thắc mắc của tôi về cái sự hai lần bị đứng về thiểu số như đã nói trên. Tôi nói quả quyết rằng mặc dầu tôi đứng về thiểu số, chứ cái sự định đoạt ấy của đa số, tôi cho là không đúng, tôi nhất định không phục. Trong những người được giải, có một người đứng lên phát biểu ý kiến, lấy làm lạ rằng sao trong Ban Chung khảo không nhất trí với nhau, xong việc rồi lại còn có người đưa ra thắc mắc? Tan buổi họp, tôi nghĩ mà cũng lấy làm lạ rằng sao cái ông lấy làm lạ đó lại không ở trong Ban Chung khảo?

Đến hôm phát giải thưởng ở Câu lạc bộ Đoàn kết, ban tổ chức đề nghị tôi làm một người trao giải. Tôi từ chối. Tôi sợ rằng trong khi trao giải hoặc rủi mà tôi gặp phải trao ba cái giải mà mình phản đối thì khổ cho mình. Khi tuyên bố ba cái giải mà tôi phản đối ấy tôi nhất định không vỗ tay. Tôi nhất định tỏ thái độ phản đối đến cùng.

Hôm thượng tuần tháng 6, tôi nằm trong Bệnh viện C, thấy mấy anh bộ đội đọc tập thơ Người chiến sĩ của Hồ Khải Đại mà chê rằng dở quá, tôi bèn mượn xem thì thấy quả thật là dở quá. Thế mà nó được giải ba văn học. Tập thơ nầy, tôi ở trong Ban Chung khảo chưa hề thấy mặt nó, sau cùng chỉ nhận được thông tri nói nó nguyên ở giải khuyến khích, nay tương lên giải ba. Ai tương lên? Thế có lạ không?

Ban Chung khảo theo đề nghị của ông Xuân Diệu, sau khi tuyên bố giải thưởng, phải làm nhiều cách tuyên truyền cổ động rầm rộ cho các tác phẩm được giải, và đã cắt cử người nào viết bài phê bình cho tác phẩm nào. Lâu mà không thấy mấy người viết. Tình cờ tôi hỏi một ông, ông trả lời: “Khó viết quá”. Câu trả lời đúng hết sức: lấy nó trúng giải thì dễ, chứ viết để tuyên truyền cổ động cho nó thì phải khó.

Cho đến hết tháng bảy mà chỉ có hai bài phê bình trên báo Văn nghệ. Một bài ông Hoàng Xuân Nhị (một trong Ban Chung khảo) phê bình Truyện anh Lục, độc giả không lấy làm mãn nguyện, có người đã nói, đọc nó chỉ thấy cái vẻ mô phạm hiền lành của một vị giáo sư đại học mà thôi. Một bài ông Hoài Thanh viết để binh vực cho Ngôi sao mà binh vực một cách gắng gượng quá, nhất là yếu, không hề chống cãi lại những chỗ đả kích trong ba bài của báo Trăm hoa. Tôi rất không phục ông Hoài Thanh ở điểm này: ông viết bài ấy sau ba bài của Trăm hoa mà ông không hề nhắc tới Trăm hoa lấy một tiếng, ông cố dìm nó xuống cũng như Phạm Quỳnh đã dìm báo Hữu Thanh của Ngô Đức Kế. Nếu không dìm thì là ông khinh, cũng như Phạm Quỳnh đã khinh báo Hữu Thanh của Ngô Đức Kế.

Về vụ này, có một điều, người ngoài không phải là tôi, không biết đến, thì không lấy làm quái. Ấy là điều, ba ông Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh đều có tác phẩm dự thi mà đều ở trong Ban Chung khảo. Nếu chỉ ở trong Ban Chung khảo mà thôi, còn khá; thử điều tra lại hồ sơ, thì ba ông còn ở trong Ban Sơ khảo nữa. Sao lại có thể như thế? Trường thi phong kiến thuở xưa, tuy có ám muội gì bên trong, chứ bên ngoài họ vẫn giữ sạch tiếng: Một người nào có con em đi thi, thì người ấy vẫn có được cắt cử cũng phải “hồi tị”, không được đi chấm trường. Bây giờ cả đến chính mình đi thi mà cũng không “hồi tị”: một lẽ là ở thời đại Hồ Chí Minh, con người đã đổi mới, đã “liêm chính” cả rồi; một lẽ trắng trợn vì thấy mọi cái “miệng” đã bị “vú lấp”.

Người ta cứ sợ “bên địch xuyên tạc”. Sao trong việc nầy không sợ? Nó cần gì phải xuyên tạc? Đọc mấy tác phẩm được giải thưởng nầy, tha hồ cho nó đánh giá văn học miền Bắc.

Gọi là phê bình, chỉ có thế; tôi chỉ trình bày mấy hiện tượng không tốt trong giới văn nghệ. Còn sửa chữa, mong ở Đại hội sắp tới, nếu toàn thể xét thấy lời tôi nói có đúng phần nào thì xin tuỳ đó mà sửa chữa.

PHAN KHÔI (Viết xong ngày 30-7-1956 tại Hà Nội) (11)

Tìm ưu điểm

Lời soạn giả: Bài này chính thực là của cụ Phan Khôi. Cụ viết bài ngụ ngôn này để chế riễu lối chấm giải thưởng văn nghệ mà cụ đã tả rõ trong bài trên.

Một dạo, giữa loài dở cạn dở nước, mở cuộc thi sắc đẹp.

Nhân có sự tranh chấp, ba con: Ếch, Cóc, Ễnh ương đấu khẩu với nhau. Tiếng Cóc nhỏ hơn hết, nhưng mà động đến Trời.

TrờI sai Nhái bén làm trọng tài. Nhái bén từ chối: “Con nhỏ hơn hết, con không dám có thẩm quyền trên ba chị ấy.”

Trời phán: “Chỉ có mày là đồng loại với chúng nó, mày sẽ làm vừa ý ta, không được từ chối.”

Sau khi cực chẳng đã phải làm trọng tài, Nhái bén tâu kết quả: Ễnh ương giải nhất, Ếch giải nhì, Cóc không ở giải nào cả.

Trời tỏ dáng không vui, bảo Nhái bén: “Mày cố hết sức tìm ra ưu điểm Cóc xem.”

Nhái bén tâu: “Chị ấy mụt mằn khắp cả người, con không tìm ra ưu điểm nào.”

Trời phán: “Thôi, cho mày đi về.”

Mấy hôm sau, có nghị định của Hà Bá sức về: “Nhái bén bị đày vĩnh viễn ở dưới nước, không được lên cạn nữa.”

Nhái bén gặp Cá trê, kể cảnh ngộ của mình, Cá trê bảo: “Mày dại lắm. Đi đâu chẳng biết con cóc là cậu ông Trời. Tao đây mà cũng còn thua kiện nó nữa là…”

(Trích Giai phẩm mùa Đông)

Ông bình vôi

Lời soạn giả: Ngụ ý của tác giả trong bài này khá rõ ràng: Cụ Phan chê các cán bộ cao cấp, có lẽ cả ông Hồ, càng ngày càng “tồi”. Cụ nói như vậy là vì cụ cho rằng ông Hồ ngày nay không thương nước thương nòi như ông Nguyễn Ái Quốc ngày trước nữa.

Khắp nước Việt Nam có tục ăn trầu, cho nên ở đâu cũng có bình vôi.

Theo như tôi biết, ở vùng quê chúng tôi, có hai thứ bình vôi. Đều bằng đất nung cả, mà một thứ giống như cái hũ nhỏ, duy cổ eo, miệng loa, cho nhà trung thường dùng; một thứ hình tròn mà đít bằng, trên có quai xách, miệng ở về một bên, toàn thân tô màu lục hoặc màu vàng, cho nhà sang dùng. Cả hai đều để đựng vôi trong lòng nó. Nhưng mỗi khi cho vôi vào, người ta lại cũng dùng vôi đắp cái miệng nó cho cao lên.

Nhà tôi, hồi bà nội tôi còn sống, có một cái bình vôi hạng sang ấy. Mỗi khi mua vôi ở chợ về, bà tôi ngồi tỉ mỉ lấy cái chìa quệt vôi nhét vào miệng nó, gọi là “cho ông bình ăn”. Và lâu lâu đắp thêm cái miệng nó một lần, hoá nên cái miệng càng ngày càng chêu vêu ra.

Thứ bình vôi thường, dùng chìa bằng tre: nhưng thứ bình vôi sang, bao giờ cũng dùng chìa bằng sắt, ở thân cái chìa, đôi khi lại có đeo một lưỡi dao để rọc trầu.

Nhà khác thế nào tôi không biết, còn nhà tôi, tối lại, bà tôi cứ nhớ rút cái chìa ra để ra một nơi khác. Làm như thế, bà tôi cắt nghĩa rằng “ông bình” linh lắm, đêm hôm có kẻ trộm đạo, “ông” sẽ mách cho mình, mà nếu để cái chìa lấp cái miệng thì không mách được.

Tôi nói “nhà tôi có một cái bình vôi”, không đúng. Nói đúng là từ hồi tôi còn nhỏ cho đến năm tôi hai mươi lăm tuổi, bà tôi chết, nhà tôi có ba cái bình vôi kế vị nhau. Bởi vì dùng lâu ngày, trong lòng đầy vôi khô cứng, miệng nó vì cứ đắp nên tum húm lại, không dùng được nữa, phải mua cái khác.

Lúc đó nhà tôi có một cái trang thờ Tam vị: ở giữa là Phúc đức chính thần, hai bên là Thổ công và Táo quân. Hễ cái bình vôi nào bị thải ra thì bà tôi bảo đem đặt lên cái trang ấy, thờ nhân thể.

Sự thờ phượng như thế, không phải chỉ riêng một nhà tôi đâu. Cả làng, nhà nào có bình vôi thải ra, cũng đều đem đặt trên các tường thành đình hoặc chùa; như thế, người ta cho rằng thờ “ông bình” đó.

Cái bình vôi, tại sao lại gọi bằng “ông”, đọc từ đầu đến đây, bạn đọc đã biết. Ở vùng quê chúng tôi, mà có lẽ cả nước Việt Nam cũng vậy, vật gì nó có thể làm hại mình được thì gọi bằng “ông”, vật gì nó to hay sống lâu năm thì cũng gọi bằng “ông”.

Con cọp ăn thịt mình được, gọi bằng ông Cọp, con khỉ phá hoại hoa màu của mình được, gọi bằng ông Trưởng; con chuột, cắn quần áo của mình được, gọi bằng ông Tí. Cái đầu rau, dùng năm mười năm mới thay cái khác, gọi bằng ông Núc; cái che, to, đường kính của nó có khi gần đến một mét, gọi bằng ông Che (12) . Người Việt Nam về sau thế nào chưa biết, chứ về trước, hễ vật gì làm hại được hoặc lớn hoặc nhỏ, vật gì sống lâu và to xác thì đều gọi bằng “ông” để tỏ lòng tôn kính, sùng bái.

Tôi có phạm một cái tội hồi mới mười tám tuổi, bây giờ tôi xin tự kiểm thảo và thú nhận.

Năm tôi mười tám tuổi, tôi không tin như bà nội tôi tin nữa. Một đêm mùa hè, gió Nam như bão, sáng trăng mờ mờ (13) , tôi rủ mấy thằng bạn lứa tuổi với tôi đi dọc đường cái làng, đi qua đình vào chùa, bao nhiêu “ông bình vôi” thờ trên tường thành, chúng tôi đều hất một loạt xuống đất cả. Sao lại làm như thế? Chúng tôi cứ làm như thế, không cần có lý luận. Nhưng, vài hôm sau, trở lại xem, không biết là do tay ai, thấy đều đặt lại tề chỉnh trên tường thành.

Tuy vậy, đó không phải cái tội riêng một mình tôi. Bấy giờ bọn thiếu niên chúng tôi hầu như đứa nào cũng có thể làm thế cả. Nếu ngày nay tôi phải tự kiểm thảo thì lũ thiếu niên ấy, bạc đầu rồi, cũng phải tự kiểm thảo như tôi.

Tóm lại, cái bình vôi, vì nó sống lâu ngày, lòng nó đặc cứng, miệng nó bít lại, ngồi cú rũ trên trang hoặc trên tường thành, cũng như pho tượng đất hoặc gỗ không nói năng, không nhúc nhích, thì người ta tôn thờ sùng bái mà gọi bằng ông.

Tôi viết cái bài khảo cứu nhỏ nầy cốt để cắt nghĩa mấy câu thơ của Lê Đạt:

Những kiếp người sống lâu trăm tuổi
Y như một cái bình vôi
Càng sống càng tồi,
Càng sống càng bé lại.

(Trích Giai phẩm mùa Thu tập II)

(1)Trang 51 trong nguyên bản: Hình cụ Phan Khôi dự lễ kỉ niệm Lỗ Tấn ở Bắc Kinh năm 1956 (talawas)

(2)Tạp chí Giai phẩm mùa Xuân bị cấm và tác giả bài thơ “Nhất định thắng” đăng trong đó là Trần Dần bị đi tù (Xem đoạn sau).

(3)Người ấy là ông Trường Chinh.

(4)Chết ở Điện Biên Phủ năm 1954.

(5)Tên thật là Nguyễn Đức Nguyện.

(6)Nhà văn hào thiên tả của Trung Quốc, chết từ 1936

(7)Bản tiếng Pháp đề là: L’ Obkom clandestin.

(8)Tác giả Vang bóng một thời

(9)Trung ương uỷ viên Đảng Lao động, giữ chức Cục trưởng Cục Tuyên huấn. Thi sĩ đã nổi tiếng về những bài ca tụng hoặc khóc cái chết c ủa Stalin.

(10)Xem bài “Nhất định thắng” ở phần tài liệu.

(11)Bản đăng trong cuốn sách này có lược bỏ vài đoạn. Xem toàn văn bài viết trong Tủ sách talawas: Giai phẩm mùa Thu tập I (talawas).

(12)Che, dùng để đạp mía, ở Bắc gọi là đội hàn (chú thích của Phan Khôi)

(13)Gió Nam là thứ gió nóng ở Trung bộ, đêm có gió Nam thì trăng kém sáng (chú thích của Phan Khôi).

Nguồn: Hoàng Văn Chí, Trăm hoa đua nở trên đất Bắc. Mặt trận Bảo vệ Tự do Văn hoá xuất bản, Sài Gòn 1959. 318 trang. Nguyệt san Ngày về tái bản, Hướng Việt phát hành. In tại nhà in Lion Press, 3018 Akron Ct, Denver Co. 80231. Bản điện tử do talawas thực hiện.

TRĂM HOA ĐUA NỞ TRÊN ĐẤT BẮC ( BÀI SỐ 04)

 

Tiếp chương I, phần II: Phái cựu học – Cụ Phan Khôi

Ông Năm Chuột
Lời soạn giả: Chính vì bài này mà tờ báo Văn bị đóng cửa ngay tức khắc. Cộng sản đã tinh ý nhận ngay ra thâm ý của tác giả. Với một câu chuyện vu vơ, cụ Phan muốn nói: Giai cấp thống trị ở bất cứ thời đại nào cũng thối nát mà vẫn cứ cố che đậy. Mặc dù che đậy, trong dân gian vẫn có người thấy rõ.

Hồi tôi còn mười bốn tuổi, mười lăm tuổi, thì đã nghe người làng nói nhiều về cái tên Năm Chuột. Về gốc gác của hắn, chỉ thấy nói là người làng Kỳ Lam, cái làng ở phía bắc làng tôi cách một con sông, về sau có cái ga xe hoả gọi là ga Kỳ Lam, còn mọi sự khác không biết rõ. Hình như hắn cũng không có nhà cửa, cha mẹ, vợ con gì ở làng. Hắn làm thợ bạc, quanh năm đi làm nghề ở các nơi, nhất là các nơi đô hộ, như Huế, Đà Nẵng, Hội An.

Họ nói Năm Chuột là thợ bạc khéo nhất đời, ở Huế có nhiều thợ bạc danh tiếng cũng phải chịu thua. Nhưng lại nói hắn tổ làm đồ vàng giả, mỗi khi được gọi đến nhà làm đồ nữ trang cho người ta, nhà chủ dù ngồi cạnh một bên, hắn cũng cứ tráo bạc, tráo đồng vào, lấy vàng ra, không làm sao biết được. Bởi vậy cả vùng quê chúng tôi, những nhà giàu có, vốn biết Năm Chuột là thợ khéo, nhưng không ai dám thuê hắn làm việc gì về cái nghề của hắn cả. Nhiều người còn nói Năm Chuột đúc súng, đúc bạc giả được. Mỗi khi nói điều ấy, họ làm ra vẻ bí mật, hình như họ có ý ngờ cho Năm Chuột định làm một việc gì lớn, “làm giặc” chẳng hạn.

Nhưng không biết thế nào, người ta lại cho Năm Chuột là kẻ nói láo nói phét, vào cái hạng “mười voi không được bát nước xáo” tức là mắng người ấy đã lại nói láo nói phét rồi, có khi chỉ dùng độc một chữ: Chuột quá, tức là láo quá.

Lúc bấy giờ tôi đang đi học ở những nơi cách xa làng, mỗi khi về làng, lại thỉnh thoảng nghe người ta nói chuyện về Năm Chuột như thế, như thế, tôi cũng chỉ nghe làm tai mà thôi, không để ý mấy. Mà hẳn thế, cậu cả con quan phủ, học giỏi có tiếng, đang lo xôi kinh nấu sử để khoa tới đây đỗ thủ khoa, không thì cũng cử nhân năm tên trở lên, việc gì mà phải để ý đến chuyện một anh thợ bạc.

Năm hai mươi tuổi, tôi thi đỗ tú tài – quái lạ, sao lại đỗ tú tài? – về nhà, cách mấy hôm thì tôi đi về làng Xuân Đài thăm bà ngoại tôi và cậu tôi. Ở ăn một bữa cơm trưa, đến xế chiều, tôi cáo về thì vừa có một người đến. Người trạc dưới bốn mươi tuổi, mặt trẹt, nước da xanh xám, mắt sáng, miệng rộng, hai môi trề ra, hàm và cằm như nguyên không có râu, không phải cạo, người thấp song cũng không thấp lắm, đầu trọc, quấn cái khăn vải đen, áo cộc cúc giữa, quần đến đầu gối, chân mang dép da sống. Người ấy lúc vào đến cửa, hai tay cắp cái nón lá ngang ngực cúi chào cậu tôi, khi bỏ cái nón lá ra, mới thấy trong tay còn cầm một cái nữa mà sau này tôi mới biết đó là cái dọc tẩu. Nó là cái ống tròn mà dài, thấy thoáng như có khảm xà cừ và bịt bạc, bịt vàng gì đó. Cậu tôi như chào như không phải chào:

”Anh Năm phải?”

”Dạ, lâu lắm, có thể quan lớn quên tôi.”

Tôi nguyên đã cáo về rồi, cho nên dù có gặp một người khách mới vào hơi lạ như thế cũng cứ việc ra về. Không ngờ khi tôi ra khỏi cổng, lên đường về mới một chặng, nghe có người chạy theo đằng sau gọi tôi đứng lại, thì ra là người thấy lúc nãy. Anh ta tự giới thiệu:

”Tôi là Năm Chuột đây.” Rồi đột ngột hỏi tôi:

“Nghe nói cậu đậu tú tài mà cậu khóc, có phải không? Giả sử cậu được đậu thủ khoa thì cậu làm nên cái trò trống gì?”

Một gáo nước lạnh xối vào xương sống! Tôi bẽn lẽn, ấp úng, cười hì hì không trả lời được. Bởi vì cái lẽ anh ta nói đó tôi cũng có nghĩ tới, nhưng không đi thi thì thôi, đã đi thi thì lại muốn đậu to. Thế rồi Năm Chuột đi cùng đường với tôi, vừa đi vừa nói chuyện.

Anh ta có đưa cái dọc tẩu lên, nói với tôi:

“Ông cậu của cậu thật là keo quá, cái dọc tẩu thế này mà cầm trả có 5 đồng bạc.”

“Hoặc giả cậu tôi không có nhiều tiền chăng?”

Tôi nói cho có nói, chứ không có ý gì cả. Nhưng anh ta cãi phăng:

“Quan lớn hồi xưa (chỉ ông ngoại tôi) làm đến Tổng đốc Hà Nội vừa chi, mà không có tiền lợp nổi cái nhà của ông bà để lại đã tróc ngói; còn ông phủ (chỉ cậu tôi) mới làm Tri phủ có 3 năm về ‘chung dưỡng’, mua được những mươi mẫu ruộng, tôi biết là hạng đất tốt nhất, thế sao nói là không có nhiều tiền?”

Tôi thấy cái điều anh ta nói đó hình như đúng, tôi làm thinh. Bỗng dưng anh ta cất tiếng cười một cách rất xỏ lá, rồi nói tiếp:

“Ai có đời, cha chết vì đánh Tây mà con trở đi làm quan với Tây!”

Nghe câu này tôi cảm động quá. Tôi không dám chống lại ý anh ta, chỉ nói như vớt vát một ít:

“Thấy bà ngoại tôi kể chuyện, lúc ông ngoại tôi mất rồi thì cảnh nhà sa sút quá đỗi, nếu cậu tôi không làm như thế thì đến lụn bại mất.”

Anh ta bĩu môi, cái môi đã trề rồi, còn bĩu nữa, rất khó coi:

“Ra chỉ có làm quan mới cứu vãn được nghiệp nhà. Thế thì bao nhiêu người không làm quan, họ đều đi ăn mày hết.”

Tôi lại làm thinh. Ngừng một lúc, anh ta nói tiếp:

“Hèn chi mà quan lớn chết ở Hà Nội năm Ngọ, năm Dậu thất thủ kinh đô, Nghĩa hội nổi lên đánh Tây, năm Hợi Tây kéo lên đóng đồn ở chùa Phi Phú, thì ông cậu của cậu đã làm bang tá trong cái đồn ấy. Để làm gì? Cậu có biết không? Để đàn áp Nghĩa hội.”

Những chuyện ấy, thầy mẹ tôi có kể cho tôi nghe hồi còn nhỏ, tôi biết cả, nhưng tảng lờ nói:

“Tháng tám năm Hợi, mẹ tôi mới đẻ tôi ra, tôi làm gì biết được những chuyện ấy?”

Anh ta lại cười, nhưng không xỏ lá, nhìn vào mặt tôi:

“Thấy người ta nói cậu thông minh, nói chuyện với cậu, tôi cũng thấy cậu thông minh thật.”
Thình lình anh ta nhảy mũi dặp hai ba cái, lấy khăn lau nước mũi, cả nước mắt nữa, rồi nói thêm:

“Như tôi, (anh ta lấy tay phải ấn vào ngực) ghiền thuốc phiện cho đáng, chứ ông cậu của cậu mà cũng hút thì hết thảy những người nghiện chúng tôi đều phải lấy làm lạ.”

“Sao vậy?”

“Quan lớn hồi xưa có cùng mấy ông em lập một bản gia ước, trong đó có một điều cấm con cháu hút thuốc phiện, nếu phạm thì trừng trị bằng những cách nào đó. Thế mà dám phạm. Đủ biết con người của ông cậu của cậu là vậy đó: cái gì cũng làm nghịch lại với cha.”

Cái gia ước mà anh ta nói đây, tôi không hề biết, vì không hề nghe ai nói tới. Nhưng tôi nghĩ, nếu đúng như thế, thì anh ta nói cũng có lý. Tôi lại làm thinh.

Đây đã đến chỗ con đường rẽ vào nhà tôi, tôi đứng lại, nói mấy lời từ biệt. Năm Chuột nắm lấy tay tôi và nói:

“Tôi nói nãy giờ có làm mếch lòng cậu không? Ở đời có thiếu gì chuyện nói, hà tất tôi gặp cậu lần đầu phải nói để làm mếch lòng cậu, nhưng tình cờ gặp câu chuyện đáng nói thì cứ nói.”

Rồi anh ta tỏ ý mong gặp tôi lần khác.

Tôi vừa đi về nhà vừa nghĩ, “à ra Năm Chuột là con người như thế đấy”. Là một anh thợ bạc, sao lại nói được những điều như thế, tôi lấy làm lạ.

Tối hôm ấy, tôi đem cả câu chuyện Năm Chuột nói với tôi kể lại cho thầy tôi nghe. Thầy tôi bảo:

“Cái thằng láo đến thế là cùng!”

“Nhưng những điều hắn nói, con thấy như cũng có cái đúng.” Tôi rón rén thưa lại.

“Đúng kia à? Mặc dầu đúng chăng nữa, cái hạng thằng Năm Chuột mà lại được nói thế à?”

Thấy thầy tôi nói hơi xẵng, tôi làm thinh. Một chặp tôi mới dịu giọng hỏi:

“Cái gia ước ông ngoại lập ra mà Năm Chuột nói đó, thầy có biết không?”

“Tao không biết. Thấy nói sự cấm hút ấy ở nhà Đông bàn (nhà quan thượng Phạm Phú Thứ) thì có, còn nhà Xuân Tài, tao không nghe.”

Đến lúc tắt đèn, đi ngủ rồi, thầy tôi còn nói một mình:

“Cái thằng láo quá!”

Đó về sau hơn mười năm, tôi không gặp lại Năm Chuột lần nào. Chừng vào khoảng 1920, một lần tôi ở Hà Nội về nhà, thấy người ta nói Năm Chuột bây giờ lập gia đình ở ngụ tại làng tôi, tôi bỗng có cảm giác như là một vật gì mình đã bỏ quên đi mà bây giờ thấy lại. Làng tôi có một chỗ gọi là cồn Mũi gươm, có một vạt đất gọi là đất Chó ỉa, theo lời thì Năm Chuột đã xin làm cái túp tranh trên vạt đất ấy, và cưới vợ là con gái quá lứa của một nhà có môn bài bán rượu và thuốc phiện cũng ở làng tôi. Hắn vẫn làm thợ bạc.

Một hôm tôi đến thăm, thấy trong nhà chỉ có một căn ván nhỏ, trên đặt cái bàn đèn, một cái buồng che phên tre, ngoài ra là cái lò bễ bạc để ngay chỗ cửa ra vào. Bấy giờ gần đến Tết, trời hơi lạnh, hắn ở trần, ngồi cạnh cái lò bễ đang hơ cả người trên lửa. Hắn xin lỗi tôi và nói: “Người ta tắm bằng nước, nhưng tôi quanh năm tắm bằng lửa. Hơ thế này cho đổ mồ hôi ra, kỳ sạch ghét, thì cũng chẳng khác tắm bằng nước.” Hắn mời tôi ngồi trên ván, tôi không ngồi, ngồi trên cái đòn kê đặt ở đất gần lò bễ, chỗ sắm cho bạn hàng ngồi xem hắn làm việc.

Anh ta không tắm nữa, mặc áo vào, cho than thêm vào lò bễ, bắc ấm nước lên, rồi gọi vợ súc cái bình tích trà hãm đi, cho trà khác vào, pha nước mời tôi uống và sưởi lửa, cũng nói chuyện. Lần này anh ta gọi tôi bằng ông, nói rằng:

“Mười năm về trước tôi mong lại gặp ông mà không được gặp, lần này gặp, tôi không có chuyện nói.”

“Ông mà thiếu gì chuyện, như chuyện nói với tôi năm nọ khi đi đường từ Xuân Đài đến Bảo An.”

Anh ta đưa tay lên khoát khoát, nói thật nhanh:

“Thôi thôi, đã lâu nay tôi không còn nói những chuyện như thế nữa. Nói không có người nghe mà còn có hại. Giá tôi còn cứ nói cái lối đó thì không thể nào lấy vợ và lập gia cư ở làng ông được.”

Tôi nói:

“Đã thế thì đến phiên tôi. Trước kia ông không sợ mếch lòng tôi, thì bây giờ tôi cũng không sợ mếch lòng ông mà hỏi ông một vài điều.”

Anh ta cười một cách thẳng thắn.

“Được lắm, những nhà giàu làng tôi họ đều nói ông hay ăn cắp vàng nên họ không dám thuê ông làm cái gì hết, bây giờ ông vác lò bễ đến đây làm gì?”

Anh ta lại cười, nói dằn từng tiếng:

“Sở dĩ tôi ở đây là vì có thể chữa đồng hồ, xe đạp, bút máy, khoá tây, nội những việc đó đủ cho tôi làm hàng ngày rồi, còn sự làm đồ vàng bạc thì chỉ thỉnh thoảng mới có.”

“Nhưng tôi muốn biết ông quả có ăn cắp vàng không? Và ăn cắp như thế nào?”

Anh ta lại cười một cách xỏ lá:

“Thứ ăn cắp mà kể gì? Có những kẻ ăn cướp thì không ai nói đến. Tôi có ăn cắp vàng thật đấy, nhưng cũng tuỳ chỗ tuỳ người, ở làng Bảo An đây thì tôi không thèm.”

Rồi anh ta thuật lại chuyện ăn cắp vàng cho tôi nghe:

“Năm Thành Thái thập nhị, ông Nguyễn Hữu Thẳng làm Tổng đốc tỉnh ta, cô hầu ông ấy gọi là cô Hoá Mộc, tuy cô hầu mà oai quyền như bà lớn. Một hôm, tôi được trát đòi đến, lính bẩm báo rồi dắt vào nhà trong. Cô ta muốn tôi ở lại đây làm cho cô một đôi vòng chạm y như đôi cô có sẵn, và hỏi tôi có thể làm được không. Tôi nói ‘được’, và xin cho xem đôi vòng chạm sẵn có của cô. Cô ta mở tủ lấy ra, toan trao cho tôi. Tôi có một vuông lụa trắng tinh khiết bỏ sẵn trong túi, bèn lấy lót trên bàn tay, rồi mới nhận lấy đôi vòng tự tay cô đặt lên vuông lụạ Tôi đem ra chỗ sáng, cô đi theo. Tôi nhắc nhắc xem thử đôi vòng nặng bao nhiêu, và cầm tuổi vàng cho thật đúng, ngắm xem những nét chạm cho thật đâu ra đó, còn vặn chỗ cái cổ ra coi thử có chữ hay dấu hiệu gì không. Xong rồi, tôi trả đôi vòng lại và nói: ‘Bẩm bà lớn, đôi vòng này khéo lắm, chỗ cổ vặn ra vặn vô của nó có khắc cái chữ, bà lớn có để ý không?’ Cô ta nói: ‘Tôi biết, nó là chữ ngọc’. Tôi nói: ‘Con có thể làm đúng y như thế, nhưng hôm nay con có việc riêng, không ở lại được, mười ngày nữa con xin đến làm hầu bà lớn, không dám sai hẹn’. Cô ta đồng ý.”

Nói đến đây, anh ta nổi ngáp một ngoi đôi ba cái, rồi xin lỗi tôi cho lên ván đốt đèn hút mấy điếu, và mời tôi nằm đối diện nghe nói tiếp.

“Tôi về nhà, cầy cục làm mất sáu bảy ngày mới xong một đôi vòng cốt giả mạ vàng. Đáng lẽ làm bằng đồng thì được lợi nhiều hơn nhưng vì có chạm phải làm bằng bạc. Thành khi rồi, xem tuổi vàng nét chạm cho đến cái chữ ở trong đều y hệt như đôi vòng của cô Hoá Mộc, đem mà đánh tráo, có thánh cũng không biết…”

Tôi ngắt:

“Đành rằng ông làm một cái rất giống, còn như đồng cân của đôi vòng, tức là sức nặng của nó, ông biết là bao nhiêu mà làm cho đúng được?”

“Ấy thế mới là tài.” Anh ta cười híp mắt mà không ra tiếng. “Chính ăn người là ở chỗ đó. Bất kỳ thử kim khí gì, tôi nhắc nhắc trên tay khắc biết đồng cân của nó đúng không sai. Chẳng tin, ông tháo cái dây chuyền đồng hồ đưa đây xem.”

Tôi tháo ngay cái dây chuyền để trước mặt anh ta. Kéo xong điếu thuốc anh ta đằng hắng một cái, ngồi dậy, cầm dây chuyền trên nhắc nhắc một cái rồi đứng dậy đi lấy cái cân tiểu ly đưa cho tôi, nói quả quyết:

“Ông biết mặt cân chứ? Cân xem. Cái dây chuyền này nếu nó là vàng thì nó nặng hơn, nhưng nó là đồng mạ vàng cho nên nó chỉ có ba chỉ tám.”

Tôi cân, quả thật, ba chỉ tám hơi yếu một chút, song đem vào chỗ ba chỉ thì hơi vát. Tôi kêu lên:

“Thế thì tài thật. Xin chịu.”

Anh ta lại nói:

“Còn một chỗ bí quyết nữa. Ông biết, vàng nặng hơn các thứ kim khí khác, nghĩa là vàng, bạc, đồng, chì cùng một thể tích thì lượng của vàng phải nhiều hơn. Vậy thì mình muốn cho đồng cân của đôi vòng giả bằng đôi vòng thật, mà cái vóc của nó cũng chỉ bằng đôi vòng thật, không to hơn, thế mới là khó. Nhưng cái đó có thực hành mới cắt nghĩa được, nói bằng miệng sợ ông cũng không hiểu.”

Nghỉ một lát anh ta kể tiếp đến cuộc đánh tráo:

“Đúng mười ngày tôi lại đến. Hai bên thoả thuận với nhau về điều kiện làm việc rồi, cô ta mở tủ lấy đôi vòng và vàng diệp ra đặt trên sạp, rồi gọi tôi đến đứng bên cạnh xem cô cân. Cân đôi vòng nặng một lạng hai – tôi chắc dạ lắm, vì đôi vòng giả của tôi cũng đúng một lạng hai – cho nhích một chút, định giao cả cho tôi. Tôi chưa nhận, xin cho xem đôi vòng đã. Cô ta đứng dậy cầm bó vàng diệp cả chỗ một lạng hai cất vào tủ. Trong lúc đó tôi lấy đôi vòng giả ra đặt trên bàn tay trái, đậy vuông lụa trắng lên trên. Khi cô ta quay ra đưa đôi vòng cho tôi, tôi chìa bàn tay có vuông lụa trắng ra nhận lấy cũng như lần trước. Tôi đi ra chỗ sáng ngồi xuống làm bộ xem lại đôi vòng, cô ta cũng đi theo. Xem xong tôi đứng lên. Cô ta sấp lưng đi về chỗ sập. Tôi đi sau, lật cả vòng và vuông lụa từ bàn tay trái qua bàn tay phải, thành ra đôi vòng giả nằm trên, cứ thế mà trả lại cho cô ta, và tôi gấp nhanh vuông lụa có đôi vòng thật ở trong mà bỏ vào túi. Cô ta hỏi: ‘Chứ chú thợ không giữ lấy để làm mẫu à?’. Tôi nói: ‘Bẩm bà lớn, con xem hai lần như thế đủ rồi, xin bảo đảm làm thật đúng’. Cô ta khen: ‘Hèn chi mà nổi tiếng là thợ khéo. Tôi nhờ ông Phủ Điện viết trát đòi chú là vì có bà Phủ mách miệng’. Bấy giờ chừng mười giờ sáng, tôi xin đi ra mua thuốc phiện rồi trở lại nhận vàng diệp bắt đầu làm. Ra đến chợ Vĩnh Điện, tôi đem đôi vòng chạm vàng mười chính hiệu của bà lớn gửi cho một người anh em đồng đạo. Tôi không quên câu tục ngữ: ‘Có gian phải có ngoan’.”

“Ông ăn cắp chỉ có thế, hay là lúc trở lại làm còn ăn cắp nữa?” Tôi hỏi.

“Không, tôi dại gì mà ăn cắp nữa. Trong những ngày làm, cô ta ngồi giữ một bên, không phải vì thế mà tôi không ăn cắp được, có điều tôi đã định bụng không ăn cắp. Khi làm xong, tôi hỏi muốn khắc chữ gì. Cô ta ngẫm nghĩ rồi bảo: ‘Tôi là người Hoá Mộc, khắc chữ mộc cho tôi’. Tôi khôn ở chỗ đó. Bởi vì hai đôi vòng giống nhau như hệt, có khắc chữ khác nhau để làm dấu thì mai sau đôi giả có xì ra, hắn mới không có thể ngờ được là đôi do tay tôi làm. Cho đến bây giờ tôi cũng còn ân hận là, như thế, sẽ làm cho ông bạn đồng nghiệp nào của tôi đã làm cho hắn đôi vòng thật đó hoá ra là người bất lương thiện, nhưng ông tính, đã giết người ai còn gớm chảy máu!”

“Ông làm cái việc như thế có nhiều lần không?”

“Kể ra cũng không ít. Nhưng tôi đều ăn cắp ở bọn ăn cướp như Tổng đốc, Bố chánh, Án sát, Phủ, Huyện, chính cái bà Phủ nói lúc nãy đã mất với tôi mấy lạng vàng mà không biết, đi mách miệng cho người khác. Những việc như thế tôi cũng chẳng giấu, cứ hay đem nói với người ta cũng như nói với ông đây, cho nên mang tiếng, chứ thuở nay đã có ai bắt được tôi ăn cắp đâu.”

Hỏi đến sự đúc súng, làm bạc giả, anh ta bảo:

“Ta có nấu sắt được đâu mà đúc súng? Nhưng chữa súng thì có. Hồi tôi ở Đà Nẵng, các thứ súng liệt máy của Tây thường đem thuê tôi sửa. Bạc giả thì tôi có làm, nhưng tính ra không có lợi gì mấy, về sau tôi không làm nữa.”

Năm Chuột còn nói cho tôi nghe về tính chất của các thứ loài kim và phép hợp kim, như đồng và kẽm, mỗi thứ bao nhiêu, hợp nhau thành ra thứ gì, đồng và thiếc bao nhiêu, hợp nhau thì thành ra thứ gì, nghe ra thông thạo như người có học chuyên môn. Tôi lấy làm lạ bèn hỏi:

“Ông có học với thầy nào mà biết được những điều ấy là những điều mà các thợ bạc khác hầu như không biết?”

Anh ta vùng ngồi dậy, cười, ra điều đắc ý, vỗ vào đùi tôi:

“Xưa nay mới có một người hỏi tôi câu ấy, là ông! Tôi chẳng học với thầy nào hết, tôi chỉ đọc có một cuốn sách là cuốn Kim thạch chí biệt.”

Tôi sửng sốt, nghĩ bụng: té ra anh này còn biết chữ nữa kìa. Cái tên sách ấy tôi chưa hề nghe, cũng không dám ngờ là anh ta bịa đặt. Một hôm khác tôi hỏi thầy tôi có biết cuốn Kim thạch chí biệt không, thầy tôi cũng chịu không biết, và hỏi tôi nghe ở đâu, tôi kiếm đường nói trớ, chứ không dám nói nghe ở Năm Chuột. Cho mãi đến gần nay, đọc Lỗ Tấn toàn tập, tôi mới thấy trong đó có nhắc đến tên cuốn sách ấy. Tôi nghĩ mà lấy làm thẹn, sao mình đã không biết mà lúc bấy giờ không hỏi ngay anh ta, chỉ vì nghĩ mình là người học thức viết báo viết biếc, mà tỏ cái dốt trước mặt một anh thợ bạc thì ê quá.

Đó về sau mấy năm, mỗi năm tôi ở Hà Nội hoặc Sài Gòn về thăm nhà, đều có đến với anh ta. Anh ta còn in trong đầu tôi mấy câu chuyện lý thú và bất ngờ nữa.

Năm Chuột từng nói với tôi rằng từ rày anh ta không nói những chuyện như đã phê bình cậu tôi một cách không nể nang, nhưng rồi lại chứng nào tật ấy, vẫn không cải nết.

Một lần, phê bình nhân vật làng tôi, anh ta chê ông Tú nọ dốt, ông Bá kia keo kiệt, cuối cùng anh ta nói: “Tôi chỉ phục có hai người, một là ông Biện Chín, một là ông Tám Thứ.”

Ông Tám Thứ, người Minh hương, ở ngụ làng tôi, nghèo chuyên nghề làm thuốc, ít hay giao du với ai, tôi không biết ông ta cho lắm. Còn ông Biện Chín, tên thật là Phan Định, chú ruột tôi, cha của Phan Thanh, Phan Bôi. Chú tôi là dân tráng, nghèo, cố gắng lắm mới cho con đi học được, nhưng đúng là người cần kiệm liêm chính lại khẳng khái nữa, chính tôi, tôi cũng phục chú tôi mà sợ thầy tôi.
Tôi không tham gia ý kiến gì, chứ ngấm ngầm chịu anh ta là biết người, phê bình đúng. Nhưng, trước mặt tôi mà nói như thế, tôi ngờ anh ta có ngụ một thâm ý, là anh ta không phục thầy tôi. Thầy tôi đã đỗ đại khoa, làm quan, bỏ quan về ở làng, cầm cân nẩy mực cho cả làng, cả tổng, không có mang tai mang tiếng gì, nếu anh ta không lấy làm đáng phục, chắc anh ta thấy về khía cạnh nào đó. Từ đó tôi đâm ra áy náy, hoặc giả cha mình cũng có khuyết điểm gì như cậu mình, làm cho người ngoài phi nghị mà mình không biết chăng. Tôi có đem hỏi chú tôi và thuật lại lời Năm Chuột khen phục chú, thì chú tôi trách tôi sao lại đi nghe chuyện của Năm Chuột. Thì ra chú tôi cũng có thành kiến đối với Năm Chuột như thầy tôi, như những người làng.

Lần khác, bỗng dưng anh ta hỏi tôi:

“Quan lớn nhà ta (chỉ thầy tôi) sao lại không làm quan nữa? Ông có nhớ lúc ngài bỏ quan mà về là bao nhiêu tuổi không?”

Tôi lấy làm lạ sao hắn lại hỏi mình điều ấy. Song cũng cứ theo mình biết mà trả lời:

“Thầy tôi tuổi Tuất, cái năm cáo bệnh mà về là năm Kỷ Hợi, mới có ba mươi tám tuổi. Sở dĩ không làm quan nữa, có lẽ là tại không chịu làm với Tây.”
Cho đến lúc tôi ngoài hai mươi tuổi, thầy tôi vẫn coi tôi như trẻ con, những việc như thế chưa hề đem nói với tôi. Có điều một đôi khi tôi nghe thoảng qua dư luận bên ngoài, nhất là lúc ở Hải Phòng gặp Lê Bá Cử, ông ấy có kể cho tôi nghe khi ông làm phán sự toà án Nha Trang, thầy tôi làm tri phủ, có lần cãi nhau kịch liệt với viên công sứ, chính ông đứng làm thông ngôn, thì tóm tắt mà trả lời như vậy. Nhưng Năm Chuột hỏi vặn tôi một câu rất oái ăm:

“Ở làng này còn có hai ông nữa đều làm đến tri huyện, đều bỏ quan mà về trước tuổi hưu trí, vậy thì ông cũng cho rằng hai ông ấy cũng không chịu làm quan với Tây hay sao?”

“Thằng cha khó chịu thật”, tôi nghĩ bụng. Không biết đối đáp thế nào với hắn, tôi phải nói một câu mà tự mình cũng thấy là non nớt quá:

“Việc hai ông ấy thì tôi không biết.”

Anh ta vẫn cười cái lối xỏ lá rất khả ố. Ngớt cơn cười mới bình tĩnh nói:

“Tôi cũng có nghe và biết về chánh tích và nhân phẩm của quan lớn nhà ta, nhưng tôi lại có một sở kiến khác, nói ra, ông đừng tưởng tôi cố ý làm đôi vòng thật thành ra đôi vòng giả thì tôi mới nói.”

“Thì ông cứ nói đi.”

“Làng Bảo An, người ta nói, không có đất phát quan lớn, mà kinh nghiệm xưa nay rành rành như thế. Từ trước bao nhiêu ông làm đến tứ phẩm trở lên đều bị cách tuột hết. Cho nên Đồng Khánh, Thành Thái đến giờ, ông nào cũng làm đến phủ huyện rồi kiếm cách từ chức mà về. Nếu nói không chịu làm quan với Tây thì không làm từ đầu, chứ không có lẽ lúc mới ra làm, không biết rằng mình sẽ làm với Tây. Hai ông huyện kia cầy cục mãi đến ngoài bốn năm mươi tuổi mới về, còn quan lớn nhà ta về sớm là vì mới 38 tuổi đã làm Tri phủ.”

Tôi làm như không để ý gật gật nhìn anh ta, kỳ thực tôi cho là cái sở kiến của anh ta đó, không biết chừng, là độc đáö. Làng tôi, tây giáp làng Đông Mỹ, đông giáp làng Xuân Đài, hai làng này đều có Tổng đốc, mà làng tôi, thi đỗ thì đông, đại khoa cũng có, nhưng không có quan to. Thuở Tự Đức ông Nguyễn Duy Tự, làm đến Phủ doãn Thừa Thiên, ông nội tôi làm đến Án sát Khánh Hoà, cũng đều bị cách. Tôi không tin phong thuỷ, nhưng đó là sự thực. Hoặc giả các ông quan làng tôi, trong đó có thầy tôi, thấy thế mà sợ, làm đến phủ huyện lo rút lui cũng nên. Huống chi cái luận chứng của Năm Chuột rõ ràng mà đanh thép lắm, tôi bấy lâu trau dồi cái đức tính ngay thực của người viết báo, tôi không thể cãi chày cãi cối được.

Tôi thấy chắc chắn lắm, vì tôi biết chịu chuyện cho nên anh ta thích nói chuyện với tôi, còn anh ta, hay nói cái lối móc ruột móc gan người ta như thế, cho nên họ mắng anh ta là nói láo nói phét.
Có một sự rất lạ. Một lần tôi đến chơi, vẫn ngồi trên đòn kê xem anh ta làm việc, liếc thấy trong cái thùng đựng đồ nghề có quyển sách, tôi thò tay lấy xem, thì là một cuốn Thương Sơn thi tập không có bìa, đã xé mất nhiều trang. Tôi hỏi:

“Ông cũng có sách này à? Nó là một bộ đến mười cuốn, sao ở đây chỉ còn một cuốn?”

“Tôi có mà tôi xé để quấn thuốc lá hết, chỉ còn một cuốn, bởi vì in bằng giấy quyến, quấn thuốc tốt lắm.”

“Ông có xem qua chứ?”

“Thơ của ông Hoàng mình xem thế nào được? Tôi chỉ xem được có mỗi một bài ‘Mại trúc diêu’.”

Tôi phát lạnh người. Tôi có đọc thơ Thương Sơn rồi, tôi cũng không thích, nhưng cái bài “Mại trúc diêu” là bài thế nào, tôi có biết đâu? Chỉ vì dấu dốt, tôi lại cứ làm thinh, không hỏi anh ta.
Về nhà, tối hôm ấy, tôi lật bộ thơ Thương Sơn ra tìm, tìm được bài “Mại trúc diêu”. Về sau, tôi dịch ra đăng báo Phụ nữ Tân văn, sau nữa, đem in trong Chương Dân thi thoại. Lục ra đây để bạn đọc thưởng thức cái mức thưởng thức văn học của anh thợ bạc:
Bài hát bán tre

Ngày đốn hai cây trúc
Bán đi để dằn bụng
Trong cửa tre đầy kho
Ngoài cửa tiền chẳng cho
Không nói thì cũng khổ
Nói thì roi dài sẽ quật chú
Rày về sau đừng đốn tre nữa
Đói nằm trong tre chết cũng đủ!

Từ khi biết Năm Chuột có biết chữ Hán nhiều, xem sách xem thơ được rồi, tôi có lúc đem văn học nói với anh ta, anh ta chỉ nghe và hỏi chứ không tỏ ý kiến. Tôi có ý trách. Anh ta giải thích thế này: “Người ta, cái gì biết ít thì chỉ nên nghe chứ không nên nói, tôi không nói chuyện văn chương chữ nghĩa với ông, cũng như ông không dạy nghề làm thợ bạc cho tôi.”

Anh ta làm thợ bạc, nhưng cũng kiêm luôn thợ rèn nữa mà là thợ rèn rất khéo. Những dụng cụ của anh ta như cái kìm, cái búa, cái kéo, anh ta đều đi đến lò bễ rèn, ngồi mà tự đánh lấy. Cái đó thì ở làng tôi có nhiều người biết, cái kìm của anh ta đánh, ai cũng chịu là không kém của Tây.

Năm 1944, tôi ở Hà Nội, về nhà được mấy hôm thì thầy tôi mất. Làm đám xong, tôi ở luôn trong nhà ba bốn tháng không ra khỏi cổng. Buồn quá, một hôm tôi đi tìm anh ta. Đến nơi, cái túp tranh không có nữa. Hỏi thì người ta nói Năm Chuột dọn đi đâu đã lâu rồi. Từ đó tôi mất Năm Chuột của tôi.

Một lần, trước mặt ông Tú già, anh Giáp trong làng gọi Năm Chuột bằng ông, ông Tú già đập bàn quở: “Mầy gọi thằng Năm Chuột bằng ông, thì gọi tao bằng gì?” Tôi nghe mà tức mình, cho nên bài này, tôi nêu đầu đề là “Ông Năm Chuột”.

PHAN KHÔI

Nắng chiều

Lời soạn giả: Nắng chiều là tên một tập sách cụ Phan mới viết gần đây, nhưng vì chính quyền miền Bắc cấm, không cho phép xuất bản nên chúng tôi không thể nào kiếm được bản chính. May nhờ có bài đả kích cuốn sách ấy đăng trong báo Văn nghệ số 15, xuất bản trong tháng 8-1958, nên chúng ta có thể biết những nét chính về tác phẩm sau cùng của cụ Phan. Chúng tôi xin trích nguyên văn bài báo đả kích để tạm thời thay thế cho bản chính không có.

Tư tưởng phản động trong sáng tác của Phan Khôi

Tháng 12-1957, Phan Khôi đưa đến nhà xuất bản Hội Nhà văn một xấp bản thảo dày, bên ngoài đề hai chữ Nắng chiều. Cái nhan đề gợi nhiều man mác bâng khuâng ấy, chứa đựng bên trong một nội dung gì? Người có thể nghĩ rằng đây là kết quả sáng tác vào những ngày gần cuối, lúc tuổi trời đã xế của Phan Khôi. Nó gồm nhiều bài bút ký, tạp văn viết từ đầu kháng chiến ở Việt Bắc đến hoà bình lập lại, và mấy bài viết sau khi về thủ đô.

Vào đầu, Phan Khôi ghi lại đời sống của những người nuôi vịt, cách chăm, cách lấy trứng v.v… gọi theo tiếng miền Nam là “Cầm vịt”. Cuộc sống phiêu lưu, nay ở vùng này mai ở vùng khác, chủ cũng như người làm công, đều làm lụng cực khổ như nhau, ăn uống có thịt gà như nhau, không có chi là phân biệt đối xử, không ai bóc lột ai cả.

Tôi thấy làm cái nghề này tuy vất vả mà ăn ở như thế thì đầy đủ lắm, giữa chủ và bạn cũng không có chi khác nhau. Ông chủ nói rằng nếu không thế thì không thuê được người, chẳng những phải trả tiền thuê mỗi tháng mà cuối mùa còn phải chia hoa hồng cho anh em nữa, vì thế, tuy được lãi nhiều mà vào tay người chủ không còn mấy.”

Quả như thế, thì xã hội này, vấn đề đấu tranh giai cấp, quan hệ giữa kẻ bóc lột và người bị bóc lột, quan hệ giữa chủ và người làm công đặt ra cho có chuyện chăng? Chủ và khách quí và người làm công cùng ngồi uống chè Tân Cương, mua tận bên Thái, nói chuyện tự do mang sẵn gà theo để thay đổi thức ăn cho người làm công khỏi chán, chẳng những trả tiền công mỗi tháng mà cuối mùa còn chi hoa hồng cho người làm công: “Tuy được lãi nhiều mà vào tay người chủ không còn mấy“. Ở ngay bài đầu Phan Khôi muốn đặt một vấn đề gì? Phải chăng, Phan Khôi muốn đánh vào một vấn đề căn bản của chủ nghĩa Mác Lê-nin? Xã hội không có đấu tranh giai cấp, không có chuyện ai bóc lột sức lao động của ai cả.

Tiếp theo là bài “Tiếng chim”. Phan Khôi dẫn ra một số chuyện cổ tích về một vài giống chim ở Việt Bắc, hình dáng, tiếng kêu của nó v.v… Trong đó phần chính nói về con quạ. Ở một đoạn Phan Khôi viết:

Một lần ở Cẩn Nhân, tôi ngồi nơi nhà sàn, thấy hai con quạ rình bắt gà con, một con bắt được bay ra đứng ở bờ ruộng, xé con gà ra ăn; còn con kia bị gà mẹ chống cự, bắt không được cũng bay đi tuốt, nó không hề nói: ‘Mầy phải cho tao với!’.”

Vấn đề thứ nhất Phan Khôi đặt ra là không có người bóc lột người. Vấn đề thứ hai là của ai người nấy ăn. Cho đến thứ quạ kia còn biết giành giật cái miếng không phải của nó là không ổn, và không hề nói: “Mày phải chia cho tao với”. Phan Khôi mỉa mai, xuyên tạc vấn đề đấu tranh giai cấp là một sự đòi chia phần của kẻ khác.

Đến bài “Cây Cộng sản”. Bài này đã lột trần ra tư tưởng chống cộng của Phan Khôi. Nhân đây, tôi cũng xin nhắc lại để thấy rõ rằng đó là một tư tưởng phản động có hệ thống của Phan Khôi, chứ không phải là bất mãn, hằn học với một vài cá nhân lãnh đạo sai lầm như có người lầm tưởng. Phan Khôi trước kia đã từng viết báo khinh miệt chế giễu “phong trào cộng sản giống như đống lửa rơm” và đã cho Sô-viết Nghệ An là “cái loạn cộng sản“. Sau Cải cách ruộng đất, lúc cán bộ ta đang tích cực sửa chữa những sai lầm khuyết điểm thì lúc nào gặp đồng bọn, Phan Khôi cũng hỏi: “Tình hình thế nào? Có chuyện gì lạ không?”. Rồi cả bọn tranh nhau nói xấu Cải cách ruộng đất, và mong cho ta đừng sửa sai được. Phan Khôi lần nào nghe xong cũng cười thích chí. Y đọc ngay hai câu ca dao: “Bao giờ có được tự do/ Ngày nay Đảng đã thay vua trị vì” và nói là của đồng bào đâu trong Khu Tư.
Một lần, ở nhà Minh Đức, trong một cuộc họp bàn bạc để in một số thơ giữa bọn chúng với nhau, Phan Khôi khoe rằng mới sưu tầm hai câu ca dao nữa: “Cộng sản ở tại nước Nga/ Chính danh thủ phạm tên là Lê-nin”. Liền lúc ấy, bọn họ làm một bài thơ “kịp thời” tên là cây cau, khen Phan Khôi người “trung thực, tiết tháo” thẳng như cây cau, càng già càng cứng, giông bão chỉ làm cong thôi chứ không thể bẻ gẫy được.

Trở lại bài “Cây Cộng sản”, ngay câu đầu, Phan Khôi đã chỉ ngay vào Việt Bắc, quê hương cách mạng:

Có một thứ thực vật nữa cũng như sen Nhật bản, ở xứ ta trước kia không có mà bây giờ có rất nhiều. Đâu thì tôi chưa thấy, chỉ thấy trong mấy tỉnh Việt Bắc, không chỗ nào là không có.”

Đầu tiên, Phan Khôi thấy nó rải rác mấy nơi ở tỉnh Phú Thọ, và nhiều nhất là ở Thái Nguyên và Tuyên Quang. Nó mọc trên thị trấn bị ta phá hoại “như rừng, ken kít nhau”. Nơi gọi là “Cỏ Bù-xít” vì nó có mùi hôi như con bọ xít, nơi gọi là “Cây Cứt lợn”, nơi gọi là “Cây Chó đẻ”. Tên đều không nhã tí nào hết, thứ cây ấy những người có học không gọi bằng Cây Cứt lợn dại, mà gọi bằng Cây Cộng sản. Phan Khôi bịa rằng trước kia xứ ta không có cây này (cứt lợn dại), người Pháp mang đến trồng ở các đồn điền cà phê, cao su, để che đất cho mát gốc.

Không mấy lâu rồi nó mọc đầy cả đồn điền, trừ khử không hết được, nó lan tràn ra ngoài đồn điền. Cái tình trạng ấy bắt đầu có trong những năm 1930-1931 đồng thời với Đông Dương Cộng sản Đảng bắt đầu hoạt động, phong trào cộng sản cũng lan tràn nhanh chóng như thứ cây ấy, cũng không trừ khử được như thứ cây ấy cho nên bọn Tây đồn điền đặt tên nó là “herbe communiste” , đáng lẽ dịch là Cỏ Cộng sản, nhưng nhiều người gọi là Cây Cộng sản. Nó còn một tên nữa rất lạ…”

Phan Khôi bịa ra rằng y gặp một ông già người Thổ:

Hỏi ông tên nó là cây gì, ông nói tên nó là “Cỏ cụ Hồ”. Thứ cỏ này trước kia ở đây không có, từ ngày cụ Hồ về đây lãnh đạo cách mạng, thì thấy thứ cỏ ấy mọc lên, không mấy lúc mà đầy cả đường xá đồi đống, người ta không biết tên nó là gì, thấy nó cùng một lúc với cụ Hồ về thì gọi nó như vậy.”

Tại sao Phan Khôi đem Cây Cứt lợn, cũng gọi là Chó đẻ, là Bọ xít, “toàn những tên không nhã tí nào hết” để gọi nó là Cây Cộng sản, và Cỏ cụ Hồ? Cái con người vẫn tự cho mình là học giả, bản chất phản phúc, con người đã đưa ra thứ triết lý “con chó thì phải ăn cứt” thì việc mượn tên xấu của một giống cây cỏ, để xỏ xiên nói móc chửi cạnh chửi khoé cộng sản là cái sở trường của y!
Phần thứ hai là tạp văn, ngoài đầu, Phan Khôi có viết:

Cả hai phần đều có một ít bài mà mấy người đọc qua, cho là giống như truyện ngắn. Nếu có vậy nữa thì tôi cũng không biết làm sao được. Tôi chỉ ghi chép sự thực chứ không hề viết tiểu thuyết.”

“Sự thực” mà Phan Khôi ghi chép, là những sự thực gì? Là những “sự thực” kiểu Năm Chuột.

Mở đầu phần này là “Thái Văn Thu”, Thái Văn Thu là tên một thằng ăn trộm trùng tên với một nhân vật trong Thuỷ hử, mà Phan Khôi quen biết và kính phục hắn đã lâu, nay mới có dịp chép lại…

Phan Khôi kể lúc y “bị tù Văn Thân” bọn Pháp có đưa vào giam chung một anh có tướng học trò – can vào tội ăn trộm của Tây.

Theo lời Thu thì nhà hắn cũng đủ ăn, hắn đi ăn trộm không phải vì túng thiếu mà không muốn làm nghề gì hết. Cái nhân sinh quan hắn đại khái là người annam phải làm giặc, đánh Tây mà không làm được, thì đi ăn trộm, ăn trộm của Tây.”

Có phải đó chính là nhân sinh quan, tư tưởng của Phan Khôi đã bộc lộ trân tráo như trên kia chăng? Phan Khôi còn mượn lời Thu để phê bình Phan Chu Trinh, bảo cụ đi sai đường, “nói phải, nói không với Tây làm chi, đưa điều trần cho Toàn quyền làm chi để bây giờ nó đày đi Côn Đảo?”. Và cũng mượn lời Thu để Phan Khôi tỏ rõ quan điểm của y từ trước đến nay không tán thành sự đấu tranh chống Pháp. Thu tủm tỉm cười nói về chúng tôi: “Các thầy cũng vậy. Giá như Thu này ở tù cho đáng, các thầy ở tù không đáng”. Thu kể một vụ ăn trộm ở nhà Tây và biểu diễn vài môn nghề khiến Phan Khôi rất phục. Sau đó, nhân một trận bão, tù phá ngục ra. Có trát sức nã, đặc biệt là nghiêm nã Thái Văn Thu, tên cầm đầu.

Nhưng có người nói với tôi, có phải phá ngục gì đâu, bão từ sáng đến chiều, không đưa cơm vào, đói thì họ mở cửa họ ra, chứ có phá phách gì?”

Phan Khôi viết truyện này với một thâm ý gì? Chúng ta cứ liên hệ đến tình hình văn nghệ sau lớp học 18 ngày, sẽ thấy Phan Khôi hiện lên nguyên hình trong Thái Văn Thu.

Khi gió càng ngày càng to, quá giờ ăn đã lâu rồi mà cơm không có. Thu đứng ra diễn thuyết bảo anh em cứ đi ra. Không tội chi mà nhịn đói. Rồi tự tay lấy chìa khoá mở cửa, đội đề lao và lính canh không dám cản lại, cả mấy trăm người đều đi theo Thu đi ra hết.”

Nhân lúc Cải cách mắc sai lầm nghiêm trọng, cán bộ ta đang tích cực sửa sai thì, trong giới văn nghệ, bọn đầu cơ Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi đứng lên đả vào lãnh đạo văn nghệ. Trong cuộc họp tổng kết lớp 18 ngày Phan Khôi đứng lên phản đối đồng chí Tố Hữu và sau đó Phan Khôi cùng một nhóm Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt v.v… tập họp lại ra báo Nhân văn.

Chính Hoàng Cầm đã tự thú: Ban đầu Phan Khôi định đặt tên báo là Cái chổi, là Thượng vàng hạ cám đều không ổn… tên Nhân văn là do Nguyễn Hữu Đang tìm ra sau. Phan Khôi nói rằng: “Nếu chỉ ra báo văn nghệ không thì hẹp lắm. Bây giờ nhiều vấn đề lắm. Phải làm báo văn hoá xã hội. Tôi còn gọi là chính trị nữa. Tôi sẽ còn nói về nhiều vấn đề thế giới…” Xưa nay, Phan Khôi vẫn lấy làm ngông nghênh khoái trá ở chỗ hắn xỏ xiên, nói móc nói cạnh ta mà ta không làm gì được hắn: “Ăn trộm, không bắt được, mọi người biết cả nên cũng không giấu.”

Báo Nhân văn bị quần chúng phản đối, công nhân không in, mọi người yêu cầu chính phủ phải đóng cửa để ngăn chặn sự nguy hại của nó. Bọn Nhân văn đã rêu rao lúc bấy giờ: “Gọi cả làng ra đánh một con chuột”, “Giết con chim sẻ không cần dùng đến dao mổ trâu”, “Ăn cướp chỉ đông người vào hùa với nhau, ỷ thế đánh người lấy của, là khiếp nhược”. Phan Khôi đã gọi phong trào Sô-viết Nghệ An là “cái loạn cộng sản”, đã nói rằng: “Chính danh thủ phạm tên là Lê-nin” cũng là những người làm loạn lớn mà kết tội hắn là một người loạn nhỏ.

Viết bài này, Phan Khôi đã hiện nguyên hình trong tên ăn trộm Thái Văn Thu mà y hết sức tán dương, đề cao. Cũng như kế đó là bài “Ông Năm Chuột”. Phan Khôi mượn lời xảo hoạt, ranh vặt của một tên thợ bạc gian hùng nghiện ngập để đòi trả văn nghệ cho văn nghệ, trả chuyên môn cho chuyên môn. Văn nghệ chuyên môn phải tách rời chính trị. Bọn phá hoại tờ-rốt-kít Trương Tửu, Trần Đức Thảo, bọn Nguyễn Hữu Đang và Phan Khôi cùng bè lũ chống Đảng đã hợp xướng điệp khúc của Năm Chuột:

Người ta cái gì biết ít thì chỉ nên nghe chứ không nên nói. Tôi không nói chuyện văn chương chữ nghĩa với ông cũng như ông không dạy nghề làm thợ bạc cho tôi.”

Truyện thứ ba là “Chuyện ba ông vua Kiền Long, Quang Trung và Chiêu Thống”.

Trước kia, lúc chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, quân Nhật vào Đông Dương, chủ nghĩa phát-xít vươn móng sắt ra để doạ nhân dân ta, Đảng Cộng sản đã kêu gọi mọi người chống Pháp đuổi Nhật, dùng những gương anh hùng liệt nữ xưa động viên lòng ái quốc của đồng bào, thì bọn tờ-rốt-kít cũng đã giở cái thủ đoạn của Phan Khôi ngày nay là xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ Hai Bà Trưng, cho rằng Hai Bà Trưng chống phong kiến Trung Quốc cũng như Trung Quốc chống Nhật bây giờ là trái qui luật tiến hoá của loài người… Và đưa luận điệu “Nhật không vào Đông Dương” để làm lạc hướng đấu tranh của nhân dân v.v… Phan Khôi đưa ra chuyện “Ba ông vua” này nhằm xuyên tạc và đả vào tình đoàn kết quốc tế, tình hữu ái giai cấp của nhân dân ta và Trung Quốc, theo đúng cái hướng đả vào Liên-sô, Trung Quốc của đế quốc Mỹ và Ngô Đình Diệm hiện nay. Đây là bài dài nhất trong toàn tập, Phan Khôi trích dẫn nhiều sách, nhiều tài liệu suy diễn lung tung. Xin chỉ lược ra đây mấy câu, để thấy cái xương sống của bài ấy, và cái tâm thuật xảo quyệt của Phan Khôi:

Ý tôi cốt muốn cho người đọc qua sẽ thấy ngay ba ông ấy một ông là đểu giả, một ông là quay quắt, một ông là khờ khạo. Tư cách ba người thấy chung trong một tiệc. Vả lại cũng thấy được rất rõ ràng trong bọn vua chúa phong kiến, giữa thiên tử với chư hầu, bề ngoài làm bộ nhân nghĩa trung thuận, quang minh chính đại lắm lắm, mà bề trong không khác gì một tụi buôn hàng xách, một tụi ba que xỏ lá gặp nhau, đứa nào gian ngoan thì chiếm phần thắng, đứa nào ngu đần thì chịu thiệt.”
Có thể có người nhẹ dạ tin và cho là Phan Khôi viết bài này, nhằm đả vào bọn phong kiến, bọn vua chúa ngày xưa. Can chi đến ta mà vơ lấy, vặn vào. Không phải thế. Phan Khôi đã từng tuyên bố: “Nước Việt Nam ta làm gì có phong kiến? Đánh đổ phong kiến chỉ là câu chuyện bịa đặt vu vơ…” thì đả vào phong kiến, không thể có được. Cái dã tâm của Phan Khôi muốn gợi lại hận thù dân tộc cũ (Mãn Thanh bắt Chiêu Thống và bọn tùng vong cạo đầu thắt bím, đày đi v.v…) và so sách cái quan hệ ngoại giao giữa Quang Trung và Kiền Long ngày xưa không khác gì quan hệ hữu nghị giữa ta và Trung Quốc ngày nay, “một con cáo và một con sói đồng tình vật chết một con dê“. Nhân dân ta và nhân dân Trung Quốc đoàn kết trên cơ sở thống nhất về những quan điểm chung của chủ nghĩa Mác Lê-nin. Phan Khôi cho rằng Trung Quốc ngày nay cũng chỉ là một thứ kiểu xâm lược như Mãn Thanh xưa. Chẳng vậy, sao khi sang thăm Trung Quốc, trong cuộc triển lãm kỹ nghệ ở Mãn Châu, Phan Khôi đã phát biểu: “Theo tôi nghĩ thì nước ngoài phục Trung Quốc không phải vì chủ nghĩa cộng sản mà vi nền kỹ nghệ Trung Quốc. Ngày kia Trung Quốc sẽ chiếm thị trường thế giới”.

Ờ bài “Giới thiệu Nguyễn Trường Tộ” càng lộ ra trắng trợn cái ý Phan Khôi muốn so sánh chế độ ta với cái triều đại ngày xưa. Không khác gì thời đại chuyên chế hồi Gia Long. Nước Việt Nam ngày nay cũng là triều đại gì đó; người ta đặt bài viết cho báo tất nhiên phải có yêu cầu của toà soạn, y cũng gọi “Cụ Đồ Chiểu ơi, Cụ Đồ Chiểu!” bù lu bù loa đấm ngực nói rằng bảy tám mươi năm sau cũng không khác gì ngày xưa.

Đưa Nguyễn Trường Tộ ra trong bài này vừa khen vừa chê – một mặt để tỏ rằng “cậu tú Phan Khôi” hơn “danh Tộ” nhiều, một mặt là đả vào chế độ ta. Nguyễn Trường Tộ, đi đạo Thiên Chúa (từ đời cha) sau vì Tự Đức cấm đạo, Tộ theo một linh mục sang Pháp và lưu học ở Paris. Năm 33 tuổi trở về, có dâng nhiều bài điều trần yêu cầu cải cách nhiều vấn đề trong nước. Tộ là người tin Đạo, coi Đức Chúa Trời là chủ vạn vật và cũng đồng thời rất tôn trọng Nho giáo. Phan Khôi nói rằng: “Người có tài như thế, sinh gặp thời cần dùng cái tài ấy, mà không thi thố gì được, ôm mối thất vọng mà chết là vì lẽ gì?”

Phan Khôi cho Tự Đức là một ông vua nhu nhược, làm việc gì cũng sợ, không dám làm mà lại coi mình là thần thánh, khinh người.

Tự Đức có phê vào một bổn điều trần của Nguyễn Trường Tộ do quan tỉnh dâng lên, một câu: ‘Dùng được đấy, hay là cho nó một chức quan để lấy lòng nó, dùng sức nó.’ -
’Một chức quan! Ông ấy tưởng người ta báu cái chức quan của ông ấy lắm đấy
!’”

Tại sao Phan Khôi hằn học đến như vậy? Bởi vì:

Vua thì như thế, còn đám quan liêu từ triều đình đến ở các tỉnh phần nhiều là hủ nho, đám sĩ phu ở dân gian càng đông hơn, cũng đều là hủ nho, dưới vua, hai hạng người này nắm quyền lợi một nước trong tay họ, họ cấu kết với nhau để giữ lấy quyền lợi, thì còn ai mà làm gì được?”

Chúng ta có nắm và giữ lấy quyền lợi một nước không? Có. Nhiệm vụ của cách mạng, của vô sản chuyên chính đề rõ yêu cầu phải chuyên chính đối với bọn giai cấp bóc lột, đối với bọn đi ngược và phản lại quyền lợi dân tộc. Bọn chúng không thể có tự do trong chế độ ta, thứ tự do áp bức bóc lột, tự do buôn lậu, đầu cơ tích trữ, tự do cấu kết với phần tử phản động trong nước và bọn đế quốc ngoài nước để phá rối trật tự xã hội, âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng, xây dựng lại chế độ phong kiến và thực dân đã bị nhân dân đánh đổ.

Phan Khôi nói: “Không phải đợi đến ngày nay, từ trước chúng ta cũng đã biết rằng có tại làm sao… người ta mới giấu đinh giấu điền, trốn lính!”. Trong thời đại phong kiến, dưới chế độ thực dân Pháp, người ta làm như thế là đúng. Người ta không muốn đóng góp phục vụ cho bọn thống trị, chỉ có mục đích vơ vét cho vào túi chúng. Dưới chế độ ta, những người khai man diện tích ruộng đất, không đi dân công, trốn thuế công thương, không thi hành nghĩa vụ quân sự thì chỉ là những kẻ ích kỷ sâu mọt của xã hội, những kẻ đào ngũ và chống chế độ.

Cũng cần nói vào mặt Phan Khôi rằng: Vì chính sách đoàn kết của Mặt trận Dân tộc, vì Đảng ta sẵn lòng quên những tội lỗi cũ của một người và tạo mọi điều kiện để đưa họ về con đường chính, vì lòng nhân của Đảng muốn nhặt những kẻ ở dưới bùn lên mà chùi rửa cho, giúp cho họ trở lại làm người, vì thế mà Phan Khôi vẫn được đãi ngộ rộng rãi, ăn lương nhân sĩ, không phải làm gì cả, viết hay dịch sách thì hưởng tiền nhuận bút. Để rồi chửi Đảng, chửi chế độ. “Một chức quan, ông ấy tưởng nguời ta báu cái chức quan của ông ấy lắm đấy”. Phan Khôi ăn cháo đá bát, hợm hĩnh, tự đánh giá mình là cao to, nhưng cái mặt thật của y không ai lạ gì. Phan Khôi chống lại cái chế độ đã cứu vớt cho mình, thì Phan Khôi rơi nguyên hình là một tên chống cách mạng.

Bây giờ – mà có phải mới bây giờ đâu – cái bộ mặt thật của Phan Khôi đã bị lột trần ra, cũng nhiều khi tự y lột trần ra. Phan Khôi là một tên giảo quyệt, phản phúc, một tên làm tay sai cho đế quốc, lợi dụng sự khoan hồng của cách mạng và chính sách đãi ngộ rất tốt của Đảng để chống lại Đảng, chống lại chế độ. Không có cơ hội thì nằm yên, dùng cách nói bóng nói gió, xuyên tạc xách mé; có cơ hội thì vùng lên ra mặt chống đối hẳn hòi như thời kỳ tác quái của báo Nhân văn.

Lẻ tẻ từng lúc, từng bài, y lập lờ đánh tráo, vờ vịt để cho mọi người lầm tưởng rằng mình là một “học giả” một tay “lão thành cách mạng”, một người “ngay thẳng, bộc trực”, một “nhà văn khí tiết”. Do đó, cũng có đôi người bị mắc lừa. Nhân văn-Giai phẩm bị đánh tan bước đầu hồi cuối năm 1956. Cả bọn rút vào bóng tối “phục xuống sáng tác”. Phan Khôi gom góp tất cả sáng tác của y, đem tàn lực hy vọng, có thể đánh được ta một đòn cuối cùng trước khi xuống lỗ. Y đặt tên tập sách là Nắng chiều. Ngờ đâu, chính tập sách này đã phơi bày rõ rệt nhất toàn bộ hệ thống tư tưởng phản động của Phan Khôi và cái nắng quái ấy mới định kịp hửng lên, đã bị nhân dân làm cho tắt phụt!

Chỉ đứng riêng về phương diện văn học mà nói, Phan Khôi không còn chỗ đứng nữa, đã bị khai trừ ra khỏi Hội Nhà văn. Chỗ đứng của y ở đâu, để cho y tự biết mà tự phong. Chưa nói đến hành động phá rối về chính trị, không thuộc về thẩm quyền kết luận của những người cầm bút như chúng ta.

Chú thích: Đoàn Giỏi bị kiểm thảo sau khi viết bài này và bị quy vào tội: vờ đả kích Phan Khôi để công bố những nét đại cương của một tác phẩm mà Đảng đã cấm không cho xuất bản.

Nguồn: Hoàng Văn Chí, Trăm hoa đua nở trên đất Bắc. Mặt trận Bảo vệ Tự do Văn hoá xuất bản, Sài Gòn 1959. 318 trang. Nguyệt san Ngày về tái bản, Hướng Việt phát hành. In tại nhà in Lion Press, 3018 Akron Ct, Denver Co. 80231. Bản điện tử do talawas thực hiện.

KHI ĐỒNG MINH “THÁO TỎNG”…!!!

  Q.H.

Đọc tiêu đề này xin quý độc giả tha lỗi cho tôi vì tưởng tôi viết gì về cái “ông Nghè” Nguyễn Tiến Hưng. Dù sao thì tựa quyển sách của ông ta cũng cho tôi một ngẫu hứng để viết bài này, xin cám ơn “ông Nghè” một phát.

Truyện là thế này, mấy tháng qua có ông KL tự nhiên “tặc giăng” nổi giận, phát ngôn kèm những nhận xét “rằng thì là” tờ BM và mấy tên chủ trương của BM là “cái đầu” của một hội đoàn(hic)! Nhất là lại chỉ đích danh ông HKA mới khổ đời, nào là HKA chửi rủa nhiều người “có danh…” trong CĐ, HKA dùng Hội nọ để làm “căn cứ địa” tấn công CĐ…etc. KL lại còn thuê luật sư, đòi dưa tất cả các nhân vật lãnh đạo hội nọ ra tòa về tội không bênh vực ông ta. Các vị lãnh đạo ngứa gan vì KL đi trật trìa với bản nội quy của họ, một cuộc họp 4 cơ chế đã cảnh cáo KL và nhắc nhở nếu còn tiếp tục thì sẽ “nghỉ chơi” với KL. Nhưng ông KL chắc được ai đó cho uống thuốc liều nên cứ coi như pha và kiện HKA rồi dùng thư của luật sư đe dọa các vị lãnh đạo hội nọ mạnh mẽ. Kết quả một quyết định chung của các lãnh đạo hội đã chiếu theo nội quy của Hội là mời KL về nhà chơi một mình, chấm dứt mọi liên hệ với Hội của họ. Một phần câu truyện đã xong.

Thật ra ông KL chơi thân với các ông Nghị Nguyễn, nhà báo Trí Nguyễn etc…nên có lẽ thấy mình quan trọng bởi những lời tâng bốc của những tay nhiều thủ đoạn, tráo trở này. Bình thường thì ông KL trông rất nhu nhã, ít nói và đôi khi cũng tỏ ra là người “có lòng với đại cuộc”. Khi những lộn xộn xảy ra mà khởi đầu từ cái điện thư của KL gửi đến cho các lãnh đạo Hội nọ thì mọi người rất bỡ ngỡ. Nhiều câu hỏi đặt ra là vì đâu mà KL lại viết những lời lẽ quá đáng, coi thường mọi người, có nhận xét rất ấu trĩ về người khác như vậy? Ông ta trở nên hung hăng, nhất là gần như mất cả lý trí? Nhất định phải có một ai đó xui dục, thúc đẩy hay bởi một quyền lợi nào đó? Câu truyện ngày càng phức tạp bởi những điện thư của ông KL tung ra trên NET, ông KL dùng lời lẽ tục tĩu chửi bới và hăm dọa nhiều người, tự mang truyện riêng trong gia đình mình ra trước bàng quan thiên hạ bêu rếu ,và đồng thời phịa chuyện đủ điều cho gia đình HKA với mục đích là làm sao “hạ” cho được HKA,khi hạ được HKA thì nhóm BM cũng bị ảnh hưởng. Trong một lần “hăng hái” quá trớn đã vu khống cho một người em của ông HKA nào là gian lận để đi Mỹ theo một H.O, ông em của ông HKA giận quá gọi điện thoại hỏi ông KL cho ra lẽ nhưng bị từ chối hồi âm. Thế là ông em HKA đòi đưa truyện riêng nhà ông KL ra trước CĐ bằng nhiều cách kể cả bằng những tờ bướm. Ông KL hãi quá phải nhờ cảnh sát gọi đến yêu cầu em ông HKA ngưng mọi hành động được ghép là “làm phiền” KL. Đồng thời ông KL ra tòa xin một lệnh cấm ông HKA và gia đình không được đến gần trong vòng 500’, không được gọi điện thoại cho KL, không được đưa truyện KL lên báo giấy, báo điện tử hay tờ bướm. Lệnh tạm thời này được thi hành tức khắc và một phiên tòa gọi là hearing sau đó được mở tại Redmond City (địa phương ông KL cư trú). Kết quả là bà tòa không chấp nhận đòi hỏi của KL, vì không thể cấm bất cứ ai “NÓI”, đồng thời ông KL không đưa được chứng cứ “sẽ bị nguy hiểm đến tính mạng” bởi ông HKA và gia đình. Kèm theo quyết định, bà tòa còn lên lớp KL là phải “trưởng thành” lên, câu truyện như thế này mà cũng đưa ra tòa làm phiền mọi người ngồi nghe mấy tiếng đồng hồ. Mọi người ra về với tâm trạng buồn bã bởi lời nhắn nhủ của bà tòa kể trên, riêng ông KL thì ấm ức và đòi nếu em ông HKA còn gọi phone hay viết điện thư đến ông ta thì ông lại”kiện” nữa.

Hai tuần sau đó, không nhận được lời “xin lỗi” từ ông KL, em ông HKA lại viết thư hỏi và yêu cầu KL phải lên tiếng và xin lỗi. Ông KL đã không đáp ứng yêu cầu này mà còn viết một điện thư đưa lên NET chửi rủa HKA với lời văn tục tĩu, rất hồ đồ chẳng có lý lẽ nào thuyết phục được người đọc. HKA chẳng thèm quan tâm và giữ im lặng, trong khi đó KL lại tưởng HKA sợ nên càng hung hăng hơn và thêm một lần nữa ra tòa xin những lệnh cấm quái gở dành cho HKA và gia đình. Lệnh gọi ra tòa được người cảnh sát trẻ mang đến cho HKA chỉ trước ngày ra tòa có 17 tiếng đồng hồ(nghĩa là nhận chiều hôm trước thì sáng hôm sau là phải “hầu tòa”). Người viết nhìn HKA cười khà mà lạ lùng, thông thường khi bực mình ai mà chẳng lẩm bẩm văng tục, thế mà HKA lại toét miệng cười rồi nói đúng là truyện con nít ruồi bu.

Sáng ngày hôm sau, HKA cùng gia đình có mặt tại tòa đúng giờ, nhưng chẳng thấy đương đơn đâu? Tới lúc ông tòa điểm danh cũng không thấy! Tòa vẫn tiếp tục xử các vụ khác trước. Chỉ còn 2 vụ nữa là tới vụ KL kiện HKA và gia đình thì …đương đơn tiến vào phòng xử, miệng cười tươi và vỗ vai HKA mời ra ngoài cần trao đổi chút truyện!!! HKA không muốn gặp KL nên chỉ về phía ông chánh án ( HKA sợ làm ồn nên chỉ về phía chánh án ý muốn nói là chờ tòa xử) . Nhưng KL vẫn tiếp tục nhẹ nhàng êm dịu và ngọt ngào:

- Tôi có việc muốn trao đổi với anh thôi mà.

HKA đứng dậy bước theo KL, vợ HKA vội đi theo. Cánh cửa phòng xử khép lại sau lưng họ. Như nếu ngồi gần cửa thì cũng có thể nghe họ nói gì. Khoảng 5 phút sau, HKA quay vào mời ông Hùng ra ngoài nhờ chút truyện. KL đang phân bua gì đó với vợ và em HKA, thấy ông Hùng thì im lặng. HKA nói với

KL Đây có anh Hùng làm chứng, ông muốn nói gì thì nói đi. ( ý HKA là muốn có tôi làm chứng để sau này câu chuyện KL nói với HKA khỏi lệch lạc)

KL trả lời: Thì mình là anh em với nhau, tôi cancel phiên tòa này ,tôi muốn mọi truyện chấm dứt ở đây, không nói qua lại gì nữa.

HKA nói: Cứ để tòa xử,ông làm tầm bậy nhiều

KL nói : Thôi bỏ qua hết mọi chuyện

HKA: Ông thấy không ,những chuyện ông làm có đúng không? Tôi chẳng sợ gì cả ,tôi làm điều đúng , cả cái cộng đồng NXD tôi cũng chống họ và những tên làm tầm bậy nữa.

KL: Thôi bỏ qua hết.

HKA: Chính ông Trịnh Q Minh cũng khuyên ông đừng kiện cáo.

KL: Tôi không bao giờ nói chuyện với ông Minh

HKA: Với tôi không tiểu tâm,chẳng muốn hơn thua với ai,nhưng họ làm điều sai là tôi nói.

…………

Vợ của HKA cũng lên lớp KL một trận về những điều KL tưởng tượng để hành động sai lầm.

Mọi người trở vào phòng xử, KL lên nói nói với thư ký tòa sao đó, nhưng tôi nghe cô thư ký yêu cầu KL quay về chỗ ngồi chờ tới khi ông tòa gọi thì hãy nói.

Rồi cũng đến lượt, khi nghe ông tòa xướng danh KL thì ông ta đứng dậy và nói lời xin rút lại nội vụ không “kiện thưa” gì ráo. Ông tòa mỉm cười chấp nhận. Phía HKA ra về với suy nghĩ “thật khó hiểu về KL,một con người chẳng giống ai”

Câu truyện là thế, nhưng với tôi thì có ý kiến thế này: Ông KL không phải là người không sinh hoạt cộng đồng nhiều, nên khi chơi với Nghị Nguyễn, Trí Nguyễn nên bị xui dục làm truyện bậy, họ lợi dụng KL để phá HKA và Hội đoàn mà KL tham dự. Khi lần đầu và lần thứ 2 ra tòa “phái đòan” theo ủng hộ KL rất hùng hậu, đứng đầu thấy có Nguyễn trọng Nghị(VT), theo sau là Nguyễn văn Thảo(VT), hai cắc ké là anh em Ngô Bá, Ngô Hiến(VT), lần thứ 2 thì có thêm một “thân hữu” mặt gà mái chắc mới gia nhập(không biết tên)…sau khi thấy “gà” của mình bị bể độ, Nghị và đồng bọn bẽ mặt nên vội làm một màn đính chánh khi gặp ông Nguyễn đình Lãng “rằng thì là”: Tôi đi dự cho biết tòa xử như thế nào trong trường hợp này…) con người đầy mưu mô, thủ đọan chuyên đi đâm bên này thọc bên kia như Nghị, Thảo anh em Bá, Hiến mà phải xem cho biết à? Nghị là quân sư của Nguyễn xuân Dũng, bên cạnh còn có “rô-be Trần” chuyên gia về “nuật” mà cần học gì nữa. Nghi và đồng bọn đến tòa “cho nước” KL là lẽ đương nhiên, vì xúi người ta mà tới khi tiến hành thì trốn ở nhà coi sao được. Nhưng kẻ gian mắc nạn, nghe tòa phán xong thì Nghị và Thảo mắc cỡ quá vội lủi ra ngoài nhanh hơn chuột, chỉ còn lại anh em BÁ, Hiến lủi thủi bên KL. Với cái “thông minh” của mình không hiểu sao Ngô Bá lại lên tiếng khen HKA:

- HKA hay quá.

Ông Hùng đi bên cạnh buột miệng:

- Càng học càng ngu.

Ngô Bá cười vui vẻ tiếp lời:

- Đúng rồi, càng học càng ngu.

Thế đấy, sâu bọ vẫn là sâu bọ, họ là thế. Lần thứ 3 KL lại lôi HKA và gia đình ra tòa, mọi người đều có câu hỏi: Không biết Nghị và đồng bọn có đi “cho nước” hay không? Người viết bỗng nhớ buổi sáng hôm nhận được giấy gọi ra tòa thì có đọc được một điện thư của nghi38@yahoo.com gửi cho nghi38@yahoo.com mà không biết bằng cách nào điện thư đó lại lọt vào hộp thư của biamieng chúng tôi? Nội dung điện thư đó Nghị viết là đang ở bên UK (nước Anh, không thấy viết là thành phố nào?) bị móc túi mất hết tiền, không mang theo điện thoại, khách sạn ông ta ở đã cắt điện thoại khi biết ông ta mất hết tiền, ông ta chỉ còn phương tiện là gửi điện thư thôi, xin cho ông ta vay 960đồng euros(1450usd) để Nghị dọn qua khách sạn khác và mua vé máy bay mới, Nghị hứa sẽ trả ngay khi về tới nhà. Thế nhưng Nghị gửi cho Nghị và không thấy cho biết địa chỉ để nhận tiền, vậy thì Nghị liên lạc với “âm phủ” sao?, cho nên quý độc giả có thể cười to và nói rằng Nghị vay tiền “âm phủ” nên khỏi phải trả nợ “âm phủ”. Thật ra đây chỉ là một đòn gió Nghị đưa ra để lừa đàn em và bỏ chạy khỏi cuộc chơi, chứ Nghị có đi sang UK làm gì, mà nếu cần thì mỗi sáng ai cũng có thể dễ dàng gặp Nghị đưa vợ đi đến khu Tea Palace ở đường Sunset để phục vụ TĐ.

Tại sao Nghị làm thế? Nghị thừa biết là KL chỉ khuấy động là xáo trộn HKA và Hội đòa KL tham gia mà thôi chứ kiện thì chẳng ăn cái giải gì. Nhưng Ông KL lại tin vào Nghị và đồng bọn cho nên cứ tiếp tục làm nữa, đến khi thấy những hiện tượng sau đây thì ông KL tỉnh ngộ ngay:

- Giấy tòa gởi đến Huỳnh K Anh có chữ ký của ông tòa nói rằng không có gì chứng minh được là bị “quấy nhiễu” và “nguy hiểm”, nên hủy bỏ lời xin ngăn cấm tạm thời ( từ khi điền đơn đến khi tòa xử)HKA không được viết hay gọi phone cho KL(lần này không xin HKA phải cách xa 500” nữa).

- Có thể KL đọc được điện thư Nghị kêu cứu là bị mất hết tiền và đang ở UK

nhất là không thấy những sâu bọ Nguyễn văn Thảo, anh em Ngô Bá-Ngô Hiến lai vãng cho nên KL “ngộ” ra sự thật là đã bị cái đám “ruồi trâu” này phỉnh lừa mà xin hủy bỏ phiên xử lần thứ 3 vừa qua.

Có thể nói quyết định của KL là sáng suốt vì như tôi đã viết ở trên: “ ông KL là một người bên ngoài nhu nhã, ít nói đôi khi lại còn tỏ ra là rất có lòng với đại cuộc”, phải chăng vì thế mà ông KL mới bị đám ruồi trâu này xách động và lừa phỉnh. Nay thì rõ mặt Nguyễn trọng Nghị là kẻ chuyên đánh phá, xúc xiểm người này với người kia, gây mâu thuẫn giữa mọi người trong CĐ để y có thể dễ dàng thực hiện những mục tiêu của VT. Nếu thấy không ăn được thì bỏ rơi “đàn em” ngay và chính vì thế KHI ĐỒNG MINH”THÁO TỎNG” thì chỉ có chết.

Kết luận:

_ Cũng cần nên biết là một người kiện người khác ra tòa mà không có bằng chứng thì người đi kiện bị điểm xấu ở tòa ,còn bị đơn thì chẳng có vấn đề gì cả.

_ HKA ,vợ và ngay cả cậu em của HKA là những người không cố chấp,tiểu tâm… sẳng sàng bỏ qua mọi chuyện nếu người làm sai biết được mình làm sai./.

( Đính kèm email của NTN gởi lọt vào hộp thư BM,email này gởi ngày 1tháng 7 trước ngày ra tòa một ngày)

Thursday, July 1, 2010 5:54 PM

From:

This sender is DomainKeys verified

“Nghi Nguyen” <nghi38@yahoo.com>

To:

nghi38@yahoo.com

I am writing you in a tensed mood, I had travelled to UK to attend to an urgent situation and unfortunately for me all my money was stolen at the hotel where I lodged by robbers. I am so confused right now, I don’t know what to do or where to go. I didnt bring my phones here and the hotel telephone lines were disconnected during the incident. So I have access to only emails.
Please can you lend me £960 ($1,450 USD) for me to relocate to another hotel and also get another flight ticket. As soon as I get home I would refund it immediately.Please I need you to get back to me as soon as possible.
I am looking forward to hearing from you.
Thanks and Regards,  

 Nghi.

    Đây cũng là bài học cho những ai chơi với đám “ma bùn” bọn này chỉ biết xúi bậy và nói

 láo ? 

   QH.

TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC THẾ HỆ VIỆT NAM

TRẦN TRUNG ĐẠO

  (Vài suy nghĩ sau khi đọc tiểu luận “Nhà văn Việt Nam: Đổi mới và Hội nhập” của nhà văn Tô Nhuận Vỹ và tự truyện Lạc đường của nhà văn Đào Hiếu)

Tháng 2 năm 2007, trên diễn đàn talawas, tôi có viết một bài để góp ý với ông Võ Văn Kiệt về “hòa giải dân tộc và khép lại quá khứ”. Thời gian ngắn sau đó, tôi nhận một email từ Việt Nam chuyển lời của ông Võ Văn Kiệt, rằng nhiều điểm góp ý của tôi có thể tranh luận nhưng cũng rất nhiều điểm ông thừa nhận là rất có lý. Ông cũng dặn với người đưa tin nếu tôi có dịp về thì đưa tôi đến nhà chơi để trao đổi với ông. Tôi trả lời, cũng qua trung gian người đưa tin, cám ơn ông về việc mời đến nhà nhưng quan trọng hơn tôi mong ông đáp lại những điều tôi đã nêu ra trong bài viết, nhất là những điểm ông cho rằng có thể tranh luận được, và phổ biến rộng rãi cho mọi người cùng đọc. Chuyện đất nước là chuyện chung chứ không phải là chuyện giữa ông và tôi. Các thế hệ Việt Nam mai sau trưởng thành từ những bài học, những kinh nghiệm của các thế hệ đi trước để lại. Không có kinh nghiệm lịch sử nào là nên bỏ qua và không có bài học lịch sử nào mà không đáng học. Có lần tôi đọc đâu đó, ông Võ Văn Kiệt dự tính viết một cuốn sách, tôi rất mừng và âm thầm chờ đợi một tác phẩm hay một hồi ký của ông.

Tôi không kỳ vọng ở hồi ký của ông Võ Văn Kiệt một con số đúng về bao nhiêu sĩ quan công chức chế độ Việt Nam Cộng hòa bị ông và Đảng của ông đày ra các vùng rừng sâu nước độc Tiên Lãnh, Hàm Tân, Hoàng Liên Sơn, Thanh Phong, Thanh Hóa. Tôi không kỳ vọng ở hồi ký của ông một con số bao nhiêu người dân Sài Gòn bị ông và Đảng của ông đuổi đi khắp các vùng kinh tế mới miền Đông, miền Tây Nam Bộ. Tôi không kỳ vọng qua hồi ký ông sẽ công bố đầy đủ danh sách những người bị Ủy ban Quân quản, do ông làm bí thư Đảng ủy đặc biệt, xếp vào thành phần tư sản mại bản; của cải, nhà cửa bị tịch thu, cha mẹ phải vào tù, con cái phải sống lang thang đầu đường cuối chợ. Tôi không kỳ vọng qua hồi ký ông sẽ giải thích nguyên nhân nào khiến hàng triệu người Việt đã bất chấp sóng to gió lớn để vượt biển tìm một con đường sống trong muôn ngàn đường chết. Tôi cũng không kỳ vọng qua hồi ký ông sẽ chính thức xin lỗi cùng nhân dân miền Nam nói riêng và cả nước nói chung, những sai lầm của Đảng do ông trực tiếp lãnh đạo đã gây ra. Và như tôi đã đọc tiểu sử, quá trình đấu tranh của ông và những mất mát của riêng bản thân ông, tôi cũng không nghĩ ông Võ Văn Kiệt sẽ thành lập một đảng hay một cánh đối lập, công khai thách thức vị trí lãnh đạo của Đảng Cộng sản để lót đường cho một cuộc vận động toàn dân, toàn diện nhằm tiến đến một xã hội mới, dân chủ, nhân bản và thịnh vượng như một số người đã bàn tán trước đây.

Ông Võ Văn Kiệt từ năm 1938 cho đến cuối đời vẫn là người cộng sản. Khác chăng so với những lãnh đạo cộng sản cùng thời, ông Võ Văn Kiệt sinh ra từ miền cây trái Vĩnh Long, phần lớn quãng đời đấu tranh của ông cũng từ ruộng đồng, sông nước miền Nam, gần gũi với nhân dân miền Nam và trong những ngày cuối đời nhìn lại đã có lúc chạnh lòng buông những câu nói như những lời an ủi muộn màng, rải rác đó đây trên vài cơ quan ngôn luận, trong những buổi nhậu, dành cho những người đã chịu đựng dưới bàn tay ông.

Dù sao tôi cũng mong ông viết, bởi vì hơn ai hết, ông Võ Văn Kiệt là người có thẩm quyền để viết. Giá trị trong tác phẩm của ông Võ Văn Kiệt không hẳn ở chỗ là sự thật mà là sự kiện, dù được nêu ra để biện hộ cho những sai trái của chính ông. Những Giọt nước trong biển cả của Hoàng Văn Hoan và Hồi ký của một Việt cộng của Trương Như Tảng vẫn có giá trị sự kiện nhất định và là những tác phẩm tham khảo cần thiết cho các sử gia và thế hệ mai sau. Hôm nay, ông Võ Văn Kiệt đã qua đời. Ông ra đi mang theo nhiều chi tiết quan trọng của những năm khó khăn nhất trong lịch sử dân tộc thời cận đại. Phần lớn những lời phân ưu dành cho ông đều chấm dứt bằng câu cầu mong hương linh ông được yên nghỉ, nhưng làm sao hương linh ông có thể yên nghỉ được khi vẫn còn nợ thế gian này một món nợ mà ông chưa trả hết.

Những chịu đựng của dân tộc Việt Nam nói chung và nhân dân miền Nam nói riêng dưới bàn tay ông Võ Văn Kiệt và Đảng của ông trong những năm ngay sau 1975, sẽ mãi mãi sẽ là một vết thương hằn sâu trong lịch sử. Máu và nước mắt của nhân dân miền Nam đổ xuống trong các trại tù, trên các khu kinh tế mới, dọc các vỉa hè Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn đã đóng thành băng trong ký ức của giống nòi. Không ai trách ông Võ Văn Kiệt tại sao bảy mươi năm trước đã tham gia Đảng Cộng sản nhưng chắc chắn các thế hệ Việt Nam mai sau sẽ trách ông đã không có những câu trả lời cho những thảm trạng mà đất nước đã trải qua trong suốt 22 năm dài (1975 – 1997), thời gian ông đã đóng vai trò quan trọng trong chính trị Việt Nam.

Ông Võ Văn Kiệt, giống như hầu hết những người cộng sản trong thế hệ Tân Trào, Pác Bó đã không làm được, đã không trả lời được những câu hỏi của phiên tòa lịch sử, nhưng tôi tin các thế hệ Viêt Nam tham gia Đảng Cộng sản sau ông, thế hệ “chống Mỹ cứu nước”, thế hệ “Tổng công kích Tết Mậu Thân” với một số khá đông vẫn còn đang sống, có thể trả lời và thậm chí phải trả lời trước khi các anh các chị xuôi tay nhắm mắt ra đi.

Điều đáng mừng là trong thời gian qua, một số hồi ký như Tôi bị bắt của nhà thơ Trần Vàng Sao, Tôi bày tỏ của nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự mà tôi đã có dịp góp ý trước đây, tiểu luận “Nhà văn Việt Nam: Đổi mới và Hội nhập” của nhà văn Tô Nhuận Vỹ, hay mới đây tự truyện Lạc đường của nhà văn Đào Hiếu đã nối tiếp nhau ra đời. Các anh viết vì bức xúc cá nhân hay từ nhận thức chính trị không phải là điều quan trọng, điều quan trọng nhất vẫn là viết ra. Tôi tin rằng với chiều hướng Việt Nam đang cố mở rộng các mối quan hệ với nước ngoài, những tấm màn sợ hãi sẽ được vén lên cao hơn, những biên giới cách ngăn sẽ dần dần thu hẹp, trong tương lai sẽ có nhiều tác phẩm như thế nữa.

Tôi vừa đọc hết tự truyện Lạc đường của nhà văn Đào Hiếu. Là một người trong thế hệ trẻ hơn, tôi cảm ơn anh đã kể lại những chặng đường anh đã đi qua, ghi lại những thao thức và trăn trở của anh và thế hệ anh. Ngay cả những việc chúng ta mới làm hôm qua, hôm nay có thể đã không còn đúng nữa và những câu nói mới vừa thoát ra khỏi cửa miệng nhiều khi biết mình nói sai rồi, huống hồ những việc đã làm 40 năm trước. Ai cũng có một thuở hai mươi và ai cũng trải qua một thời tuổi trẻ. Sinh ra và lớn lên trên quê hương chiến tranh, nghèo khó, chịu đựng cái nhục của một nước nhược tiểu bị các nước lớn khinh khi, coi rẻ, câu hỏi làm gì cho đất nước luôn là mối ám ảnh hàng ngày, hàng đêm trong ý thức của những người trẻ biết đau cái đau của đất nước.

Năm 1968, năm cao điểm của cuộc chiến Việt Nam, tôi lớn lên ở gần cửa biển Sơn Chà, quận 3, Đà Nẵng. Buổi chiều tôi thường ngồi trên cồn cát trắng ở xóm Cổ Mân nhìn những đoàn xe chở bom đạn nối đuôi nhau từ cảng Tiên Sa nhập vào các kho quân sự chung quanh thành phố để từ đó đi vào cuộc chiến. Tôi thầm nghĩ những bom đạn kia nay mai đây sẽ rơi xuống ở một nơi nào đó trên quê hương tôi. Đêm đêm trên đường Bạch Đằng dọc bờ sông Hàn những anh lính Mỹ đen, Mỹ trắng miệng sặc mùi bia rượu, tay ôm những cô gái Việt bằng tuổi chị tôi và cất tiếng cười khả ố. Niềm tự ái dân tộc trong lòng tôi dâng cao. Tôi cảm thấy bi xúc phạm. Họ xúc phạm không chỉ dân tộc Việt Nam, người con gái Việt Nam, mà dường như còn xúc phạm đến cả hàng phượng đỏ, hàng sao xanh trên con đường Bạch Đằng thơ mộng. Cách thành phố Đà Nẵng không xa là bãi rác Hòa Cầm rộng mênh mông. Nơi đó, mỗi buổi sáng, hàng trăm đứa bé mới ngoài mười tuổi như tôi bám theo những chiếc xe rác Mỹ để nhặt những miếng thịt thừa, những lon bơ bỏ dở và ngay cả từng chiếc bao nhựa dơ dáy. Ngày đó, tuy còn khá nhỏ tôi đã biết tủi thẹn cho số phận của một cây cổ thụ bốn ngàn năm đang biến thành dây chùm gởi, đồng thời tôi cũng tự hỏi, những điêu tàn đổ nát, những bất công phi lý của xã hội Việt Nam, trong đó có sự hiện diện của những người Mỹ đen Mỹ trắng kia phải phát xuất từ một hay nhiều nguyên nhân nào đó.

Hoàn cảnh đất nước và nhiệt tình tuổi trẻ đã buộc các anh chị chọn lựa cho mình một hướng đi, một lý tưởng sống, một dâng hiến dành cho quê hương mà các anh chị nghĩ là đúng nhất. Sự chọn lựa nào cũng kèm theo đó sự hy sinh, cũng mang tính lịch sử và lịch sử Việt Nam trước 1975 là một lịch sử đầy nhiễu nhương, đau thương và ngộ nhận. Nhìn lại tuổi hai mươi không phải để phê phán những việc làm thời đó đúng hay sai. Sai hay đúng là thái độ của hôm nay và về sau chứ không phải của quá khứ.

Bốn mươi năm trước, nếu có người cho rằng xã hội miền Bắc tốt đẹp hơn xã hội miền Nam có thể đã không gây ra nhiều tranh cãi bởi vì các tệ nạn tham nhũng, quan chức lộng hành quá phổ biến ở miền Nam trong khi chưa ai thật sự sống một ngày dưới chủ nghĩa xã hội; thế nhưng, hơn 30 năm sau mà những người đó vẫn còn tiếp tục luận điệu giống như thế thì đó chỉ là một cách nói liều.

Bốn mươi năm trước, vì giới hạn về tài liệu tham khảo, nếu có người nhận xét ông Hồ Chí Minh, ông Trường Chinh, ông Lê Duẩn về mặt đạo đức tốt hơn các ông Tổng thống miền Nam có thể còn thông cảm, nhưng sau 30 năm với tất cả tài liệu đã được tiết lộ, Cải cách Ruộng đất, Nhân văn – Giai phẩm, vụ án xét lại, Tổng công kích Mậu Thân, chuyên chính vô sản, độc tài đảng trị, mà có người sùng bái các lãnh tụ cộng sản trên thì thật là một niềm tin mù quáng.

Tôi cũng cám ơn nhà văn Tô Nhuận Vỹ đã phổ biến tiểu luận “Nhà văn Việt Nam: Đổi mới và Hội nhập”, kết quả của đề tài nghiên cứu mà anh tham gia với William Joiner Center (WJC) thuộc Đại học Massachusetts trong hai năm 2005 đến 2007. Vài điểm trong tiểu luận của anh có thể thảo luận như tôi sẽ làm dưới đây, nhưng về tổng quát tiểu luận này đã giúp cho tôi thêm những kiến thức về sinh hoạt văn học trong nước mà tôi không biết đến nhiều.

Nhắc đến WJC, tôi nhớ lại những chuyện xảy ra mười năm trước. Tôi sống ở Boston và không xa lạ gì các khóa hội thảo mùa hè của WJC. Trong hai năm 1998 và 1999, tôi đã cùng một số anh chị trong giới cầm bút đến nói chuyện tại các khóa hội thảo mùa hè của trung tâm này. Mặc dù không phải là nhà văn, nhà thơ có những tác phẩm văn chương đủ tầm vóc để đại diện cho văn nghệ sĩ hải ngoại, tôi vẫn được mời, đơn giản chỉ vì tôi sống ngay tại Boston, quen thuộc với sinh hoạt của cộng đồng người Việt và đã có thời học ở Đại học Massachusetts.

Tôi ủng hộ quan điểm và thái độ tích cực tham gia vào các khóa hội thảo mùa hè tại Đại học Massachusetts của tổ chức cộng đồng Việt Nam. Thay vì tập trung các sinh hoạt trong nội bộ người Việt, sự có mặt trong những buổi thảo luận về văn học Việt Nam, chiến tranh và hậu quả xã hội Việt Nam tại các diễn đàn rộng hơn, liên quan đến nhiều quốc gia là những việc nên làm và ngay cả phải làm. Chúng ta đang đấu tranh cho quyền tự do phát biểu của đồng bào trong nước thì không có lý do gì tự giới hạn quyền phát biểu của chính mình trong một xã hội tự do.

Trong chiến tranh, chế độ Việt Nam Cộng hòa không có nhiều cơ hội để nói lên tiếng nói chính nghĩa của mình. Miền Nam không phải của ông Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu hay Dương Văn Minh mà là miền Nam của hơn hai chục triệu người, trong đó có một triệu người lính đã phải chiến đấu trong những điều kiện hết sức khó khăn, vừa cô đơn và cũng vừa cô thế. Những vành khăn tang trắng của những người vợ lính, những đứa bé mồ côi vì cha vừa tử trận chỉ trắng trong các khu gia binh nghèo, trong những căn nhà tranh heo hắt chứ không trắng trên các màn ảnh truyền hình quốc tế. Và từ sau 1975, các nhà văn, nhà thơ từ các quốc gia khác cũng chỉ biết Việt Nam dưới chế độ cộng cản qua vở kịch do Đảng Cộng sản Việt Nam dàn dựng, qua các khẩu hiệu tuyên truyền của phe có quyền ăn nói, nhưng không biết đến một Việt Nam khác đang bị bịt miệng, đang bị đày ải trong tù ngục và bị tước đoạt những quyền căn bản của con người. Do đó, giống như việc thắp lên que diêm trong đêm tối trời, gióng lên được một tiếng nói của lương tâm dù ở đâu cũng là điều cần thiết.

Ngoại trừ tôi, hầu hết các nhà văn miền Nam tham dự các khóa hội thảo mùa hè do WJC tổ chức đều đã nhiều năm phục vụ trong quân đội và thời gian ở tù sau 1975 cũng không ngắn hơn bao nhiêu so với quãng đời lính tráng của họ. Trong số anh em chúng tôi, nhà văn Hoàng Ngọc Liên lớn tuổi nhất. Vào tháng 9 năm 1999 ông đã ngoài 70 tuổi. Là một cựu sĩ quan cao cấp trong quân đội Việt Nam Cộng hòa và bị giam 13 năm trong các nhà tù khắp miền bắc, thế nhưng, ông không dùng diễn đàn WJC để tố cáo tội ác cộng sản, để đòi Đảng Cộng sản phải đền nợ máu trước nhân dân, đòi giới lãnh đạo Đảng phải ở tù ít nhất bằng số năm ông đã từng phải ở. Không. Nhà văn Hoàng Ngọc Liên xem buổi hội thảo chỉ là cơ hội để kể lại những điều mắt thấy tai nghe trong năm tháng ông ở tù và quan trọng hơn, nhắn gởi những lời đầy hy vọng đến những người cầm bút Việt Nam thuộc thế hệ trẻ trong nước cũng như đang tham gia trong khóa hội thảo mùa hè năm đó. Trong bài viết “Những câu chuyện chưa kể” ông đọc ở hội thảo vào buổi chiều ngày 1 tháng 9 năm 1999 tại Đại học Massachusetts, Boston, nhà văn Hoàng Ngọc Liên kết luận: “Tôi nghĩ rằng lâu nay, nhất là từ năm 2000, tuổi trẻ Việt Nam là kỳ vọng của dân tộc Việt Nam, trong chiều hướng góp phần xây dựng đất nước chúng tôi, một đất nước bị chiến tranh tàn phá, sau 24 năm hòa bình, thống nhất, vẫn còn nghèo nàn, lạc hậu mà dân chúng hầu như xa lạ với những quyền Tự do căn bản của con người. Tôi, và những người như tôi, tin tưởng vào thế hệ trẻ, ủng hộ các bạn trẻ cầm bút, với văn phong mới mẻ hơn, súc tích hơn.”

Nếu câu nói trên do tôi nói ra thì chẳng có gì đáng để ý. Tôi trẻ hơn nhà văn Hoàng Ngọc Liên nhiều, chưa từng bị đánh đập, bị đày ải một ngày nào trong các trại tập trung Hoàng Liên Sơn, Thanh Phong, Vĩnh Phú, phát biểu hay ca ngợi lòng nhân ái là chuyện thường tình, nhưng nhà văn Hoàng Ngọc Liên thì khác, ông vừa mới thoát ra khỏi địa ngục trần gian cộng sản, sức khỏe chưa kịp phục hồi, thân thể còn đau nhức nhưng vẫn dựa lên các giá trị thiêng liêng của tình dân tộc và mục đích Tự do, Nhân bản cho các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau để nói lên những lời tâm huyết của mình. Thật quý hóa và may mắn biết bao nhiêu. Không ai hòa giải với ông và ông cũng chẳng cần ai hòa giải. Ông đã tự hóa giải các xung đột bằng nhận thức và qua đó đã hòa giải được với chính mình. Dù bị tù 13 năm ông đã bước ra khỏi cổng trại như một người chiến thắng chứ không phải người thua trận. Ông trở về như sau một cuộc hành quân dài chứ không phải một người vừa được trao trả tự do, bởi vì lý tưởng Tự do Nhân bản vẫn còn là nguồn thôi thúc trong lòng nhà văn 70 tuổi và ông vững tin mục đích tốt đẹp đó một ngày sẽ đến với đất nước Việt Nam.

Đọc tiểu luận “Nhà văn Việt Nam: Đổi mới và Hội nhập”, tôi cũng tìm thấy trong nhà văn Tô Nhuận Vỹ một ước vọng ngày mai tươi sáng như nhà văn Hoàng Ngọc Liên. Đất nước phải vượt qua những bế tắc, văn học phải vượt qua những bế tắc, mỗi nhà văn nhà thơ cũng phải tìm mọi cách vượt qua những bế tắc của chính mình để đi lên và đưa đất nước đi lên. Tuy nhiên, khác với nhà văn Hoàng Ngọc Liên ở điều kiện tự do, nhà văn Tô Nhuận Vỹ cho rằng bước đầu tiên và cần thiết nhất để hội nhập văn học Việt Nam trong cũng như ngoài nước là hòa hợp hòa giải trong giới văn nghệ sĩ: “đội ngũ nhà văn Việt Nam sẽ đóng vai trò đi đầu, là chiếc cầu nối cho việc hoà giải, hoà hợp dân tộc, đặc biệt giữa cộng đồng người Việt ở nước ngoài với đồng bào trong nước, do hoàn cảnh lịch sử, đã để lại một hố sâu ngăn cách, dị biệt chua xót sau chiến tranh.”

Tôi không nghi ngờ thiện chí của nhà văn Tô Nhuận Vỹ nhưng thành thật mà nói, hòa giải hòa hợp chỉ là một chiếc bóng do Đảng vẽ ra mà những người Việt có lòng đang đuổi bắt như đã từng đuổi bắt con bồ câu hòa bình trước 1975.

Hình ảnh con bồ câu trắng hiền hòa trên bầu trời quê hương thân yêu đã đẩy bao nhiêu tuổi trẻ Việt Nam tự nguyện lao vào chỗ chết, đơn giản bởi vì “nếu là chim tôi sẽ làm một bồ câu trắng và nếu là người tôi sẽ chết cho quê hương”. Các thành phố lớn miền Nam như Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, đâu đâu cũng xuất hiện các phong trào đòi quyền sống, đòi hòa bình, đòi tự quyết. Các cuộc xuống đường diễn hành gần như mỗi ngày, mỗi tuần, nhiều đến nỗi làm cho dư luận quốc tế và cả những người hiểu biết giới hạn về chính trị có nhận xét trong các phe đang đánh nhau chỉ có chính quyền miền Nam mới là những kẻ hiếu chiến và đi ngược lại khát vọng hòa bình dân tộc.

Kỹ thuật tuyên truyền tinh vi của Đảng đã biến những người lính miền Nam đang ngày đêm đổ máu trong cuộc chiến mà không có quyền chọn lựa thành những kẻ sát nhân, trong lúc những kẻ ném lựu đạn vào nhà hàng Mỹ Cảnh, pháo kích vào trường tiểu học Cai Lậy, chôn sống đồng bào trên Bãi Dâu Huế, đặt mìn trên quốc lộ số một… lại trở thành những anh hùng dân tộc. Và sau 1975, mọi người đều biết tất cả các phong trào hòa bình giả tạo đó đều do Trung ương Đảng trực tiếp chỉ đạo, những con chim bồ câu trắng xinh xinh kia là do bàn tay Đảng vẽ ra, và những kẻ ném bom ngày nào cũng không ai khác hơn chính là những đảng viên biệt động thành trung kiên của Đảng.

Tôi cũng không nghĩ cần thiết phải có một nhu cầu hòa giải trong giới văn nghệ sĩ dù một thời đã phải đứng hai bên chuyến tuyến khác nhau. Tôi chưa gặp anh Tô Nhuận Vỹ chỉ vì chúng ta chưa có điều kiện gặp nhau chứ không phải tôi hận thù, oán trách gì anh mà không gặp. Tôi đi rất nhiều nơi và tiếp xúc với nhiều anh chị chú bác trong giới cầm bút nhưng rất hiếm khi gặp một nhà văn nhà thơ mang lòng thù hận các nhà văn nhà thơ trong nước. Một số khá đông không thích tham gia vào các tác phẩm viết chung giữa các nhà văn trong nước và hải ngoại bởi vì họ không muốn làm cái loa tuyền truyền giùm cho Đảng, vả lại những tác phẩm viết chung chẳng đem lại một lợi lạc gì cụ thể khi phần lớn chỉ phát hành tại hải ngoại chứ không phải trong nước, một nơi có 80 triệu người cần phải đọc. Sau 33 năm, hàng trăm tác phẩm được viết trước 1975 tại miền Nam vẫn chưa được tái bản, chưa được công nhận, nhà văn nhà thơ gốc Việt Nam Cộng hòa vẫn còn bị đối xử như một thứ công dân hạng hai, nói chi là các nhà văn nhà thơ vượt biên sau 1975 và tác phẩm của họ được viết ra tại hải ngoại. Nếu văn học là đời sống tinh thần của con người trong một thời đại nhất định thì văn học hải ngoại hẳn phải mang đậm nét của hành trình tìm tự do đầy gian khổ, đương nhiên những tác phẩm như thế sẽ không bao giờ có mặt trong một nhà sách nào ở Việt Nam khi chế độ cộng sản còn tồn tại.

Tình cảm giữa những người cầm bút dù bên này hay bên kia không xa cách nhiều như anh Tô Nhuận Vỹ lo lắng. Tôi còn nhớ mười năm trước, vài ngày trước khi đến WJC tham gia hội thảo, có người hỏi tôi, nếu gặp nhau trong buổi hội thảo, tôi sẽ làm gì, sẽ đối xử ra sao với những người được gọi là “văn nô cộng sản” từ Việt Nam sang. Tôi trả lời người đó rằng sau buổi hội thảo, tôi sẽ rủ các anh chị từ trong nước sang đi uống cà-phê. Mọi người ngồi chung quanh tôi hôm đó đều bật cười vì nghĩ rằng tôi nói chơi. Không, tôi nói thật. Tôi đã đi uống cà-phê với nhiều anh chị văn nghệ sĩ từ trong nước sang. Không giống như những năm đầu, thời anh Lê Lựu sang tham gia WJC trở về, viết những bài ký sự rẻ tiền được in trong hai tập ký Một thời lầm lỗi và Trở lại nước Mỹ, các anh chị đến những năm sau dễ thông cảm hơn nhiều. Gặp ai tôi cũng chỉ yêu cầu một điều, hãy viết về cuộc đời và đất nước như các anh các chị đã từng sống. Thời kỳ viết theo chỉ thị đã qua rồi, xin để lại cho các thế hệ mai sau những lời chân thật. Hơn bao giờ hết đất nước đang cần những người nói thật và sống thật.

Đối với các em sinh viên du học cũng thế. Tôi gặp họ rất sớm. Nhiều em mới sang còn đọc thơ Tố Hữu cho tôi nghe và còn nói về “Bác Hồ là vị cha chung, là sao Bắc Đẩu là vầng Thái Dương” của các em bằng một ánh mắt hồn nhiên và hãnh diện. Tôi kiên nhẫn nghe mà không phản đối bởi vì tôi hiểu đó là tất cả những gì em có. Thế giới tri thức của em từ lớp vỡ lòng đã được đóng khung trong những bài giảng đầy tính giáo điều cuồng tín. Một tuần lễ trước khi bị xử tử hình về tội diệt chủng, Nicolae Ceausescu vẫn còn được học sinh Rumani, giống như các em học sinh Việt Nam ngày nay, ca tụng là tinh hoa kết tụ từ dòng trường giang Danube. Tôi biết sau 4 năm đại học, các em sẽ thay đổi. Các em còn trẻ nên những thói hư tật xấu, mê tín dị đoan dễ đến nhưng rồi cũng sẽ dễ đi. Bệnh sùng bái cá nhân sẽ bớt dần, nhường chỗ cho ánh sáng khoa học thâm nhập vào tâm hồn trẻ trung của các em. Quá trình đổi mới nhận thức không diễn ra trong một sớm một chiều mà là một quá trình dài, từng bước và liên tục. Các em sẽ lớn lên và trưởng thành không phải chỉ ở tuổi tác mà cả về trí thức. Mỗi thế hệ có trách nhiệm riêng trong từng giai đoạn lịch sử. Các bậc cha chú dù đúng hay sai rồi cũng sẽ lần lượt xuống đất hay lên giàn hỏa và các em sẽ phải nghiêng vai gánh vác trách nhiệm lịch sử của thế hệ mình. Các em có quyền trách móc, đổ thừa nhưng không có quyền từ chối.

Cửa nhà tôi ngày đó giống như cửa chùa, ai đến cũng được, tôi chưa bao giờ hỏi lý lịch hay căn cước người nào. Cách nói và cách trả lời với từng người có thể khác, nhưng đều chuyên chở một quan điểm chính trị và niềm tin về tương lai đất nước giống nhau. Quan điểm chính trị của tôi rất rõ ràng và đơn giản. Với tôi, cả dân tộc Việt Nam từ Bắc đến Nam, từ nhà văn nhà thơ cho đến người chưa hề viết nổi một lá thư, từ các nhà trí thức học nhiều hiểu rộng cho đến các bác nông dân tay lấm chân bùn, từ các cha cho đến các thầy, từ những người đã chết sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập năm 1930 hay còn sống hôm nay, nói chung hơn 80 triệu người, đều là nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản.

Đảng Cộng sản thắng trong chiến tranh không phải vì họ có chính nghĩa, mà bởi vì họ đã kiên trì với mục đích nhuộm đỏ Việt Nam, được tổ chức một cách tinh vi từ trung ương Đảng cho đến tận tổ ba người và khai thác triệt để lòng yêu nước sâu đậm của người dân Việt Nam. Tôi cũng có một niềm tin rằng dân tộc Việt Nam với mật độ dân số trung bình không quá đông hay quá ít, với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, với lực lượng chuyên viên đông đảo trong các ngành khoa học đang có mặt trên khắp thế giới, với truyền thống yêu nước Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa vẫn chảy đầy trong huyết quản, nếu được chắp đôi cánh tự do, dân chủ, nhân bản, Việt Nam sẽ bay lên cao, sẽ thật sự trở thành một cường quốc kinh tế, cường quốc quân sự, sẽ đủ khả năng bảo vệ sự toàn vẹn vùng trời, vùng biển của tổ quốc thiêng liêng. Nếu không có tự do dân chủ, “khát vọng cất cánh” mà anh Tô Nhuận Vỹ nêu ra trong phần đầu tiểu luận chỉ là một giấc mơ tiên.

Có người cho rằng Đảng Cộng sản đã có một thời đồng hành với dân tộc, cùng hướng đến một mục tiêu như dân tộc Việt Nam, do đó vai trò lãnh đạo của Đảng ngày nay là hệ quả tất yếu của lịch sử. Tôi không đồng ý. Đó là lý luận của kẻ cướp. Với tôi, rất nhiều đảng viên Đảng Cộng sản tham gia chống Pháp phát xuất từ lòng yêu nước và đã chết cho đất nước như tôi đã nhiều lần viết trên diễn đàn này, nhưng bản thân Đảng Cộng sản như một tổ chức chính trị chưa bao giờ đồng hành với dân tộc. Việc giành lại nền độc lập và chủ quyền đất nước từ tay thực dân là mục tiêu, là bến bờ của dân tộc Việt Nam, trong khi đó đối với Đảng Cộng sản, độc lập dân tộc chỉ là phương tiện, một chiếc cầu, một chiếc ghe họ cần có để đi qua trên đường tiến tới cách mạng vô sản. Mục tiêu đó đã được khẳng định ngay trong “Luận cương chính trị” Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương do Trần Phú chủ trì năm 1930 và được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương phê chuẩn vào tháng 4 cùng năm:”Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong cuộc cách mạng; hai giai đoạn cách mạng từ cách mạng tư sản dân quyền chống đế quốc và phong kiến nhằm thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và người cày có ruộng và sau đó chuyển sang làm cách mạng xã hội chủ nghĩa.”

Sau 1975, một số người từng xếp bút nghiên vào rừng “Chống Mỹ cứu nước” đã phẫn nộ, kết án giới lãnh đạo Đảng đi ngược lại quyền lợi dân tộc, phản bội lý tưởng, phản bội máu xương của đồng chí họ, đưa đất nước đi vào con đường nghèo đói, độc tài, đảng trị. Nghĩ cho đúng, đó là những lời kết án thiếu cơ sở lý luận lẫn thực tế. Thật là oan cho Đảng. Nếu họ chịu khó đọc các đề cương chính trị đại hội Đảng từ ngày thành lập 78 năm trước cho đến đại hội lần thứ X cách đây hai năm, sẽ thấy Đảng Cộng sản chưa bao giờ phản bội mục tiêu của mình. Mục tiêu cộng sản hóa toàn cõi Việt Nam và đặt dân tộc Việt Nam dưới quyền cai trị tuyệt đối của Đảng chưa bao giờ thay đổi. Vì một số điều kiện cách mạng và biến chuyển chính trị thế giới xảy ra ngoài tiên liệu, các chính sách của Đảng cũng phải theo đó mà áp dụng một cách thích nghi hơn, mềm dẻo hơn qua những chính sách gọi là “đổi mới”, “hội nhập” v.v…, nhưng mục đích của Đảng từ trước đến sau luôn nhất quán.

Có người đến nay vẫn nghĩ rằng việc họ hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng Cộng sản để đứng lên “Chống Mỹ cứu nước” là một lý tưởng cao đẹp của cuộc đời họ, nhưng không biết rằng câu đó chỉ là một trong hàng chục khẩu hiệu có tính giai đoạn mà Đảng đã dùng. Nếu Mỹ không qua Việt Nam thì Đảng có để yên cho nhân dân miền Nam xây dựng một xã hội tự do dân chủ không? Chắc chắn là không. Dĩ nhiên, Mỹ không qua sẽ không có khẩu hiệu “Chống Mỹ cứu nước”, nhưng Đảng có thừa chuyên viên truyên truyền chuyên nghiệp để nghĩ ra những khẩu hiệu khác không kém phần khích động.

Tôi đồng ý với nhà văn Tô Nhuận Vỹ rằng giữa các nhà văn nhà thơ trong và ngoài nước hay đã từng đứng trên chuyến tuyến khác nhau vẫn còn “một hố sâu ngăn cách, dị biệt chua xót”, nhưng nghĩ cho đúng, cái hố sâu đó chẳng phải do nhà văn nhà thơ nào đào ra. Đó không phải là hố sâu tình cảm mà là hố sâu ý thức hệ. Theo lẽ tự nhiên, ai đào ra thì người đó phải lấp lại. Trách nhiệm hòa giải hòa hợp dân tộc, xóa bỏ các cách ngăn về ý thức hệ là trách nhiệm của giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong suốt 33 năm qua với bao nhiêu cơ hội nhưng các lãnh đạo Đảng chẳng những không thể hiện một hành động nào cụ thể để chứng tỏ tinh thần hòa giải hòa hợp dân tộc mà càng đào sâu hơn những hố sâu ngăn cách, làm lở loét thêm những vết thương vẫn còn đang mưng mủ trên da thịt của nhiều triệu người Việt Nam. Việc yêu cầu chính quyền Nam Dương đập bỏ tấm bia tưởng niệm đồng bào chết trên Biển Đông hay việc tổ chức rầm rộ kỷ niệm 40 năm Mậu Thân trên nỗi đau câm nín của hàng ngàn đồng bào Huế là vài ví dụ điển hình.

Với đồng bào hải ngoại, những hành động xúc phạm hương linh của những em bé chết trôi, những bào thai ngột nước ngay lúc còn trong bụng mẹ, những oan hồn đang vất vưởng khắp Biển Đông như thế, làm sao lãnh đạo Đảng Cộng sản có thể vận động được đoàn kết trong ngoài, nhất là đối hơn hai triệu người Việt hải ngoại, để cùng đưa đất nước đi lên?

Với đồng bào trong nước, những chương trình ca nhạc rầm rộ mừng 40 năm chiến thắng Mậu Thân, trong lúc cùng thời điểm đó trên khắp ba miền đất nước, nhất là tại Huế, hàng trăm ngàn đồng bào đang khóc trong âm thần, trong tủi nhục, trong hờn căm u uất, thì làm sao lãnh đạo Đảng có thể phát huy được nội lực dân tộc?

Bất cứ một người Việt Nam nào với một trình độ nhận thức trung bình cũng biết những hành động vừa nêu của giới lãnh đạo Đảng là không cần thiết và quá đáng. Tôi tin ngay cả trong Bộ Chính trị và Trung ương Đảng cũng có người biết việc đó là phi nhân, lạc hậu, vụng về và quá đáng, nhưng họ không có chọn lựa nào khác ngoài việc phải làm, đơn giản bởi vì che đậy tội ác là phản ứng tự nhiên của những kẻ đã gây ra tội ác.

Chim bay cần đôi cánh nhưng không phải giống chim nào có cánh cũng có thể bay cao. Chim se sẻ chỉ biết bay quanh vườn, nhảy nhót trên những cành xoài, cành ổi, nhưng để có một hạm đội Việt Nam, một phi đoàn Việt Nam, một vệ tinh Việt Nam, một phi thuyền Việt Nam, đất nước phải cần có đôi cánh phượng hoàng, nói đúng hơn là đôi cánh dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam, với những mâu thuẫn đối kháng và bế tắc ngay từ bên trong cơ cấu độc tài đảng trị sẽ không có khả năng đưa đất nước lên ngang tầm với thời đại, và do đó, việc chọn lựa một con đường thay thế là trách nhiệm của các thế hệ Việt Nam trong và ngoài nước hôm nay.

Trần trung đạo

TRĂM HOA ĐUA NỞ TRÊN ĐẤT BẮC ( BÀI SỐ 5)

 

II. Phái thanh niên

Phái này gồm tất cả các nhà văn trẻ tuổi, lớn lên trong khói lửa của cuộc kháng chiến dân tộc và đã được rèn luyện đầy đủ trong hệ thống tư tưởng Mác-xít. Tất cả đều là đảng viên và đa số đã tích cực tham gia bộ đội. Trẻ nhất trong bọn là Phùng Quán (năm nay mới 25 tuổi) và nhiều tuổi nhất là Hoàng Tích Linh (năm nay chừng 45 tuổi).

Điều đáng chú ý nhất là hiện nay không có một nhà văn thanh niên nào theo Đảng, mặc dù Đảng đã đào tạo nên họ.

Họ chống lại học thuyết Mác-xít và chế độ cộng sản không phải vì quyền lợi giai cấp hoặc vì họ đã bị tiêm nhiễm những triết lý phong kiến hoặc tư sản, mà chính vì bản chất trong con người thiên nhiên của họ phải có phản ứng tự vệ để khỏi bị tiêu diệt. Tiếng nói của họ là tiếng nói của con người “nhân chi sơ”, không đại diện cho một học phái nào cả, tiếng nói của những linh hồn còn trong trắng.

Trần Dần, một nhà thơ đã tham dự trận Điện Biên Phủ có thể coi là điển hình cho thế hệ này.

Trần Dần

Tiểu sử: Trần Dần sinh năm 1924(1)ở Nam Định, học tiểu học ở tỉnh Nam rồi sau lên học trung học ở Hà Nội. Khi ông học văn chương Pháp để thi tú tài, ông bị ảnh hưởng Baudelaire và Verlaine, trở thành một thi sĩ làm thơ tiếng Việt theo lối “tượng trưng” (symbolisme) của Pháp. Cho tới ngày nay ông vẫn giữ lối thơ đó vì ông chủ trương rằng mình lời văn không đủ mà phải dùng cả âm điệu trong câu mới diễn tả được những rung động trong tâm hồn của thi nhân.

Ông mới xuất hiện là một nhà thơ thì cuộc chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ. Trở về Nam Định, ông tham gia kháng chiến và đảm nhận công tác tuyên truyền. Sau khi Nam Định thất thủ, ông xung phong gia nhập bộ đội và được cử lên mặt trận Sơn La. Ở đây, ông phụ trách điều khiển đoàn văn công, được các văn nghệ sĩ trong trung đoàn rất quý mến và được kết nạp làm đảng viên. Nhưng là một văn nghệ sĩ, ông không chịu nổi sự chèn ép của các cán bộ chính trị cấp trung đoàn, nên đến năm 1951, ông xin về Trung ương, nhận công tác viết báo cho Cục Quân huấn.

Trong thời kỳ này, ngoài việc viết báo, ông còn phụ trách giảng về văn nghệ nhân dân và chính sách lãnh đạo văn nghệ của Đảng đối với văn nghệ sĩ trong những lớp đào tạo cán bộ văn công. Bị phê bình là giảng sai đường lối của Đảng, ông tức mình xin đi công tác tiền tuyến và được cử lên mặt trận Điện Biên Phủ. Xúc cảm trước sự tấn công ào ạt của quân đội kháng chiến vào thành luỹ của Pháp, nhất là trước cái chết thê thảm của Tô Ngọc Vân, bạn đồng hành của ông, Trần Dần sáng tác cuốn Người người lớp lớp. Nhờ cuốn sách này ông được Đảng yêu chuộng trở lại và năm 1954 được cử đi Trung Quốc để viết bản dẫn giải bằng tiếng Việt cho cuốn phim Chiến thắng Điện Biên Phủ, là cuốn phim Việt Minh đóng lại trận Điện Biên Phủ do cán bộ Trung cộng sang quay và mang sang Tàu thu thanh.

Nhân chuyến du hành này, Trần Dần được tiếp xúc với nền văn hoá của Trung cộng. Ông lấy làm thất vọng nên khi trở về, ông nói nhỏ với bạn bè: “Chớ nên theo đường lối văn nghệ của Trung Quốc”.

Cùng đi với ông sang Trung Quốc có một cán bộ chính trị phụ trách về đường lối giải thích, nhưng tên cán bộ này mặc dầu dốt đặc về văn chương cũng cứ nhất định dùng quyền lực chính trị của mình để sửa chữa từng câu, từng chữ của Trần Dần, mà có khi ngang nhiên đọc lời giải thích của mình cho Trần Dần viết. Ông lấy làm bất mãn, nên khi về đến Việt Nam, ông cùng một số văn nghệ sĩ đảng viên khác như Tử Phác, Hoàng Cầm, Hoàng Tích Linh và Đỗ Nhuận, cùng trong cảnh ngộ, viết kiến nghị lên cấp trên yêu cầu hạn chế sự can thiệp của cán bộ chính trị vào lãnh vực văn nghệ.

Kiến nghị còn đang được cứu xét thì xẩy ra một việc quan trọng hơn. Đó là việc Trần Dần tự tiện lấy vợ, bất chấp sự cấm đoán của Đảng. Theo một đạo luật bất thành văn mà Đảng đã đặt ra, các đảng viên cấp xã phải báo cáo cho cấp trên biết trước mỗi khi dự định lấy vợ, lấy chồng; các đảng viên huyện (trường hợp của Trần Dần) phải xin phép Đảng mới được cưới xin hoặc yêu đương, còn về phần các đảng viên cấp tỉnh trở lên thì việc dựng vợ gả chồng là đo Đảng quyết định.

Trần Dần tuy là đảng viên, nhưng vẫn giữ tính chất văn nghệ sĩ, không chịu nổi luyến ái quan Mác-xít. Hồi ở chiến khu bao nhiêu lần Đảng “xây dựng” cho ông với các nữ đồng chí, ông dều không chịu và khi hoà bình trở lại, ông tình cờ gặp và mê ngay một thiếu nữ tiểu tư sản ở phố Sinh Từ, sống bơ vơ một mình, vì bố mẹ họ hàng di cư vào Nam không kịp mang theo.

Trần Dần xin phép Đảng để cưới người yêu, nhưng Đảng nhất định không cho vì một lý do căn bản: người con gái đó theo đạo Thiên chúa. Tuy vậy, Đảng không nêu lên lý do tôn giáo để từ chối mà chỉ giải thích rằng người con gái đó sống về tiền thuê nhà mà bố mẹ để lại nên thuộc vào thành phần bóc lột, và một đảng viên không thể lấy vợ thuộc giai cấp “địch”.

Trần Dần không chịu cắt đứt tình yêu nên khuyên ý trung nhân mang nhà cửa bố mẹ để lại giao cho Uỷ ban quản trị tài sản của những người vắng mặt trông coi và thu hoa lợi; hai người đều cam chịu sống trong cơ cực để yêu thương nhau. Đảng bèn rẽ duyên bằng cách điều động Trần Dần lên Việt Bắc công tác, nhưng Trần Dần lấy cớ ốm đau xin về Hà Nội nghỉ dài hạn và tự ý xin ra khỏi Đảng, ngang nhiên đến phố Sinh Từ sống với tình nhân không cần cưới xin. Đảng toan trừng trị, nhưng ngặt vì lúc đó đang có phong trào di cư, nên không dám khủng bố bất cứ ai sợ làm náo động nhân tâm khiến cuộc di cư bành trướng thêm. Đảng bèn nuốt giận làm lành, chỉ gây dư luận là Trần Dần đã sa đoạ, rơi vào hố tư sản phản động.

Nhưng sau khi đóng cửa Hải Phòng, Trần Dần lại làm một việc táo bạo thứ hai là phê bình đả kích cuốn thơ Việt Bắc của Tố Hữu, một thi sĩ giữ chức trung ương uỷ viên, phụ trách lãnh đạo văn nghệ. Tố Hữu liền ra lệnh bắt cóc Trần Dần mang nhốt trên một nhà giam ở Việt Bắc. Vợ Trần Dần lại sống bơ vơ giữa Hà Nội một lần nữa, hỏi thăm chồng ở đâu, không ai biết, vẫn thất nghiệp, lại thêm bụng mang dạ chửa. Bạn bè của Trần Dần phải chung tiền giúp đỡ và thay phiên đến thăm hỏi nâng đỡ tinh thần.

Tin Trần Dần bị bắt mang đi biệt tích lan ra khắp Hà Nội và gây dư luận sôi nổi trong giới trí thức kháng chiến. Để dẹp yên dư luận, Đảng bèn sửa sai bằng cách đưa Trần Dần về mạn xuôi, bắt đi theo chiến dịch Cải cách ruộng đất. Đảng cũng gọi vợ Trần Dần đến cho công việc may vá cho mậu dịch.

Không được bao lâu, xẩy ra vụ Khrushchev hạ bệ Stalin. Nhóm văn nghệ sĩ kháng chiến nổi lên đấu tranh chống Đảng bằng cách xuất bản tập Giai phẩm 1956 (sau này gọi là Giai phẩm mùa Xuân). Lúc này Trần Dần không có mặt ở Hà Nội, nhưng Hoàng Cầm là bạn thân, biết Trần Dần hồi 1954 có viết bài “Nhất định thắng” có giá trị, nên đến nhà bảo vợ Trần Dần đưa bản thảo và mang in trong tập Giai phẩm.

Tờ tạp chí vừa in xong thì bị tịch thu ngay. Đảng ngờ rằng Trần Dần đã bị nằm tù mà còn dám viết bài chống Đảng nên gọi Trần Dần về, mang ra đấu giữa một cuộc hội nghị của đông đủ các văn nghệ sĩ, quy Trần Dần vào tội phản động, lấy cớ là trong các bài thơ ông có dùng chữ “Người” viết hoa nên gán cho ông có ý đả kích cụ Hồ và ra lệnh tống giam vào nhà pha Hoả Lò ở Hà Nội. Trần Dần uất ức quá dùng lưỡi dao cạo cứa cổ, nhưng không chết, sau này vẫn mang cái sẹo ở cổ.

Năm tháng sau, Việt cộng tuân theo chỉ thị của Đệ tam Quốc tế phát động phong trào sửa sai. Giới trí thức được dịp phát động phong trào đấu tranh chống Đảng. Họ xuất bản tờ Giai phẩm muà Thu và tờ Nhân văn, lên tiếng phản đối vụ tịch thu tờ báo Giai phẩm mùa Xuân và việc khủng bố Trần Dần. Cụ Phan Khôi có nêu hai vấn đề này trong bài “Phê bình lãnh đạo văn nghệ” đăng trong Giai phẩm mùa Thu và Hoàng Cầm viết một bài nhan đề “Con người Trần Dần” đăng trong tờ Nhân văn số đầu. Bị công kích không có thế đỡ, Đảng bèn thả Trần Dần về và phục hồi danh dự bằng cách ra lệnh cho Hội Văn nghệ viết bản tự kiểm thảo đăng trên các báo. Nhóm Giai phẩm bèn tái bản tờ Giai phẩm mùa Xuân trong đó có bài thơ “Nhất định thắng” của Trần Dần.

Nhưng sau khi Nga-sô đàn áp cuộc khởi nghĩa Budapest thì Việt cộng cũng đóng cửa tờ Nhân vănGiai phẩm. Một lần nữa, Trần Dần lại bị quy là phản động và bị “treo giò” không được viết văn. Nhưng đến tháng cuối năm 1957, nhân báo Văn trở lại chống Đảng, Trần Dần gửi đăng một bài thơ nhan đề là “Hãy đi mãi” nói lên ý chí cương quyết đấu tranh đòi tự do đến cùng.

Về thơ, ông còn sáng tác những bài:

“Nói thật”, trong đó ông lý luận rằng chỉ vì cán bộ hèn nhát không dám nói thật với Đảng nên mới xảy ra vụ “sai lầm” trong Cải cách ruộng đất.

“Nhân văn làm lớn con người”, trong đó ông đề cao nhân văn.

“Một bài thơ chưa có đề”, trong đó ông ám chỉ Tố Hữu là nhà thơ “ti tỉ đờn bầu”.

Về truyện, ông viết:

“Chú bé làm văn” để chỉ trích nền giáo dục cộng sản chuyên môn tập cho trẻ em nói dối từ thuở bé để sau này nói dối thuê cho Đảng.

“Mâu thuẫn với cả nước” tả một nhạc sĩ bất tài (ám chỉ Lương Ngọc Trác) dùng thế lực Đảng, quy cho một nhạc sĩ có tài hơn mình vào tội “mâu thuẫn với cả nước”.

“Lão Rồng” tả một nông dân hiền lành bị bọn “lý trưởng mới” chà đạp.

Nhưng đặc biệt hơn cả là truyện “Anh Cò Lắm”, tả sự khổ cực của nông dân trong cải cách ruộng đất. Trong truyện đó có đoạn như sau:
Tôi đi thẳng vào nhà Cò Lắm. Vắng cả, nhà chả có ai, nhưng có tiếng trẻ khóc. Ba gian nhà nhỏ vẫn một cái giường, một cái chõng, có thêm một lá cờ đỏ rắt mái nhà rủ trước mặt bức ảnh Hồ Chủ tịch. Một đứa bé con độ lên hai bò giữa nhà, giời rét mà độc một manh áo nâu, còn cởi chuồng, chân tay lắm mụn, bôi phẩm xanh lè cả người. Thấy tôi nó càng khóc, giơ tay quẹt má. Tôi nhìn: Tay nó có cái gì vàng vàng? À ra cứt, nó ỉa một đống còn kia, cổ chân nó lại buộc một cái dây bằng vải khá dài, một đầu dây buộc vào cột nhà, chắc hẳn mẹ nó buộc nó vào dây cho nó chơi một mình.”
Trừ có hai bài thơ “Nhất định thắng” và “Hãy đi mãi” ông ký tên thật, còn tất cả những bài khác đều ký bằng bí danh, sau này bị tra khảo trong tù ông mới nhận là chính ông viết.

Sau đây chúng tôi chỉ trích hai bài: “Nhất định thắng” và “Hãy đi mãi” vừa điển hình cho lối thơ của ông, vừa nói lên tâm sự của thế hệ mới ở Bắc Việt.(2)

Nhất định thắng
Lời soạn giả: Bài thơ này đã gây nên cuộc đấu tố tác giả, khiến tác giả phải cứa cổ tự tử. Vì vậy nên tuy dài, chúng tôi cũng đăng trọn bài. Đại ý của tác giả là nêu sự đói rét của đất Bắc và nỗi u buồn trong lòng người phương Bắc hiện nay.
Tôi ở phố Sinh Từ:
Hai người
Một gian nhà chật.
Rất yêu nhau sao cuộc sống không vui?
Tổ quốc hôm nay
tuy gọi sống hoà bình
Nhưng mới chỉ là năm thứ nhất
Chúng ta còn muôn việc rối tinh…
Chúng ta
Ngày làm việc, đêm thì lo đẫy giấc
Vợ con đau thì rối ruột thuốc men
Khi mảng vui – khi chợt nhớ – chợt quên
Trăm cái bận hàng ngày nhay nhắt
Chúng ta vẫn làm ăn chiu chắt.
Ta biết đâu bên Mỹ Miếc tít mù
Chúng còn đương bày kế hại đời ta?
Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc
Đất hôm nay tầm tã mưa phùn
Bỗng nhói ngang lưng
máu rỏ xuống bùn
Lưng tôi có tên nào chém trộm?
A! Cái lưỡi dao cùn!
Không đứt được – mà đau!
Chúng định chém tôi làm hai mảnh
Ôi cả nước! Nếu mà lưng tôi lạnh
Hãy nhìn xem: có phải vết dao?
Không đứt được mà đau!
Lưng Tổ quốc hôm nay rớm máu
Tôi đã sống rã rời cân não
Quãng thời gian nhưng nhức chuyện đi Nam
Những con mưa rơi mãi tối sầm
Họ lếch thếch ôm nhau đi từng mảng
Tôi đã trở nên người ôm giận
Tôi đem thân làm ụ cản đường đi.
- Dừng lại!
- Đi đâu?
- Làm gì?
Họ kêu những thiếu tiền thiếu gạo
Thiếu Cha, thiếu Chúa, thiếu vân vân
Có cả anh Nam chị Nữ kêu buồn
- Ở đây
Khát gió thèm mây…
Ô hay!
Trời của chúng ta gặp ngày mây rủ
Nhưng trời ta sao bỏ nó mà đi?
Sau đám mây kia là cả miền Nam
Sao nỡ tưởng là non bồng của Mỹ!
Tôi muốn khóc giữ từng em bé
Bỏ tôi ư? – Từng vạt áo – Gót chân
Tôi muốn kêu lên – những tiếng cộc cằn…
- Không! Hãy ở lại!
Mảnh đất ta hôm nay dù tối
Cũng còn hơn
non bồng Mỹ
triệu lần…
Mảnh đất dễ mà quên?
Hỡi bạn đi Nam
Thiếu gì ư? Sao chẳng nói thực thà?
Chỉ là:
- thiếu quả tim, bộ óc!
Những lời nói sắp thành nói cục
Nhưng bỗng dưng tôi chỉ khóc mà thôi
Tôi nức nở giữa trời mưa bão.
Họ vẫn ra đi.
Nhưng sao bước rã rời?
Sao họ khóc?
Họ có gì thất vọng?
Đất níu chân đi
gió cản áo bay về
Xa đất Bắc tưởng như rời cõi sống.
Tưởng như đây là phút cuối cùng
Giăng giối lại: – mỗi lùm cây – hốc đá
Mỗi căn vườn – gốc vả – cây sung
Không nói được chỉ còn nức nở
Trắng con ngươi nhìn lại đất trời
Nhìn cơn nắng lụi, nhìn hạt mưa sa
Nhìn con đuờng cũ, nhìn ngôi sao mờ
Ôi đất ấy – quên làm sao được?
Quên sao nơi ấm lạnh ngọt bùi
Hôm nay đây mưa gió dập vùi
- Mưa đổ mãi lên người xa đất Bắc…
Ai dẫn họ đi?
Ai?
Dẫn đi đâu? – mà họ khóc mãi thôi!
Trời vẫn quật muôn vàn tảng gió
Bắc Nam ơi, đứt ruột chia đôi
Tôi cúi xuống – quỳ xin mưa bão
Chớ đổ thêm lên đầu họ
- khổ nhiều rồi!
Họ xấu số – chớ hành thêm họ nữa
Vườn ruộng hoang sơ – Cửa nhà vắng chủ
Miền Nam muôn dặm, non nước buồn thiu
Họ đã đi nhưng trút lại tâm hồn
Ôi đất Bắc! Hãy giữ gìn cho họ.
Tôi ở phố Sinh Từ
Những ngày ấy bao nhiêu thương xót
Tôi bước đi
không thấy phố
không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
trên mầu cờ đỏ
Gặp em trong mưa
Em đi tìm việc
Mỗi ngày đi lại cúi đầu về
- Anh ạ!
họ vẫn bảo chờ…
Tôi không gặng hỏi, nói gì ư?
Trời mưa, trời mưa
Ba tháng rồi
Em đợi
Sống bằng tương lai
Ngày và đêm như lũ trẻ mồ côi
Lũ lượt dắt nhau đi buồn bã
Em đi
trong mưa
cúi đầu
nghiêng vai
Người con gái mới mười chín tuổi
Khổ thân em mưa nắng đi về lủi thủi
Bóng chúng
đè lên
số phận
từng người
Em cúi đầu đi, mưa rơi
Những ngày ấy bao nhiêu thương xót
Tôi bước đi
không thấy phố
không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
trên mầu cờ đỏ
Đất nước khó khăn này
sao không thấm được vào Thơ?
Những tủ kính tôi dừng chân dán mũi
Các thứ hàng ế ẩm đợi người mua
Nhưng mà sách – hình như khá chạy
À quyển kia của bạn này – bạn ấy
Quyển của tôi tư lự, nét đăm đăm
Nó đang mơ: – nếu thêm cả miền Nam
Số độc giả sẽ tăng dăm bảy triệu
Tôi đã biến thành người định kiến
Tôi ước ao tất cả mọi người ta
Đòi thống nhất, phải đòi từ việc nhỏ
- từ cái ăn
cái ngủ
chuyện riêng tư
- từ suy nghĩ
nựng con
và tán vợ.
Trời mưa mãi lây dây đường phố
Về Bắc Nam tôi chưa viết chút nào
Tôi vẫn quyết Thơ phải khua bão gió
Nhưng hôm nay
tôi bỗng cúi đầu
Thơ nó đi đâu?
Sao những vần thơ
Chúng không chuyển, không xoay trời đất?
Sao chúng không chắp được cõi bờ?
Non nước sụt sùi mưa
Tôi muốn bỏ thơ
làm việc khác
Nhưng hôm nay tôi mê mải giữa trời mưa
Chút tài mọn
tôi làm thơ chính trị
Những ngày ấy bao nhiêu thương xót
Tôi bước đi
không thấy phố
không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
trên mầu cờ đỏ
Em ơi ! – ta ở phố Sinh Từ
Em đương có chuyện gì vui hử
À cái tin trên báo – Ừ em ạ
Chúng đang phải giậm chân đấm ngực!
Vượt qua đầu chúng nó
mọi thứ hàng
Những tấn gạo vẫn vượt đi
Những tấn thơ, tài liệu
Vẫn xéo qua đầu chúng, giới danh gì?
Ý muốn dân ta
là lực sĩ khổng lồ
Đè cổ chúng mà xoá nhoà giới tuyến
Dân ta muốn trời kia cũng chuyển
Nhưng Trời mưa to lụt cả gian nhà
Ôm tất cả che mưa cản gió
Con chó mực nghe mưa là rú
Tiếng nó lâu nay như khản em à
Thương nó nhỉ – nó gầy – lông xấu quá
Nó thiếu ăn – Hay là giết đi ư?
Nó đỡ khổ – Cả em đỡ khổ.
Em thương nó – Ừ thôi chuyện đó
Nhưng hôm nay anh mới nghĩ ra
Anh đã biến thành người định kiến
Những ngày ấy bao nhiêu thương xót
Tôi bước đi
không thấy phố
không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
trên mầu cờ đỏ
Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc
Tai bỗng nghe những tiếng thì thầm
Tiếng người nói xen tiếng người ầm ả.
- Chúng phá hiệp thương
Liệu có hiệp thương?
- Liệu có tuyển cử?
- Liệu tổng hay chẳng tổng?
- Liệu đúng kỳ? hay chậm vài năm?
Những câu hỏi đi giữa đời lỏng chỏng
Ôi! Xưa nay Người vẫn thiếu tin Người
Người vẫn thường kinh hoảng trước Tương lai
Người quên mất Mỹ là sư tử giấy.
Người vẫn vội – Người chưa kiên nhẫn mấy
Gan người ta chưa phải đúng công nông
Người chửa có dạ lim trí sắt
Người mở to đôi mắt mà trông!
A tiếng kèn vang
quân đội anh hùng
Biển súng
rừng lê
bạt ngàn con mắt
Quân ta đi tập trận về qua
Bóng cờ bay đỏ phố đỏ nhà…
Lá cờ ấy là cờ bách thắng
Đoàn quân kia muôn trận chẳng sờn gan
Bao tháng năm đói rét nhọc nhằn
Từ đất dấy lên
là quân vô sản
Mỗi bước đi lại một bước trưởng thành
Thắng được Chiến tranh
Giữ được Hoà bình
Giặc cũ chết – lại lo giặc mới
Đoàn quân ấy kẻ thù sợ hãi
Chưa bao giờ làm mất bụng dân yêu
Dân ta ơi! Chiêm nghiệm đã nhiều
Ai có Lý? Và ai có Lực?
Tôi biết rõ đoàn quân sung sức ấy
Biết nhân dân
Biết Tổ quốc Việt Nam này
Những con người từ ức triệu năm nay
Không biết nhục
Không biết thua
Không biết sợ
Hôm nay cả nước chỉ có một lời hô:
THỐNG NHẤT!
Chúng ta tin khẩu hiệu ta đòi
- Giả miền Nam
Tôi ngửa mặt lên trời
Kêu một tiếng – bỗng mầu trời rơi xuống
Vài ba tia máu đỏ rớt vào tôi
Dân ta ơi!
Những tiếng ta hò
Có sức đâm trời chảy máu
Không địch nào cưỡng nổi ý ta
Hiền hậu lắm – Nhưng mà đi cả quyết…
Hôm nay
Những vần thơ tôi viết
Đã giống lưỡi lê: đâm
Giống viên đạn: xé
Giống bão mưa: gào
Giống tình yêu: thắm
Tôi thường tin ở cuộc đấu tranh đây
Cả nước đã bầu tôi toàn phiếu
Tôi là người vô địch của lòng tin.
Sao bỗng đêm nay
tôi cúi mặt trước đèn?
Gian nhà vắng – chuột đêm nó rúc.
Biết bao nhiêu lo lắng hiện hình ra.
Hừ! Chúng nó đã biến thành tảng đá
chặn đường ta!
Em ơi thế ra
Người tin tưởng nhất như anh
vẫn có phút giây ngờ vực
Ai có lý? Và ai có lực?
Ai người tin? Ai kẻ ngã lòng tin?
Em ơi
Cuộc đấu tranh đây
cả nước
cả hoàn cầu
Cả mỗi người đêm ngủ vẫn lo âu
Có lẫn máu, có xót thương lao lực
Anh gạch xoá tranh thơ hằn nét mực
Bỗng mặt anh nhìn thấy! Lạ lùng thay!
Tảng đá chặn đường này!
Muôn triệu con người
muôn triệu bàn tay
Bật cả máu ẩy đá lăn xuống vực!
Anh đã nghĩ: Không có con đường nào khác
Đem ngã lòng ra
mà thống nhất Bắc Nam ư?
Không không!
Đem sức gân ra!
Em ơi em!
Cái này đỏ lắm, gọi là TIM
Anh cho cuộc đấu tranh giành THỐNG NHẤT.

(Bài thơ này lúc đầu lấy nhan đề là “Bài thơ thống nhất” và chỉ có đến đây là hết. Hoàng Cầm khuyên Trần Dần nên làm thêm một đoạn nữa để “giữ vững lập trường” mới có thể xuất bản được. Vì vậy nên mới có đoạn văn sau này và bài thơ cũng đổi nhan đề là “Nhất định thắng”.)

Hôm nay Trời đã thôi mưa thôi gió
Nắng lên đỏ phố đỏ nhà
Đỏ mọi buồng tim lá phổi
Em ơi đếm thử bao nhiêu ngày mưa!
Bây giờ
Em khuân đồ đạc ra phơi
Em nhớ đừng quên
Em khuân tất cả tim gan chúng mình phơi nắng hết
Em nhìn cao tít trời xanh
Dưới phố bao nhiêu cờ đỏ!
Hôm nay em đã có việc làm
Lương ít – Sống còn khó khăn
Cũng là may…
Chính phủ muôn lo nghìn lắng
Thực có tài đuổi bão xua mưa, không thì còn khổ
Em treo cờ đỏ đầu nhà
Lá cờ trừ ma
Xua được bóng đen chúng nó!
Những vết thương kháng chiến đỏ lòm
Đã mím miệng, lên da lên thịt
Tôi bỗng nhói ở nơi lồng ngực
Em ơi
Chúng đốt phố Ga-li-ê-ni
và nhiều phố khác
Anh đã sống ở Sài Gòn thuở trước
Cảnh miền Nam thành một góc tim anh
Chúng đốt tận đâu
mà lửa xém tim mình
Tim nó bị đen thui một nửa
Từ dạo ấy
mà em chẳng rõ.
- Em hãy đỡ cho anh khỏi ngã
Đứng đây
Một lúc!
Cờ bay
đỏ phố
đỏ nhà
Màu cờ kia là thang thuốc chữa cho anh
Ai thắng ai thua?
Ai có lý? Và ai có lực?
Em ơi
Hôm nay
trời xanh
xanh đục
Nắng lên
đỏ phố
đỏ cờ
Cuồn cuộn mít tinh
Những ngày thương xót đã lùi xa
Hoà bình
thêm vững
Anh bước đi
đã thấy phố
thấy nhà
Không thấy mưa sa
Chỉ thấy nắng lên
trên màu cờ đỏ.
Ta ở phố Sinh Từ
Em này
Hôm nay
đóng cửa
Cả nhà ra phố
mít tinh
Vung cờ đỏ
hát hò
vỡ phổi.
Hỡi những người
thành phố
thôn quê
Đói no lành rách
Người đang vui
Người sống đang buồn
Tất cả!
Ra đường !
Đi!
Hàng đoàn
hàng đoàn
Đòi lấy tương lai:
HOÀ BÌNH
THỐNG NHẤT
ĐỘC LẬP
DÂN CHỦ
Đó là tim
là máu đời mình
Là cơm áo! Là ái tình
Nhất định thắng!

(Trích Giai phẩm mùa Xuân 1956) (3)

Hãy đi mãi

Lời soạn giả: Ngụ ý của tác giả trong bài này là kêu gọi những người yêu chuộng tự do hãy tranh đấu đến cùng, bất chấp mọi sự đe dọa.

Khi trái đất còn đeo bom
trước ngực
thắt lưng
còn lựu đạn, bao xe;
Khi bạo lực còn khua
môi mõm mốc xì,
khẩu đại bác mỏi đừ
vẫn sủa;
Khi bóng tối
còn đau như máy chém
những lời ca đứt cổ
bị bêu đầu
Lũ đao phủ tập trung
hình cụ
mặt trời lên
phải mọc giữa rừng gươm;
Khi thế kỷ còn rung
chuông lừa bịp
Những canh gà
báo trượt rạng đông.
Con rắn lưỡi cắn người như cắn ngoé;
Khi xe tăng
chửa đi cấy đi cày,
như
một lũ tội nhân cần cải tạo;
Khi
con thò lò ngày đêm hai mặt đói meo,
còn quay tít
trên kiếp người hạ giá;
Những khi ấy
sẵn sàng
nổi giận,
loài người
còn tổ chức nhau đi.
Hãy đi mãi như người
cộng sản
có thể mỏi mọi điều
không mỏi: tấn công!
Phải làm lại chúng ta, tất cả -
không tha,
để đừng có một ai lần lữa,
khi nào
chân lý gọi tên đi.
Hãy đi mãi! –
dù mưa băm nát mặt
Sương rơi, hơn đạn xưa
đau đầu.
Dù bốn mùa
nhưng nhức nắng mưa
mùa bão tuyết thế chân
mùa gió độc.
Hãy đi mãi! –
dù mưa đông phục kích
hay
lửa hè đánh trộm sau lưng
Dù những đêm
buồn như sa mạc hoang vu
Đoàn du mục tủi thân
vùi bãi cát.

những ngày, mũi kiếm heo may
đi hành hạ
những tâm tư trằn trọc
Hãy đi mãi! –
Dù trên biển cả
sóng như người vật vã
khắp đại dương.
Dù những con tầu
bỗng nhớ bến bình yên.
còi rúc mãi những tiếng kêu rùng rợn
Hãy đi mãi! –
Dù khi cần thiết
người ta cần đói khát
vượt bình sa.
Ta bỗng có thể nhịn lâu
hơn cả lạc đà
đi
đến tận những kinh thành no ấm.
Hãy đi mãi! –
Dù có phen chót ngã
Hãy bó đôi chân lầm lỡ
mà đi.
Hãy tin chắc
rồi ta
xứng đáng
một vòng hoa đỏ nhất
phủ quan tài
Tôi chửa có khi nào quên táo bạo
chửa khi nào quên hát
quên đau.
Tôi yêu đất mẹ đây –
có cỏ hoa làm chứng
Tôi yêu chủ nghĩa này
cờ đỏ cãi cho tôii.
Nhưng
chẳng thể rúc kèn củ rích,
vác loa mồm kêu:
“Hiện tại rất thiên đường!”
Không!
Thiên đường chúng ta
là nối đuôi nhau
vô tận triệu Thiên đường.
Đi mãi
chẳng bao giờ thoả.
Tôi có thể mắc nhiều
tội lỗi,
chẳng bao giờ quá ngu đi
mắc tội: nằm ì
Han rỉ
khác gì cái chết?
Chết con tim chẳng còn dám
đau thương.
Chết khối óc
chẳng còn dám nghĩ!
Nếu
tôi chửa đến ngày thổ huyết
phổi tôi còn xâu xé mãi
lời thơ.
Tôi có thể mặc thây
ngàn tiếng chửi tục tằn
trừ tiếng chửi: -
“Sống không sáng tạo!”
Nếu tôi bị gió sương
đầu độc,
một hôm nào ngã xuống
giữa đường đi
tôi sẽ ngã
như người lính trận
hai bàn tay chết cứng
vẫn ôm cờ.
Nếu vầng nhật
thui tôi làm bụi,
nắng oan khiên đốt lại
làm tro.
Bụi tôi sẽ
cùng tro –
vẫn sống
vẫn chia nhau gió bấc
xẻ mưa phùn.
Nếu dĩ vãng đè trên lưng
hiện tại
nặng nề
hàng tạ đắng cay,
tôi sẽ nổ tung
ngàn kho đạn tiếng kêu
tan xác pháo
mọi cái gì cũ rích,
Nếu
hàm răng chuột nhắt của gia đình
gậm nhấm
cả tình yêu cùng dự định
tôi sẽ biến thân tôi thành
thép nguội
làm thất bại
mọi thứ rũa đã quen rũa người
tròn trặn quá hòn bi.
Ở trong tôi
nếu còn sức mạnh gì
chính là sức những ai
nghèo khổ nhất.
những ai
lao lực nhất –
địa cầu ta.
Tôi vẫn nâng chiếc đầu lâu
nặng nề sáng tạo
như
nâng một viễn vọng đài
trên cuộc sống hàng ngày
nhí nhách
Tôi vẫn cháy
ngọn hải đăng con mắt
ở trong biển sống
từng đêm.
Tôi vẫn đóng những câu thơ
như người thợ
đóng tàu,
chở khách
đi về phía trước,
nói
loài người –
đã biết sống chung nhau.
Nói
tất cả -
chẳng còn ai bần tiện,
chẳng còn lo
cơm áo
nợ nần

(Trích báo Văn số 28, xuất bản ngày 15-11-1957)

Phùng Quán

Phùng Quán, năm nay 25 tuổi, là một thanh niên nghèo. Trước đi bộ đội, sau được giới thiệu về trường Dự bị Đại học để học thêm. Về Hà Nội anh lại tiếp tục công tác văn nghệ trong quân đội.

Anh viết văn theo lối hiện thực xã hội và được coi là Triệu Tử Long trong nhóm đối lập. Những bài thơ của anh được dư luận gọi là những “bom nguyên tử”.

Chúng tôi trích đăng bài “Chống tham ô lãng phi” đăng trong Giai phẩm mùa Thu, tháng 10-1956 và bài “Lời mẹ dặn” đăng trong tờ Văn, tháng 9-1957.

Anh không đòi hỏi gì khác hơn là quét sạch những rác rưởi trong xã hội và yêu cầu các nhà văn phải trung thành với tâm hồn của mình: “Yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét“.(4) Anh bị khủng bố chỉ vì dám nói như vậy. Phùng Quán bị lôi đi chỉnh huấn và phải viết bài thú tội. Trong bản này nhà thơ trẻ tuổi thú nhận rằng sau khi nhóm Nhân văn-Giai phẩm bị giải tán thì suốt ngày chỉ chơi với một con bú dù. Các bạn hỏi tại sao thích nuôi bú dù, Phùng Quán trả lời: “Chơi với người chán lắm rồi, thành phải chơi với bú dù”.

Một chế độ đã đào luyện cho thanh niên một tâm trạng như vậy đủ làm cho chúng ta suy nghĩ về chân giá trị của chế độ đó vậy.

Thơ cái chổi – Chống tham ô lãng phí

Ta đã đi qua
Những xóm làng chiến tranh vừa chấm dứt:

Tôi đã gặp
Những bà mẹ già quấn giẻ rách
Da đen như củi cháy giữa rừng
Kéo dây thép gai tay máu chảy ròng
Bởi đồn giặc trồng ngô tỉa lúa.

Tôi đã gặp
Những cô gái trồng bông
Hai mươi? Ba mươi?
Tôi không nhìn ra nữa.
Mồ hôi sôi trên lưng
Mặt trời như mỏ hàn xì lửa
Đốt đôi vai cháy hồng.

Tôi đã đi qua
Nhiều xóm làng vùng Kiến An Hồng Quảng.
Nước biển dâng lên ướp muối các cánh đồng
Hai mùa lúa không có một bông.
Phân người toàn vỏ khoai tím đỏ.

Tôi đã gặp
Những đứa em còm cõi
Lên năm lên sáu tuổi đầu.
Cơm thòm thèm độn cám với rau
Mới tháng ba đã ngong mong đến Tết
Để được ăn cơm no có thịt
Một bữa một ngày…

Tôi đã đi
Giữa Hà Nội những đêm mưa lất phất
Đường mùa đông nước nhọn tựa dao găm

Tôi đã gặp
Chị em công nhân đổ thùng
Yếm rách chân trần
Quần xắn quá gối
Run lẩy bẩy chui vào hầm xia tối
Vác những thùng phân
Ta thuê một vạn một thùng
Có người không dám vác
Các chị suốt đêm quần quật
Sáng ngày vừa đủ nuôi con.

Một triệu bài thơ không nói hết nhọc nhằn
Của quần chúng anh hùng lao động
Đang buộc bụng thắt lưng để sống
Để xây dựng kiến thiết nước nhà
Để yêu thương nuôi nấng chúng ta.

Vì lẽ đó
Tôi quyết tâm rời bỏ
Những vườn thơ đầy bướm đầy hoa
Những vần thơ xanh đỏ sáng loà
Như trang giấy kim
Dán lên quân trang
Đẫm mồ hôi và máu tươi của cách mạng
Như công nhân
Tôi muốn đúc thơ thành đạn
Bắn vào tim những kẻ làm càn
Những con người tiêu máu của dân
Như tiêu giấy bạc giả!
Các đồng chí ơi!
Tôi không nói quá
Về Nam Định mà xem.
Đài xem lễ(5) họ cao hứng dựng lên
Nửa chừng thiếu tiền bỏ dở.
Mười một triệu đồng dầm mưa dãi gió
Mồ hôi máu đỏ mốc rêu.

Những con chó sói lãng phí quan liêu
Nhe răng cắn rứt thịt da cách mạng!

Nghe gió mùa đông thâu đêm suốt sáng
Nhớ “đài xem lễ” tôi xót bao nhiêu
Đất nước chúng ta không đếm hết người nghèo
Đêm nay thiếu cơm thiếu áo.
Những tên quan liêu Đảng đã phê bình trên báo
Và bao nhiêu tên chưa ai biết ai hay
Lớn, bé, nhỏ, to, cao, thấp, béo, gày
Khắp mặt đất
Như ruồi nhặng
Ở đâu cũng có!
Đảng muốn phê bình tất cả
Phải một nghìn số báo Nhân dân!

Tôi đã đến thăm nhiều hố xí cầu tiêu
Giấy trắng nửa mặt, xé toang chùi đít
Những người này không bao giờ họ biết
Ở làng quê con cái nhân dân ta
Rọc lá chuối non đóng vở học i-tờ!

Tôi đã đến dự những phiên toà
Họp suốt ngày luận bàn xử tội
Những con chuột mặc áo quần bộ đội
Đục cơm khoét áo chúng ta
Ăn cắp máu dân đổi chác đồng hồ
Kim phút kim giờ lép gầy như bụng đói
Những mẹ già, em trai, chị gái
Còng lưng, rỏ máu lấn vành đai!

Trung ương Đảng ơi!
Lũ chuột mặt người chưa hết
Đảng lập đội quân trừ diệt
- Có tôi!
đi trong hàng ngũ tiền phong.

(Trích Giai phẩm mùa Thu tập II 1956) (6)

Lời mẹ dặn

Tôi mồ côi cha năm hai tuổi
Mẹ tôi thương con không lấy chồng
Trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải
Nuôi tôi đến ngày lớn khôn.

Hai mươi năm qua tôi vẫn nhớ
Ngày ấy tôi mới lên năm
Có lần tôi nói dối mẹ
Hôm sau tưởng phải ăn đòn.

Nhưng không, mẹ tôi chỉ buồn
Ôm tôi hôn lên mái tóc
- Con ơi –
trước khi nhắm mắt
Cha con dặn con suốt đời
Phải làm một người chân thật.

Mẹ ơi, chân thật là gì?
Mẹ tôi hôn lên đôi mắt
Con ơi một người chân thật
Thấy vui muốn cười cứ cười
Thấy buồn muốn khóc là khóc.
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao doạ giết

Cũng không nói ghét thành yêu.

Từ đấy người lớn hỏi tôi:
- Bé ơi, Bé yêu ai nhất?
Nhớ lời mẹ tôi trả lời:
- Bé yêu những người chân thật.
Người lớn nhìn tôi không tin
Cho tôi là con vẹt nhỏ
Nhưng không! Những lời dặn đó
In vào trí óc của tôi
Như trang giấy trắng tuyệt vời
In lên vết son đỏ chói
Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi
Đứa bé mồ côi thành nhà văn
Nhưng lời mẹ dặn thuở lên năm
Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ.
Người làm xiếc đi dây rất khó
Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn
Đi trọn đời trên con đường chân thật.
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao doạ giết
Cũng không nói ghét thành yêu.
Tôi muốn làm nhà văn chân thật
chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

(Trích báo Văn số 21 ra ngày 27-9-1957)

(1)Trần Dần sinh năm Bính Dần 1926 (talawas).

(2)Sau phần giới thiệu Trần Dần, trong nguyên bản có hình chụp bìa tập Giai phẩm mùa Xuân 1956, trong đó có đăng bài “Nhất định thắng” của Trần Dần (talawas).

(3)Xem nguyên văn bài thơ gồm 9 đoạn trong Giai phẩm mùa Xuân 1956. Bản đăng trong cuốn sách này có lược bỏ một số câu và nguyên đoạn 6 (talawas).

(4)Trong cuốn Bác sĩ Zhivago, Boris Pasternak có viết: “Muốn chiều cộng sản thì dể lắm. Cứ nói là yêu cái mình ghét, và cứ nói là ghét cái mình yêu”.

(5)Đài xem lễ do ủy Ban thành phố Nam Định dựng lên để các đại biểu đứng xem lễ. Việc này đã bị phê bình ở báo Nhân dân.

(6)Bài thơ còn có một đoạn cuối bị lược bỏ trong sách này. Xem nguyên văn trong Giai phẩm mùa Thu tập II 1956 (talawas)

Nguồn: Hoàng Văn Chí, Trăm hoa đua nở trên đất Bắc. Mặt trận Bảo vệ Tự do Văn hoá xuất bản, Sài Gòn 1959. 318 trang. Nguyệt san Ngày về tái bản, Hướng Việt phát hành. In tại nhà in Lion Press, 3018 Akron Ct, Denver Co. 80231. Bản điện tử do talawas thực hiện.

DƯƠNG NGUYỆT ÁNH

 

LTS : Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh không ai trong cộng đồng chúng ta không biết,biết nhiều về bà không phải chỉ là một khoa học gia ,biết và tôn trọng bà vì những cuộc nói chuyện của bà ,một người có một nhận thức đúng đắn, một người có một lập trường thật vững chắc ,những buổi nói chuyện của bà thật đáng để cho tuổi trẻ suy nghĩ cũng như học hỏi .

 Tại tiểu bang Washington nói riêng, một số tuổi trẻ cũng tham gia vào cộng đồng,cũng hô hào làm từ thiện,phát huy văn hóa Việt … Nhưng tiếc thay về ý thức chính trị không có chút nào,những hoạt động của họ nhằm theo đuôi chính phủ Mỹ,những hoạt động đó chỉ đem lợi ích cho cá nhân họ,nếu nhìn sâu xa hơn thì những hoạt động đó rất có hại cho cộng cuộc đấu tranh của người Quốc Gia chân chính. Thật tiềc cho tuổi trẻ được may mắn sống trên một đất nước Tự Do ,được hưởng quyền Dân Chủ… Thế nhưng nhận thức không đúng để đi đến những hành động quá sai .( Bia Miệng đẵ đưa ra cộng đồng trước đây)

 Mời quý vị xem video dưới đây để nghe Khoa học gia DNA nói chuyện với cộng đồng Tự Do Úc ChâU về việc làm TỪ THIỆN tại VN.

QUAN ĐIỂM CỦA B.M VỀ VIỆC ÔNG L.T CHỐNG VĂN CÔNG VC ĐÀM VĨNH HƯNG

Kính mời quý vị bấm vào file phía dưới  để nghe Hội Thoại về việc ông Lý Tống chống văn công Việt Cộng ĐVH và chuyện cộng đồng Seattle.


BỊT MIỆNG NẠN NHÂN

Thông điệp từ cuộc sống dòng chính của Hoa Kỳ là “Hãy quên đi cuộc chiến Việt Nam”. Thế hệ trẻ người Mỹ gốc Việt học hỏi trong nhà trường và giao tiếp thường xuyên với người bản địa nên nhập tâm câu “thần chú” này. Một ông bác sĩ tâm thần người Do Thái nói với người Việt đồng nghiệp là “chiến tranh đã qua 35 năm rồi mà sao tụi bay vẫn còn nói tới nói lui hoài.” Chị bạn tôi trả lời “chừng nào người Do Thái các ông không còn nhắc nhở đến Holocaust thì chúng tôi sẽ ngừng nói về cuộc chiến Việt Nam” (when the Jews no longer talk about the Holocaust then we’ll stop talking about the Vietnam War). Một người Mễ đồng nghiệp khác cũng nói tương tự với chị và chị đã trả lời “khi nào ông nói với thân chủ là nạn nhân lạm dụng tình dục hãy câm lặng và sống cuộc đời phía trước thì lúc đó chúng tôi sẽ không nói đến cộng sản đã đối xử với đồng bào chúng tôi như thế nào” (until you tell your patient, a victim of sexual abuse, shut up, move on, then we will not talk about what they have done to our people.)

Vi Nhân

Một trong những phương pháp hữu hiệu để kẻ ác che giấu tội phạm họ là bịt miệng nạn nhân. Khi không thể bịt miệng nạn nhân được thì kẻ ác sẽ dùng biện pháp tâm lý để trấn áp tinh thần, làm cho nạn nhân có cảm giác mình nhúng tay một phần trong tội ác. Sau đó, nạn nhân vì nhục nhã mà không dám lên tiếng tố cáo. Nếu cả hai biện pháp trên không có tác dụng thì kẻ ác sẽ sử dụng mọi phương tiện, dùng địa vị, quyền lực, tiền bạc để một mặt bao biện và đánh bóng nhân thân và chối bỏ tội ác, còn mặt kia thì bôi nhọ nạn nhân là người vu khống xấu xa.

Khi việc bịt miệng đã xảy ra thì nào có ai biết được tội ác và nạn nhân trở thành những bóng ma vất vưởng ở trần gian. Các nạn nhận bị cưỡng bức tình dục trong gia đình thường sống vất vưởng với ám ảnh mình là tội phạm nhiều năm, có khi suốt cuộc đời. Chỉ khi họ có thể nào nói ra hết, nhận diện kẻ tội phạm, và từ bi với cả kẻ tội phạm lẫn với mình thì họ mới có thể bắt đầu tẩy rửa vết thương lòng và hồi phục lại.

Mấy ai biết được có một Trương Văn Sương đã ở trong lao tù, biệt giam của cộng sản Việt Nam hơn 33 năm. Khi ông được tại ngoại tạm thời vì lý do sức khỏe, có cơ hội lên tiếng thì người ta mới ngỡ ngàng biết rằng ông đã sống/chết trong địa ngục lao tù cộng sản như thế nào. Ông đã chịu sự đày đọa này không vì việc gì khác hơn là không nhận tội, và làm đúng phận sự của một công dân bảo vệ tự do trước kẻ gây tội ác với đồng bào ông.

Những nạn nhân của tội ác cộng sản thường luôn luôn bị bịt miệng. Những nạn nhân cộng sản người Nga thời Liên bang Xô-viết đã bị bịt miệng gần 100 năm (1918-2010) đến nay mới được Tổng thống Nga lên tiếng xác nhận là tội ác của Stalin. Khoảng 22.000 sĩ quan ưu tú Ba Lan đã bị tàn sát tập thể tại rừng Katyn bởi mật vụ Nga và bị bịt miệng đúng 70 năm. Chỉ mới đây, trong năm nay, chính phủ Nga mới thừa nhận tội ác này.

Tương tự, gần 50.000 người dân Việt vô tội bị giết và khoảng 500.000 chết lần mòn trong các trại cải tạo lao động hoặc vì đói trong cuộc Cải cách Ruộng đất năm 1953-1956. Sau 30-4-1975, 65.000 công dân miền Nam bị xử tử. Một triệu quân nhân, nhân viên bị bắt giam cầm trong các trại lao động cải tạo và 165.000 người chết trong tù. Rồi kế đó thì lại gần một triệu người vượt biên tìm được bến bờ tự do và 250.000 bỏ mình trên đường tìm tự do và trên biển cả. Một tập thể người Việt Nam tỵ nạn, nạn nhân cộng sản, đã bị bịt miệng đúng 35 năm. Cho đến nay chính quyền cộng sản Việt Nam chưa nhận tội. Và ký ức tập thể về tội ác đó đã dần dà bị tẩy xoá bởi những hoạt động trong và ngoài nước Việt Nam qua Nghị quyết 36.

Nạn nhân càng bị bịt miệng thì họ tự nhiên càng muốn được nói ra hết những uẩn ức trong lòng. Bằng cách này hay cách khác họ muốn kẻ phạm tội thú nhận tội. Khi không được bày tỏ bằng ngôn từ thì họ mong được lên tiếng qua cử chỉ hoặc dùng “ngôn ngữ” chợ búa. Một phóng viên người Iraq ném giày vào Tổng thống Bush để phản đối Hoa Kỳ đóng quân trên đất nước ông. Một bà dân oan đi kiện tụt quần tại văn phòng tiếp dân của Trung ương Đảng CSVN để phản kháng sự hiếp áp của công an nơi thưa kiện và việc chiếm đất ở địa phương. Bà thách thức bạo quyền thà cứ “hiếp” bà trước mặt công chúng còn hơn là bản thân và gia đình bị công an địa phương hà hiếp lén lút ở góc tối. Một gia đình ở Bắc Giang có con chết oan ức vì bị công an đánh, buộc phải đem quan tài diễu hành trên phố để đòi lại “công bằng cho con trai tôi”. Còn thêm bao nạn nhân chết tương tự dưới tay công an cộng sản như ông Nguyễn Năm (3-7-10), anh Nguyễn Phú Trung (8-6-10), Nguyễn Quốc Bảo (22-1-10), nhưng đa số tất cả đã bị bịt miệng.

Ông Lý Tống xịt hơi cay vào mặt ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng mà ông cho là một cán bộ văn hoá đang ru ngủ và tẩy xoá tội ác CSVN trong cộng đồng nạn nhân (tỵ nạn) cộng sản. Những hành vi trên được xem là “tục tằn”, “thô bạo”, “thiếu văn hóa”. Cách ứng xử có văn hoá giữa hai đối tượng chỉ có thể xảy ra khi hai bên có quyền lực tương xứng và cơ chế đối thoại phân minh. Một khi “miệng nhà quan có gang có thép” thì những kẻ bị hiếp đáp chỉ biết dùng “đồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm” để đáp lại. Nếu một bên có quyền lực tuyệt đối, có quyền sinh sát, nắm tất cả các cơ chế hành pháp, lập pháp, tư pháp – như nhà nước Việt Nam đang nằm trong tay Đảng CSVN – để áp đảo tiếng nói của đối tượng thì mọi việc cũng như “con kiến mà kiện củ khoai”. Các luật sư còn bị họ vu khống, bỏ tù, cưỡng chế, quấy nhiễu chỉ vì dám lên tiếng bảo vệ công lý thì nhằm nhò gì đám dân đen bé cổ thấp họng. Kẻ bị đàn áp không có một cách thức nào khác hơn để lên tiếng. Những hình thức ngôn ngữ dung tục này là phản xạ hoàn toàn hợp lý cho những người nạn nhân bị ức hiếp, đàn áp.

Thế nào là có văn hoá? Ai định đoạt tiêu chuẩn văn hoá? Văn hóa “xin-cho” chăng? Nạn nhân lại phải đi xin công lý ư và chờ cường quyền cho lại nhân phẩm à? Những phê phán trên vị trí đặc ân, quyền lực và những so sánh khập khiễng của một số cá nhân trong sự kiện Lý Tống – Đàm Vĩnh Hưng này đã cho thấy chứng mất trí nhớ tập thể trong tâm thức của cộng đồng nạn nhân (tỵ nạn) cộng sản ở nhiều tầng lớp và thế hệ.

Kẻ thống trị và người hiếp áp luôn sử dụng và áp đặt những cơ chế để nạn nhân mất trí nhớ/quên đi tội ác mà kẻ bạo quyền đã và sẽ gây ra. Một thí dụ điển hình là có nhiều người từng là nạn nhân lạm dụng tình dục lại trở thành người hiếp áp trong chu kỳ kế. Một trong những nhân tố gây ra điều đó là vì họ không có cơ hội lên tiếng tố cáo kẻ phạm tội và tự mình hay bị ảnh hưởng một cách vô thức trạng thái đồng hoá cá nhân mình với bản thân tội phạm. Khi một nạn nhân bị mất trí nhớ về tội phạm thì họ sẽ tự chối mình là nạn nhân và có lúc quay trở lại tấn công những ai vẫn tiếp tục cố gắng lên tiếng NẾU còn nhớ bản thân họ chính là nạn nhân.

Ta đã thấy dàn đồng xướng khởi từ ngoài vào trong, từ xa đến gần, từ sơ đến thân bắt đầu bôi nhọ nạn nhân. Lý Tống (một trong tất cả người tỵ nạn cộng sản hải ngoại) là nạn nhân cộng sản đã bị gài khung là “bất lương”, “khủng bố”[i], “côn đồ”, “ngớ ngẩn, tai hại”[ii], “kiếm tiền”, và “phi văn hoá Mỹ”[iii] … Gài khung (framing[iv]) là một phương pháp rất hiệu quả để hướng dẫn dư luận, định hướng kết cuộc. Khi đã được cho vào khung thì mọi đối thoại đều lẩn quẩn trong khung với sức thuyết phục hấp dẫn, hầu dẫn đến một kết quả có chủ ý. Để có một nhận định tỉnh táo trước vô số tin tức tràn lan nhiễu động thì việc xem xét người viết định khung vấn đề như thế nào rất quan trọng. Nếu không chúng ta sẽ bị dẫn dắt vào ngụy biện và đưa ra một kết luận phán đoán sai lầm.

Ngay sau sự việc xảy ra, lập tức có một cuộc họp báo được thực hiện chóng vánh để ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng có cơ hội lên tiếng và so sánh: “Đàm Vĩnh Hưng đặt vấn đề là có rất nhiều ca sĩ hải ngọai từng hát những bài ca ngợi vinh quang, những chiến công hào hùng của những người ‘trước đây’ (Việt Nam Cộng hòa), ‘nhưng những ca sĩ đó về Việt Nam hát thì bên đó đâu có ai chống đối’”. Rõ ràng một sự so sánh khập khiễng trong tương quan quyền lực. Các ca sĩ hải ngoại về Việt Nam hát với tư cách cá nhân. Mọi bài hát đều phải được “duyệt” dưới quyền kiểm soát của Ban Văn hoá Tư tưởng. Vui thì cho hát, cho visa ngắn hạn, còn không vui thì tống cổ ra khỏi nước một cách “nhẹ nhàng”[v]. Muốn được “vui vẻ” thì phải nhắm mắt và ngậm miệng, chớ mà “phát biểu lung tung”. Đàm Vĩnh Hưng đi lưu diễn ở hải ngoại với tư cách cá nhân ca sĩ hay là cán bộ văn hoá? Cái nhập nhằng (và cái gian manh) ở đây là thế. Chẳng lẽ ở Việt Nam thì Đàm Vĩnh Hưng tham gia Thành đoàn TP HCM, khi nhót lên máy bay sang nước ngoài trình diễn thì bỏ lại căn cước đó ở nhà? Tóm lại, Đàm Vĩnh Hưng được cả bộ máy quyền lực (ủy ban nước ngoài và các cơ quan truyền thông) đứng phía sau/trước “tiền hô, hậu ủng”, nào ai đả động được. Những anh chạy màn và những kẻ cầm cờ đã phát biểu trước dọn đường cho cuộc gài khung bôi nhọ. Những người chân chưa sạch mùi phèn đã dùng luận điệu che bôi, dè bỉu “phi văn hoá Mỹ”. Đáng thương thay cho họ là kẻ “mất trí nhớ”.

Lại có người phát biểu quan điểm là “Giờ là lúc ngưng đánh đấm cuộc chiến đã hạ hồi từ lâu”. Cuộc chiến đã chấm dứt vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Phe chiến thắng, phía bại trận đã rõ ràng. Tuy nhiên, anh ta đã không (muốn) hiểu rằng cái diễn ngôn “tị nạn cộng sản” và diễn ngôn “chống cộng” là diễn ngôn thuộc về nạn nhân. Chống cộng ở đây nằm trong nội hàm lên tiếng tố cáo tội ác gây ra bởi Đảng CSVN đối với các nạn nhân ấy và cho cả dân tộc đang phải tiếp tục cam chịu. Nạn nhân sẽ lên tiếng cho đến khi nào kẻ gây ra tội ác nhận tội. Chừng nào nào kẻ gây ra tội ác vẫn chối và còn tiếp tục bịt miệng nạn nhân, gây thêm tội ác thì chừng đó nạn nhân vẫn tìm mọi cách mọi phương tiện kêu gào đòi lại công lý và nhân phẩm cho họ. Họ không thể để cho ký ức tập thể bị xóa nhòa và biến dạng để trở thành chứng lãng quên. Ba mươi lăm năm không phải là ngắn nhưng cũng chưa phải là dài để cho thế hệ thứ nhất bị chứng mất trí nhớ tập thể. Thế nhưng thế hệ 1.5 và thứ 2 đã và đang bị điều kiện môi trường dòng chính và tuyên vận cộng sản tìm chỗ yếu, kẽ hở, để xoá nhoà ký ức tị nạn của họ.

Hoa Kỳ tất nhiên có mặc cảm nhục nhã với cuộc chiến Việt Nam. Vì thế, họ muốn quên và cố gắng vượt qua mối nhục đó: Hoa Kỳ đã gỡ gạc phần nào, bắt đầu từ khi có sự kiện bức tường Bá Linh bị sụp đổ và khối cộng sản Đông Âu, Liên Xô tan rã. Họ không muốn nhắc, nhớ đến vết nhơ đó. Họ muốn xoá nhoà lịch sử thua trận và không muốn bị nhắc nhở bởi những người “đồng minh” cũ đang tỵ nạn trên đất nước này. Hoa Kỳ bình thường hoá quan hệ ngoại giao và khuyến khích trao đổi thương mại giữa hai quốc gia. Cộng vào đó là những giao lưu văn hoá, hoạt động thiện nguyện, và du lịch giúp Hoa Kỳ viết lại trang sử chiến bại thành chiến thắng trong tư thế tư bản thống lĩnh thị trường Việt Nam. Thông điệp từ cuộc sống dòng chính của Hoa Kỳ là “Hãy quên đi cuộc chiến Việt Nam”. Thế hệ trẻ người Mỹ gốc Việt học hỏi trong nhà trường và giao tiếp thường xuyên với người bản địa nên nhập tâm câu “thần chú” này. Một ông bác sĩ tâm thần người Do Thái nói với người Việt đồng nghiệp là “chiến tranh đã qua 35 năm rồi mà sao tụi bay vẫn còn nói tới nói lui hoài.” Chị bạn tôi trả lời “chừng nào người Do Thái các ông không còn nhắc nhở đến Holocaust thì chúng tôi sẽ ngừng nói về cuộc chiến Việt Nam” (when the Jews no longer talk about the Holocaust then we’ll stop talking about the Vietnam War). Một người Mễ đồng nghiệp khác cũng nói tương tự với chị và chị đã trả lời “khi nào ông nói với thân chủ là nạn nhân lạm dụng tình dục hãy câm lặng và sống cuộc đời phía trước thì lúc đó chúng tôi sẽ không nói đến cộng sản đã đối xử với đồng bào chúng tôi như thế nào” (until you tell your patient, a victim of sexual abuse, shut up, move on, then we will not talk about what they have done to our people.)

Đã đến lúc nạn nhân được lên tiếng và kẻ tội phạm thú tội.

Vi Nhân

[i] Báo CAND online 25/7/2010 gắn khung “ … vụ Lý Tống tấn công khủng bố ca sỹ Đàm Vĩnh Hưng (Mr Đàm)”

[ii] Henry Nguyễn Hữu Liêm, luật sư và giảng viên dạy Triết tại San Jose City College, California “Hành động của Lý Tống thật là ngớ ngẩn, tai hại và cần phải được trừng trị bằng pháp luật Mỹ”.

[iii] BBC đã phỏng vấn ký giả Đỗ Dzũng từ báo Người Việt ở Nam California “dùng bất kỳ hình thức nào gọi là phi văn hóa Mỹ thì đều không thể chấp nhận được”.

[iv] Framing, a term used in media studies, sociology and psychology, refers to the social construction of a social phenomenon bymass media sources or specific political or social movements or organizations. It is an inevitable process of selective influence over the individual’s perception of the meanings attributed to words or phrases. A frame defines the packaging of an element of rhetoric in such a way as to encourage certain interpretations and to discourage others.

[v] Theo lời ông Bill Hayton, phóng viên cho BBC tại Việt Nam năm 2006 và 2007 cho đến khi ông bị rút hộ chiếu vì ông đã tường thuật về những người đối kháng, hiện ở Hà Nội, những người này tham dự cuộc chiến chống Mỹ cảm thấy bị bó trong nỗi giận dữ không có tiếng nói (According to Bill Hayton who in 2006 and 2007 reported for the BBC from Vietnam until his visa was withdrawn for reporting on dissidents, nowadays in Hanoi many Vietnamese who fought the war find themselves trapped in voiceless rage.) Bill Hayton là tác giả quyển sách có tựa đề “Vietnam: Rising Dragon”

Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm
Tu Thân, Tề Gia, Trị Quốc, Bình Thiên Hạ
Khai Dân Trí, Chấn Dân Khí, Hậu Dân Sinh

BIA MIỆNG GẶP GỞ DÂN BIỂU CAO .Q. ÁNH

Chúng tôi gởỉ đến quý độc giả audio của buổi gặp gở giửa giới trẻ ở Seattle với dân biểu Cao Quang Ánh cùng tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng ( cứu người vượt biển). Phần audio này người nói đầu tiên là tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng ,người kế tiếp là ý kiến của ông Nguyễn Quốc Hùng ( trong nhóm chủ trương cbáo B.M) người thứ ba là dân biểu Cao Q.Ánh. Bài tường trình  sẽ được đăng tải để quý độc giả theo dỏi buổi sinh hoạt này. Bấm vào file phía dưới để nghe.


TIẾP THEO PHẦN I B.M PHẢN BIỆN VỀ “Chống cộng vì hận thù ở quá khứ…”

PHỎNG VẤN DÂN BIỂU CQA PHẦN  II (Liên tục với phần I ở trên)

DÂN BIỂU CAO QUANG ÁNH KHÔNG TRẢ LỜI ĐƯỢC CÂU HỎI CỦA B.M

PHỎNG VẤN DÂN BIỂU CQA PHẦN I( vì quá 10 phút nên chúng tôi chia làm hai để post lên youtube.Chúng tôi sẽ có bài tường trình đầy đủ về cuộc gặp gở của dân biểu CQA với giới trẻ ở Seattle/WA ngày 1 tháng 8 năm 2010 vừa qua )

VOA: 30 Tháng Tư và Hòa giải dân tộc (Phỏng vấn nhà thơ Trần Trung Đạo nhân dịp 30-4-2010)

 

Tư năm nay, cũng như những tháng Tư của hơn 30 năm qua, giới hữu trách Việt Nam đã tưng bừng tổ chức ngày kỷ niệm mà họ gọi là “chiến thắng vĩ đại ngày 30-4-1975.”

Họ cũng không quên nhắc tới sự kiện mà họ mô tả là “ở một số nơi trên thế giới, đặc biệt là ở Mỹ, một số nhóm phản động cực đoan thường tổ chức ‘ngày quốc hận’ để hoài niệm một chế độ tàn bạo ở miền nam Việt Nam đã sụp đổ, hoài niệm thời kỳ đất nước bị chia cắt, tìm cách bôi nhọ những gì tốt đẹp đang diễn ra ở Việt Nam”. (Quân Đội Nhân Dân, 18-04-2010)

Trong khi đó, một số văn nghệ sĩ ở Việt Nam mới đây đã cho đăng tải trên mạng internet những bài viết kêu gọi mọi người hãy có một cái nhìn mới về biến cố lịch sử này để tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc hòa giải dân tộc, nổi bật là bài “Tùy Bút Tháng Tư” của nhà văn Vũ Ngọc Tiến được phổ biến rộng rãi trên mạng.

Ban Việt Ngữ VOA đã tiếp xúc với nhà thơ Trần Trung Đạo, một blogger ở Mỹ (trantrungdao.com) có nhiều bài bình luận về văn học và chính trị Việt Nam được nhiều người ưa thích, để tìm hiểu thêm về vấn đề đáng chú ý này. Mời quí vị theo dõi cuộc phỏng vấn do Duy Ái thực hiện sau đây.

VOA: Thưa anh Trần Trung Đạo, là người theo dõi sát tình hình Việt Nam, đặc biệt trong các lãnh vực văn hóa xã hội, chắc anh cũng biết là trong vài tuần nay, các tờ báo do nhà nước kiểm soát đã cho đăng nhiều bài viết dưới dạng “nhìn lại 35 năm” và hô hào cho việc “hòa hợp dân tộc, hàn gắn lòng người”. Trước hết, xin anh chia sẻ với thính giả và độc giả đài Tiếng Nói Hoa Kỳ quan điểm của anh về “hòa giải hòa hợp dân tộc”?

Trần Trung Đạo: Tuần trước tôi có dịp đến thăm viện bảo tàng lịch sử Mỹ tại Washington DC, trong đó có một khu dành riêng cho tổng thống thứ 16 của Mỹ, Tổng Thống Abraham Lincoln. Ngay trước cổng của khu tưởng niệm TT Lincoln, có treo một tấm bảng nhỏ, trong đó ghi một câu trong Tân Ước mà ông yêu thích và thường hay trích dẫn “A house divided against itself cannot stand”, nghĩa là “Một căn nhà phân hóa chống lại chính nó, căn nhà đó không thể đứng vững”.

Tổng Thống Lincoln quan niệm tinh thần đoàn kết, hòa giải giữa các thành phần quốc gia là điều kiện quyết định giúp quốc gia vượt qua những khó khăn, cũng như dẫn đến sự vững mạnh, thăng tiến lâu dài. Sự phát triển vượt bực của Hoa Kỳ, từ thuộc địa của Anh trở thành cường quốc hàng đầu thế giới đã chứng minh câu Tổng Thống Lincoln trích dẫn là một chân lý. Chân lý đó cũng đã được thử nghiệm và xác định tại nhiều quốc gia khác như Nam Phi, Cộng Hòa Đức v.v..

Tổng thống Lincoln nhấn mạnh đến tinh thần hòa giải trong diễn văn nhậm chức tổng thống nhiệm kỳ 2, 1865, nghĩa là sau khi quân đội miền bắc đã kết thúc cuộc nội chiến bằng chiến thắng, và TT Nelson Mandela cũng chỉ lập Ủy Ban Sự Thật Và Hòa Giải Quốc Gia sau khi đã đắc cử Tổng Thống Cộng Hòa Nam Phi. Nếu TT Lincoln bỏ tù hết các cấp sĩ quan, viên chức chính quyền miền nam, chắc chắn quân đội của tướng Robert Lee đã không buông súng dễ dàng, và nước Mỹ có thể không có ngày hôm nay. Tương tự, nếu TT Nelson Mandela bắt thiểu số da trắng phải trả giá bằng những cực hình đầy đọa giống như dân da đen đã từng chịu đựng dưới ách phân biệt chủng tộc Nam Phi thì hòa hợp hòa giải đã không đến cho quốc gia này.

Từ những bài học quý giá đó, tôi quan niệm hòa giải không chỉ là một tình cảm mà phải dựa trên các nền tảng chính trị, kinh tế, xã hội cần thiết, và các nền tảng đó chính là sự thật, tự do, dân chủ và bình đẳng giữa những con người cũng như giữa các thành phần trong xã hội.

Giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam có tất cả những phương tiện để thực thi hòa giải hòa hợp dân tộc nhưng họ đã không làm. Lý do, nếu làm thì họ đã không phải là Cộng Sản. Hòa giải hòa hợp dân tộc đặt cơ sở trên sự bao dung, bình đẳng vốn đi ngược lại mục tiêu Cộng Sản hóa Việt Nam bằng các phương tiện bạo lực mà đảng đã và đang dùng.

Do đó, ngày nào chế độc độc tài đảng trị, dù tồn tại dưới bất cứ hình thức nào tại Việt Nam, ngày đó chuyện hòa giải chỉ là một chuyện để bàn cho có và cũng sẽ qua đi theo mỗi tháng Tư.

VOA: Thưa anh Trần Trung Đạo, một câu nói của ông Võ Văn Kiệt liên quan đến vấn đề “hòa giải hòa hợp” được các bên trích dẫn khá nhiều là “một triệu người vui, một triệu người buồn”. Xin anh chia sẻ về câu nói này của ông Võ Văn Kiệt cũng như các ý kiến tương tự khác mà anh đọc trong dịp 30 tháng 4 năm nay?

Trần Trung Đạo: Câu nói của ông Võ Văn Kiệt, ngày 30 tháng 4 “có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn” có lẽ là câu nói tích cực nhất mà chúng ta được nghe từ một người từng đóng vai trò lãnh đạo đảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam trong một thời gian dài sau 1975.

Như tôi đã có lần viết trong một tiểu luận về những lời phát biểu của ông Võ Văn Kiệt, tôi tin đó là một câu nói chân thành, kết quả của nhiều đêm trăn trở.

Tôi vui mừng bởi vì ông đã góp phần tạo nên một môi trường thảo luận những vấn đề sinh tử của đất nước mà trước đây không có được. Các thế hệ trẻ Việt Nam, qua những lời phát biểu của ông, có cơ hội biết đến một quãng lịch sử dân tộc đen tối do chính một trong những người chịu trách nhiệm lớn nhất của đảng và nhà nước trong giai đoạn đó kể ra. Con đường mà dân tộc đã trải qua trong suốt hơn 30 năm không phải là “con đường vinh quang” như các em đang học ở trường, những ngày mà cha chú các em đã sống không phải là “những ngày đẹp nhất dù mai sau đời vạn lần hơn”, nhưng là con đường nhuộm bằng máu và nước mắt, trong đó, “có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn” như ông Võ Văn Kiệt đã nhắc lại.

Ngoài ông Võ Văn Kiệt đã qua đời, một số cán bộ Cộng Sản nổi bật trong giai đoạn chiến tranh như cựu đại sứ Cộng Sản Việt Nam tại Pháp Võ Văn Sung trong buổi phỏng vấn dành cho VietNamNet mới đây cũng nhấn mạnh đến tinh thần hòa giải bằng những câu phát biểu thật “thắm thía”: “Lúc này nếu ai đó trong chúng ta dù từng đứng từ phía nào mà vẫn nuôi lòng thù hận, cản trở hòa hợp dân tộc thì sẽ dần trở nên lạc lõng và thật sự có lỗi với tương lai của chính con cháu mình.”

Thế nhưng cả ông Võ Văn Kiệt lẫn ông Võ Văn Sung, về khái niệm, đều lầm lẫn giữa hòa giải và đầu hàng, giữa hòa hợp và phục tùng, giữa bao dung dân tộc và thương xót người chiến bại. Hòa giải hòa hợp là con đường hai chiều, là chiếc cầu nhiều nhịp. Và như tôi đã phát biểu ở trên, phải dựa trên nền tảng bình đẳng, tự do, dân chủ. Không ai có quyền bắt người khác phải bơi qua sông để hòa giải với mình. Những người lính miền nam cần công lý chứ không cần thương xót.

VOA: Trong hai tuần qua, nhiều độc giả của các trang blog không do nhà nước kiểm soát đã xôn xao bàn tán về bài viết “Tùy Bút Tháng Tư” của nhà văn Vũ Ngọc Tiến, cũng như mới đây bài viết của nhà văn Nguyễn Trọng Tạo “Đừng Thêm Những Tháng Tư”. Xin anh cho biết ý kiến của anh về hai bài viết này?

Trần Trung Đạo: Trong lúc tôn trọng sự khác biệt về cách giải thích nguyên nhân của cuộc chiến Việt Nam, tôi thông cảm những trăn trở của nhà văn Vũ Ngọc Tiến trong bài viết mới đây Tùy Bút Tháng Tư “Trong số 3,2 triệu người Việt định cư ở hải ngoại hiện nay, số ra đi trước ngày 30/4/1975, kể cả số di cư từ thời thuộc Pháp chỉ khoảng 1 triệu, số còn lại hơn 2 triệu người chủ yếu rời bỏ đất nước từ nửa cuối thập niên 70 và cả thập niên 80 của thế kỷ trước. Thế hệ chúng tôi “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, sao những người được chúng tôi giải phóng lại ào ào bỏ nước mà đi đông đến vậy?”

Tôi nghĩ câu hỏi này nhà văn đặt ra cho giới lãnh đạo đảng chứ không phải cho độc giả của ông. Tuy nhiên, với tư cách là một trong số hơn hai triệu người ra đi sau 1975, tôi nghĩ, lý do cũng rất là đơn giản. Họ ra đi sau 1975 là vì tự do. Nếu Liên Hiệp Quốc và các quốc gia Đông Nam Á không đóng cửa các trại tỵ nạn đầu thập niên 90 thì không chỉ 2 triệu mà có thể 4 triệu, 6 triệu hay nhiều hơn nữa đã bỏ xứ ra đi.

Quê hương Việt Nam sau 1975 là quê hương để nhớ, để thương nhưng không phải để sống.

Và sau 35 năm, ngoài trừ một số rất ít, 300 ngàn người thành đạt như nhiều nguồn ước tính và nhà văn Vũ Ngọc Tiến có trích dẫn trong bài viết của ông, đã không về phục vụ đất nước. Nhà văn thắc mắc tại sao họ lại không về. Câu trả lời cũng không khó lắm. Thứ nhất, dù chia rẽ, kèn cựa, chống đối lẫn nhau, về căn bản họ vẫn là những người chống lại chế độ độc tài Cộng Sản, và thứ hai, họ không muốn thấy những đóng góp của họ chỉ để làm giàu thêm giai cấp tư sản đỏ đang như dòi bọ sinh sôi từ xương máu nhân dân chứ không đem lại lợi ích gì cụ thể cho đại đa số đồng bào đang sống trong nghèo khó.

Tôi cũng rất tâm đắc với suy nghĩ của nhà văn Nguyễn Trọng Tạo trong bài viết Đừng Thêm Những Tháng Tư: “Một dân tộc mà lũ trẻ không biết mơ mộng và người già không biết sám hối, đó là một dân tộc bất hạnh. Hãy trân trọng sự sám hối.” và “Hòa giải là nguyện vọng cấp thiết của người Việt Nam dù trong hay ngoài nước”.

Đúng vậy, những ai có trách nhiệm cho điêu tàn, đổ nát, đói nghèo, lạc hậu, mất đất, mất biển phải sám hối trước tiên linh ông bà và xin lỗi trước nhân dân.

Về hòa hợp hòa giải. Trải qua một cuộc chiến dài với quá nhiều những hy sinh xương máu, tôi tin, không một người Việt Nam yêu nước nào không muốn sống trong cảnh hòa bình, không mong đất nước mình cường thịnh, hội nhập vào dòng phát triển của cộng đồng nhân loại. Không chỉ những người lính miền nam, người dân miền nam mà ngay cả những người lính miền bắc, người dân miền bắc, cũng chỉ mong có cơ hội được trở về căn nhà xưa, với ruộng lúa nương dâu, với cha mẹ già đang chờ đợi.

Cuối cùng, như các chúng ta thấy, không ai thương dân tộc Việt Nam bằng chính người Việt Nam. Bên trong những vòng hoa chiến thắng, mặt trái của những tấm huân chương là máu thịt của hàng triệu người Việt Nam đổ xuống, là đói nghèo lạc hậu.

Việt Nam phải vượt qua. Việt Nam phải thăng tiến. Nhưng chướng ngại lớn nhất trên con đường dẫn tới một tương tốt đẹp, tự do, dân chủ, giàu mạnh không phải vì thiếu hòa giải, hòa hợp mà quan trọng hơn vì cơ chế độc tài đảng trị như một bức tường đang chắn ngay trước lối đi lên. Một khi cơ chế độc tài sụp đổ, hòa giải hòa hợp tự nhiên sẽ đến dù lúc đó chưa chắc còn cần thiết nữa.

VOA: Xin cám ơn anh Trần Trung Đạo

Nguồn bài: Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA)
Nguồn ảnh: Trần Minh Triết, mạng Hoa Đàm



TRĂM HOA ĐUA NỞ TRÊN ĐẤT BẮC (BÀI SỐ 06)

 

Tiếp chương II, phần II – Phái thanh niên: Tạ Hữu Thiện, Bùi Quang Đoài

Tạ Hữu Thiện

Tạ Hữu Thiện là một sinh viên mới lớn lên trong kháng chiến. Vì được rèn luyện dưới chế độ mới nên anh viết theo lối hiện thực xã hội.

Trong bài “Tôi tìm Em” mà chúng tôi trích theo đây, tác giả ta thán về nỗi đau tìm không ra vợ. Điều kiện đưa ra thì rất chi là dễ dàng, tác giả chỉ cần gặp một tâm hồn “biết ghét và biết yêu”, thế mà tìm khắp ở các từng lớp trong xã hội miền Bắc đều không thấy.

Tác giả không nói tại sao, nhưng người đọc có thể hiểu rằng nền giáo dục cộng sản đã làm khô cạn tâm hồn con người, nhất là tâm hồn của phụ nữ.

Những người ở ngoài vòng thường ít nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề, nhưng thực tình, đối với người con trai chưa vợ hiện nay ở Bắc Việt thì đó là một tình trạng vô cùng bi đát. Một xã hội loài người mà không còn tình yêu, chỉ còn xác thịt là một viễn ảnh rùng rợn. Viễn ảnh này đã được một nhà văn Anh, Georges Orwell, trình bày trong cuốn 1984 và một nhà văn Mỹ mà chúng tôi quên tên trình bày trong cuốn Body Snatcher. Đề tài này đã được đóng thành phim và chiếu tại Sài Gòn.

Tôi tìm Em

Có phải Em là người không bao giờ tôi gặp
Mới là người tôi ấp ủ trong tim?
Ai lớn lên không từng yêu đương
Ai biết yêu không từng hò hẹn
Việc ấy lẽ thường.

Tôi đã từng yêu, từng chán nản
Không bao giờ thấy nguội con tim
Không bao giờ thoả mãn
Khát khao Em, tôi vẫn gắng công tìm.
Có phải Em là người không bao giờ tôi gặp
Mới là người tôi ấp ủ trong tim?

Nửa đời người tôi đã đi khắp cả
Kiếm tìm Em, sao chửa thấy Em đâu?
Em yêu dấu, sao mà xa lạ
Đến bao giờ thoả ước hẹn hò nhau?

- Hỡi cô bạn gương tròn bỏ túi
Quần sồi áo nâu
Tháng năm dài vất vả
Cuốc bẫm cày sâu.

- Hỡi cô bạn công trường nhộn nhịp
Góp đôi tay, đôi vai
Vào chương trình kiến thiết
Nằm mộng thấy ngày mai

- Hỡi các cô đẩy xe, gánh vải
Quét rác, đổ thùng,
Lao động mang đầy nhựa sống
Nở ngực, thon lưng

- Hỡi cô bạn quầy hàng, tủ kính
Thoắt mua về lại thoắt bán đi
Cuộc sống là trăm ngàn con tính
Kệ đời lắm chuyện thị phi

- Hỡi cô bạn ngồi trong công thự
Ngày ngày chép chép ghi ghi
Sôi nổi như đả máy chữ
Rộn ràng giấy má đến, đi.

- Hỡi cô bạn văn công nhảy múa
Dưới ánh đèn lộng lẫy ánh tiên
Mắt biếc môi tình chan chứa
Đời như không có ưu phiền

- Hỡi cô bạn sinh viên trường đại học
Đã cùng tôi luận luận bàn bàn
Kiến thức hai ta dù góp lại
So với đời chỉ độ tấc gang.

- Hỡi tất cả các cô bạn gái
Tôi đã biết hay là tôi chưa quen
Tôi chả bị cái gì làm lạc hướng
Nhằm áo hồng, phụ áo vá vai
Cũng bất chấp lối luận bàn sống sượng
Khen chê tóc ngắn, tóc dài

Tôi thấy: đã là con gái
Vào tuổi dậy thì
Cô nào trông cũng đẹp
Mỗi người một vẻ kém chi.

Tôi đắm đuối nhìn đầu môi khoé mắt,
Nét ngực đường lưng
Hàm răng mái tóc
Mộng đời những tưởng đắp chăn chung.

Thực thà tôi chẳng biết
Cân nhắc thành phần,
Cũng chẳng dại làm điều vô ích
Xem cỗi nguồn có vẹn mười phân.

Tôi cũng chẳng đo tài gạn đức
Ra điều kén cá chọn canh
Vì tình yêu đời đời đâu có phải
Là bốn bài trừ cộng chia nhân.

Trong các bạn có chăng người yêu dấu
Mà bấy lâu tôi vẫn gắng công tìm?
Đó chính là người tôi chửa gặp
Mới là người tôi ấp ủ trong tim.

Trên tất cả thành phần lý lịch
Trên cao sang, trên sắc đẹp diễm kiều
Em, trọn cuộc đời tôi kiếm gặp
Chỉ là người biết ghét, biết yêu.

(Trích báo Trăm hoa ngày 6-1-1957)

Bùi Quang Đoài

Bùi Quang Đoài là một sinh viên nghèo theo học trường Nguyễn Thượng Hiền ở Khu Ba, sau về trường Dự bị Đại học ở Thanh Hoá, rồi khi Việt cộng tiếp thu Hà Nội anh học trường Văn khoa Đại học.

Anh lãnh đạo phong trào sinh viên chống Đảng, làm chủ bút tờ Đất mới là cơ quan tranh đấu của sinh viên. Tờ Đất mới chỉ ra được một số thì bị bóp chết. Sau vụ đó thì anh bị đuổi khỏi trường. Số phận hiện nay ra sao chúng tôi không rõ.

Bài “Lịch sử một câu chuyện tình” của anh đăng trong tờ Đất mới mà chúng tôi trích sau đây, tả không khí sinh hoạt trong khu học xá ở Hà Nội và kể lại một vụ cán bộ Đảng dùng uy quyền chính trị chiếm đoạt tình yêu của một nữ sinh viên tiểu tư sản người Hà Nội. Câu chuyện có thực, và đã làm sôi nổi dư luận trong giới sinh viên đại học.

Lịch sử một câu chuyện tình

Em hãy đếm những vì sao trên trời được bao nhiêu thì anh yêu em còn hơn thế nữa

Nếu có thế và chỉ có thế thôi.

Đường trăng mà không sáng! Bóng mây đã che mờ hẳn trăng đêm. Ánh đèn trong những gian phòng khu học xá chiếu hắt ra như những vì sao thứ tự. Tân bước vội lên thềm. Một anh bạn sinh viên ngồi đó nhìn theo dáng anh mệt nhọc.

Kém 15 phút nửa là đúng 10 giờ đêm. Bây giờ phải họp tổ hội tự kiểm thảo. Mà kiểm thảo cái gì, đêm nào cũng một luận điệu “Tôi thấy trong ngày hôm nay…”
Qua phòng họp lớn, Tân lấy tay kéo xệch chiếc ghế dựa đi một quãng. Tiếng ồn làm mấy người bạn đang chúi mũi học bài nhìn lên. Có cái nhìn của Bằng qua đôi kính trắng gọng nạm vàng. Mắt Tân bắt gặp mắt Bằng trong thoảng chốc. Và Tân càng thấy bực mình thêm vì cứ bị mãi đôi mắt kính vô lý kia ám ảnh. Một thằng người hay một… thế thôi! Cần gì nói hết ý nghĩ của mình trong khoảnh chốc. Tân lấy đàn violon ra kéo chơi một bài cho lòng khuây khỏa. Âm thanh của bản đàn “Thais” réo rắt và dồn dập làm rối bời thêm tâm trí anh.

“Ê, Tân đi họp tổ chứ ‘ôm’ đàn mãi à!”

Tân cười nhẹ và ngoan ngoãn như em bé bỏ cây đàn vào hộp. Bước đi vẫn nặng nề, do dự. Tiếng đàn còn vẳng bên tai anh. Họp! Có gì? – Phê bình và kiểm thảo, kiểm thảo và phê bình. Mười phút qua và tối mai đúng 10 giờ kém 15 lại cứ thế. Tân lên dây đồng hồ cho tiếng máy chạy đều sỗng đến 10 giờ đêm mai. Không biết con người có như vậy không, nhưng cứ kéo dài như vậy thì quả thật là mệt mỏi quá rồi! Bao giờ sẽ được lau dầu?
Một hồi kẻng vang lên. Mười giờ đúng. Ánh điện đồng loạt ở các gian phòng khu học xá tắt phụt. Có vài cái trễ nải cố sống thêm vài phút. Mười giờ và đi ngủ. Nội quy của khu học xá là như vậy và không một ai có thể thức lâu, trừ “trường hợp” đặc biệt nào đó. Tân mân mê hộp đàn violon trong đêm tối. Anh muốn kéo thêm một bản đàn và thực tình anh cũng chưa buồn ngủ. Nhưng đêm tối của toàn gian phòng bắt anh phải tôn trọng một giấc ngủ chung của tập thể. Tiếng đàn như ĩân còn vẳng lên kéo anh về một kỷ niệm. Anh nghĩ đến một người ở năm thứ nhất ban Sử:

Trang sách mở rồi
Một tờ thư nho nhỏ
Thương anh muôn vạn thuở
Gửi chùm hoa lý phần anh…

Tự nhiên anh nhớ lại mấy câu thơ đó của người bạn và mong cho nỗi lòng mình có một sự cảm thông. Câu chuyện gặp gỡ anh không thể quên được…
Đôi mắt của An và thân hình của An. Màu áo tím hoa cà trong nắng vàng của buổi chiều hè làm Tân có cái cảm tưởng Tân đang bước trên một đài mây. Gió thoảng bay về vờn qua nếp lụa mỏng. Một cái gì lôi cuốn cả tâm hồn Tân, anh trìu mến nhìn người bạn gái sinh viên chưa quen thuộc đó. An đang vui cười trò chuyện với mấy người bạn gái khác, không chú ý đến một chàng trai si tình của năm thứ ba văn khoa. Ai lại yêu quá vội vàng như thể nhỉ! Nhưng nói sao được tuổi thanh niên và nói sao được cái rung động buổi đầu trước một người đẹp. Tân nhìn An trong nắng vàng của chiều hè, nhịp máu chảy vươn lên. Tự nhiên An cũng nhìn hướng về phía Tân. Và An nhìn hướng như vậy luôn mấy lần. Đôi mắt Tân và đôi mắt An đã gặp nhau trong một cuộc hẹn hò không ước hẹn.

Yêu! Tân thấy cuộc đời như rộn hẳn lên và cái gì cũng hoa là hoa, ánh sáng là ánh sáng. Yêu đời đẹp quá đi thôi và đưa người thanh niên đến một lạc quan say đắm: “Em ơi! Em hãy đếm những vì sao trên trời được bao nhiêu thì anh yêu em còn hơn thế nữa…”

Chiều đó Tân đã gặp lại An. Lần này anh không dám nhìn thẳng vào mắt An nữa. Anh muốn nói một câu mở đầu nhưng lòng anh bối rối. Anh đang lúng túng tìm một ý nghĩ gì thật là văn hoa để mong diễn đạt nỗi lòng thầm kín của mình một cách xa xôi bóng bẩy thì Hạnh đến. Hạnh là người bạn gái khá tốt và tế nhị trong vấn đề tình cảm. Hơn nữa Hạnh là người đã đứng tuổi, có con rồi. Tân đã có lần tâm sự với Hạnh về cảm tình của mình đối với An, nên bây giờ trong một sự tình cờ hai người đứng gần nhau trước hiên nhà, Hạnh đã nắm được sự bối rối của Tân. Hạnh nói như sực nhớ một điều gì:
“À, anh Tân đây rồi! Chị An mượn tôi cuốn Số đỏ của Vũ Trọng Phụng nhưng anh lại mượn mất rồi. Thôi hai người điều đình với nhau vậy. Tân hơi ngạc nhiên vì anh không định mượn cuốn Số đỏ của Hạnh bao giờ. Nhưng thoáng cái, anh hiểu ngay ý nghĩa câu nói, anh nhìn thẳng vào mắt An hỏi:
“Chị An bên Sử mà cũng thích đọc sách bên Văn cơ à? Thế mà tôi cứ tưởng…”

“Tưởng gì nào ?”
Hạnh cười ngắt ngang câu nói làm Tân hơi lúng túng.
An cũng vậy, nàng đã bắt gặp rất nhiều lần Tân nhìn nàng, nên hôm nay nàng cũng không giữ được vẻ tự nhiên thường ngày. Nàng hỏi lại: “Thế anh tưởng bên Sử thì không thể và không dám hiểu một ý sâu của câu văn hay sao? Anh quên rằng các anh bên Văn là rất cần Sử để có thể phân tách tình trạng xã hội qua tác phẩm văn học đó nhé!”
Hạnh cười:

“Vâng rất cần Sử…”
Câu chuyện đang vui thì Bằng đến. Bằng nhìn Tân rồi nhìn An qua đôi kính trắng gọng nạm vàng nói như cố ý pha trò nhưng quá nước ốc:
“Chứ cái chi chi đây mà tụ họp vui quá nhỉ.”
Tân muốn bỏ đi ngay. Anh nói hất hàm:
“À, một chuyện đời!”
Bằng lại giữ đúng thái độ “Đào kép mới” của Nguyễn Công Hoan, cười lố bịch :
“Chà, chứ quan trọng vậy ư? Nhưng chuyện đời gì mà chỉ có ba người, tôi tham gia có được không?”
An vô tình nói với Bằng:
“Sao lại chuyện đời? Em hỏi mượn chị Hạnh cuốn Số đỏ đó thôi.” Tân nhún vai:
“Thì Số đỏ cũng là chuyện đời, chuyện đời của thằng Xuân biết lừa đời, sống trong một hình thức giả tạo để mà lên đến ghế gọi là ‘anh hùng’!”
Tân nói xong cười tinh nghịch nhìn vào đôi mắt kính của Bằng. Anh thấy Bằng đã đến, tất nhiên nước có thể đục. Mà anh, cuộc đời trước mắt anh đang cần những cái gì trong mát, tươi thắm hơn, nên anh trở về phòng.
Lát sau anh đưa cuốn Số đỏ cho An. Hai người cùng nói chuyện với nhau nhiều hơn trong cuộc đời sinh viên, giữa người ở vùng tự do, kháng chiến trở về thủ đô và người thủ đô cũ. Tân kể lại những ngày vất vả ở cầu Kè, Thanh Hoá, đêm ngồi nghe giáo sư giảng bài bên ngọn đèn dầu lù mờ và cả cuộc đời gò bó, khuôn khổ. Ngoài thì tàu bay của giặc thường đi khủng bố, trong thì cả một sự hạn chế… Anh không muốn nói hết những tình cảm và tư tưởng của mình trong những ngày đã qua. Anh muốn tìm hiểu hơn ở người bạn gái Hà Nội có mái tóc quăn này. Anh đã hỏi An là sao An đã vào Sư phạm mà chịu ở ký túc xá. Qua những câu nói của An, anh hiểu tâm trạng của một người thanh niên học sinh Hà Nội hơn, những phút sống lao đao của họ trong bàn tay địch và cuộc đời như không có tương lai. Tất cả xung quanh đều là những bước đường có thể sa ngã, bàn tay của truỵ lạc, của đen tối luôn tìm lôi kéo mọi người thanh niên mới lớn lên. Cho nên trên cái bơ vơ đó của cuộc đời, phải chăng người thanh niên của thủ đô Hà Nội cũ đã hướng về vùng tự do kháng chiến. An cũng đã sống trong cái tâm trạng đó nên lúc hoà bình được lập lại, nàng như thấy rõ cuộc đời mình đang bắt đầu đi vào con đường giải phóng mới rộng rãi và tươi sáng hơn. Trên ý nghĩ đó, An thấy mình chưa phục vụ cho nhân dân, cho đất nước được một cái gì rõ rệt, hơn nữa trong nhu cầu cần thiết của nhân dân, nàng quả quyết theo ngành sư phạm. Mặc dầu Trâm, bạn nàng, hôm thi đỗ được vào trường Đại học Sư phạm Văn khoa đã nói đùa: “Thế này thật là mới vững lập trường!”, nhưng An không khe khắt với bạn. Nàng cho ý nghĩ ấy cũng có thể được chứ có sao đâu: lập trường của mình là dứt khoát đứng về phía nhân dân lao động và phục vụ cho nhân dân lao động cơ mà! Học sư phạm ra đi dạy là ý nghĩa cụ thể nhất của một người thanh niên.
An đã nói với Tân là An mến những chị bạn ở vùng tự do kháng chiến mới về. An muốn gần họ và mong hiểu được nhiều hơn cuộc sống của con người kháng chiến mà nàng không là một con số trong đó. Tân hỏi đùa An:
“Nhưng sao người ở Hà Nội mới được giải phóng lại cứ hay gọi vùng tự do kháng chiến là ‘hậu phương’?”
An không trả lời. Qua câu chuyện của Tân, nàng thấy Tân là một thanh niên rất thành thật. Nàng mến Tân hơn và có thể tin ở người bạn trai có một tâm hồn nghệ sĩ nàỵ An nhớ lại những bản đàn mà Tân thường chơi vào lúc 10 giờ đêm trước giờ kiểm thảo. Tiếng đàn những lúc đó bao giờ cũng vội vàng, hấp tấp. Tân kéo bản đàn này qua bản đàn khác như người đang cố tìm hưởng lấy một phút sống vui trước giờ hấp hối (và không biết 10 giờ nội quy đi ngủ của khu học xá có phải cũng đúng là giờ hấp hối hay không). Tiếng đàn buổi sáng bao giờ An cũng thấy thoải mái, thánh thoát hơn. Tiếng đàn lắng sâu vào tâm sự con người trong buổi bình minh rực rỡ, đọng trên mí mắt người ta như châu ngọc, ban cho tuổi thanh niên một hứa hẹn của ngày mai. An rất thích nghe tiếng đàn bình minh của Tân. Một sáng đầy nắng mới, Tân lại đi kéo bài “Khúc ca ban chiều”, “Sérénata” – làm An và các bạn khác, vẫn thích nghe đàn của Tân, bật cười:
“Ông tướng quên cả ngày rồi!”

Nếu chỉ thế thôi!
Tân đã ghi vào trang đầu của cuốn nhật ký: “Em ơi ! Em hãy đếm những vì sao trên trời được bao nhiêu thì anh yêu em còn hơn thế nữa“.
Tình yêu đã bắt đầu chớm nở giữa hai người. Tiếng đàn của Tân vui hơn, nhộn nhịp hơn. Anh không ăn bận bình thường như trước nữa. Anh chải hắt mớ tóc lên theo làn sóng uốn và thỉnh thoảng anh lại thắt cả “cravate”. Mọi người đều thấy ở Tân có một sự thay đổi và ai cũng biết câu chuyện giữa Tân và An.
Bước đầu đang được tìm hiểu xây dựng thì một hôm người ta thấy Bằng đang bàn chuyện trong buồng riêng với hai nữ sinh viên, Chi và Phụng. Nét mặt của Bằng rất quan trọng và qua đôi kính trắng gọng nạm vàng của Bằng người ta lại càng có thể đoán cái quan trọng của câu truyện hơn. Không ai hiểu chuyện gì đã hay đang xẩy ra. Người ta – nghĩa là anh em sinh viên – đều biết Bằng là bí thư chi bộ Đảng của tổ chức sinh viên. Một lát Chi ở phòng riêng ra, còn Phụng ở lại với Bằng. Cửa đóng kín mít trong gian phòng của hai người, một trai và một gái. Người ta không có quyền tò mò vì đó là Bằng “đảng viên” đang giải quyết” công việc.
Đến chiều An vội từ trên gác xuống tìm đến phòng riêng nơi Bằng làm việc. Mặt nàng hơi tái. Bằng hỏi nàng:
“Chắc Chi và Phụng đã nói chuyện với chị rồi phải không? Chị có cảm tình với Tân? À, cái ấy chị có quyền tự do luyến ái…”
An thấy thái độ của Bằng quá trắng trợn, toan “thắc mắc” nhưng nàng vội nhớ ngay đến địa vị và chức vụ của Bằng. Nàng lo sợ ngồi yên lặng cúi đầu xuống, tay cuộn tròn mẩu giấy nhỏ. Tự nhiên nàng thấy mình như đang phạm vào một tội gì đó trong “nội quy” tình yêu ở khu học xá. Nàng đang phân vân thì Bằng lại nói:
“Chị đã tìm hiểu gì nhiều về anh Tân chưa? Cứ nói thật thì anh chị em người ta giúp ý kiến cho chứ ngại gì mà vụng trộm. Ở đây chúng ta có đủ mọi quyền, trong đó có quyền yêu cơ mà.”
Rồi Băng cười độ lượng tiếp:
“Cái khuyết điểm của chị là sao lại không hỏi ý kiến tôi hay tập thể. Tất cả sinh viên của ta ở đây có một việc gì, dù là việc tâm tình kín đáo mấy mà lại không hỏi qua ý kiến tôi. Nhưng may là có mấy chị ấy báo cáo cho tôi rõ, nên tôi mới gọi chị đến đây để giúp đỡ thêm ý kiến về hạnh phúc lứa đôi. Chắc chị cũng biết những tiêu chuẩn luyến ái quan chứ gì? Tôi không nhắc lại hết, chỉ nêu lại với chị một điểm của tiêu chuẩn luyến ái là vấn đề tư tưởng. Vâng, vấn đề tư tưởng là chính yếu: giá trị của con người ta là qua vấn đề tư tưởng đó. Mà Tân thì chắc chị đã hiểu, Tân chưa phải là thanh niên Cứu quốc, riêng chị là cảm tình của Đoàn.”

Sự việc xảy ra quay cuồng trước mắt An. Chiều hôm đó nàng bỏ không ăn cơm, cáo ốm xin nghĩ học tối. Trước kia nàng là một người hồn nhiên, nhìn mộng đẹp của đời như bông hoa buổi sáng mở cánh đón ánh nắng bình minh. Nàng rất tin ở chế độ Dân chủ Cộng hoà và con đường tiến lên của nó. Nàng rất tin con người trong chế độ đó và chưa một lần hoài nghi. Người ta có thể hoài nghi với cuộc đời, với cả tình yêu. Nhưng riêng An nàng nghĩ người đời cũng có thể có những tình cảm như mình. Nay trang giấy trắng của tuổi lòng đang bắt đầu lật qua một mặt khác, nàng đã yêu Tân. Tình yêu của nàng đang vừa độ chớm nở. Nàng có thể tha thứ cho Tân những điều mà Tân đã lầm lỗi trong tình cảm trước kia. Đó là một chuyện rất có thể mà thôi, tuy chưa thú thực nỗi lòng của mình với Tân, nhưng nàng có thể tin Tân.

Đôi mắt của Bằng qua đôi kính trắng gọng nạm vàng như đã nhìn rất sâu vào tâm tư An. Nàng không thể quên được những cái tiêu chuẩn – không biết có vô lý không – mà Bằng đã nêu ra: vấn đề tư tưởng. Mà tư tưởng tức là lập trường chính trị rồi. Thế nhưng anh Tân đã chiến đấu ở bộ đội về, đã ở kháng chiến cơ mà! An lại càng phân vân. Cuộc đời quả thật là vô cùng phức tạp. Tại sao Tân không phải là Thanh niên Cứu quốc? Tại sao Tân đã chiến đấu cho Cách mạng nhiều như vậy, 6, 7 năm ở bộ đội – mà lại không là một đảng viên cộng sản? Tại sao? Nếu quả ý nghĩa câu nói của Bằng thì có thể là Tân thiếu lập trường cách mạng, tư tưởng kém. Do đó suy rộng ra không biết có nên chụp mũ không – là tư cách đạo đức kém. Mà nếu là quần chúng thì đó là một sự dĩ nhiên. Ý nghĩ dồn dập trong tâm trí An. Nàng thấy ở trường học cũng có cơ quan đoàn thể của chính phủ, những người lãnh đạo đều là đảng viên cộng sản cả. An rút ra một kết luận đơn giản: đảng viên cộng sản người nào cũng tốt hết vì họ có lập trường tư tưởng vững, còn quần chúng mặc dù anh ở thành phần nào, năng lực công tác cao đến đâu nếu anh chưa là đảng viên cộng sản thì ý thức lập trường của anh đều kém. Như vậy, nếu đưa vấn đề tự do luyến ái ra trong đó có tiêu chuẩn tư tưởng – sao lại tiêu chuẩn? – qua ý của Bằng là con gái nên lấy chồng đảng viên cộng sản vì họ có lập trường tư tưởng. Thật là rủi ro cho ai lấy phải những người chồng quần chúng như Tân hay sao? Nhưng hiện nay một số đảng viên cộng sản đã phủ nhận vai trò của quần chúng, không tin ở quần chúng (cơ quan tổ chức nào họ cũng nắm toàn quyền lãnh đạo và đảng bộ quyết định tuyệt đối), họ khinh thường quần chúng. Vì vậy An đã nghi ngờ ngay cả khả năng của bản thân mình.
An càng thấy băn khoăn hơn trong ý nghĩ, mấy ngày luôn nàng tránh không muốn gặp Tân, nàng sợ cái nhìn của Tân, sợ cả tiếng đàn của Tân. Tiếng đàn trước kia quen thuộc, thân ái như lời tâm sự, bây giờ đối với nàng như tiếng than não ruột.
Chính nó đã xé cã lòng nàng. Nàng thấy như tiếng đàn cũng mất lập trường, thiếu căn bản tư tưởng. Ừ, giá cũng bản đàn đó, nếu là một người đảng viên cộng sản kéo thì có phải vững lập trường biết bao. An cho mình nghĩ như vậy là máy móc, nhưng chính lòng nàng qua buổi nói chuyện với Bằng, nàng không biết cái gì là đúng, cái gì là sai nữa. Nàng đang đứng trước một ngã ba đường mà chân lý đối với nàng còn quá mơ hồ. Người bí thư chi bộ cộng sản ở trường đã đưa nàng vào con đường sương mù của một buổi sáng Luân Đôn.
Không yêu có được không? An để tay lên tim mình nghe rõ tiếng đáp dồn dập. Nàng yêu Tân, yêu nhưng chưa qua một lần hứa hẹn. Như thế cũng hay? Chi bằng ta gấp cuộc đời lại, ta chờ đợi một cái rủi may. Mấy lần An đến gặp Bằng, nói rõ nỗi khổ của lòng mình. Bằng đã thương hại nàng, lấy tư cách là một người anh, tư cách một người cán bộ lãnh đạo đi sát quần chúng, an ủi nàng. Nàng rất cảm động vì lòng tốt của Bằng. Có lần Bằng đã để tay lên vai nàng, vuốt nhẹ tóc nàng, khuyên nàng không nên đau khổ. Thời gian sẽ trôi qua và kỷ niệm kia cũng sẽ dần dần nhạt phaị Nàng thấy Bằng luôn săn sóc đến nàng cũng như các người bạn gái khác của nàng. Trong toàn trường sư phạm văn khoa, không một người nào thắc mắc cái gì là không phải qua tay Bằng giảI quyết. Bằng đã giúp đỡ cho nhiều chị nhìn rõ đời tư của người bạn trai si tình nào đó và như vậy chị mới có thể dứt khoát cắt đứt dây tình cảm đang định giăng buộc hai người. May có Bằng, nếu không thì biết bao nhiêu là chị sẽ vô tình yêu lầm phải những chàng sinh viên quần chúng thiếu tiêu chuẩn tư tưởng trong vấn đề luyến ái quan.
Thật tình An đã cám ơn Bằng, người cán bộ trung kiên đã giúp cho nàng một con đường thoát. Nàng thấy Bằng thật quả xứng đáng là một sinh viên gương mẫu của trường đại học, gương mẫu cả trong cách thức giảI quyết tình cảm.
Từ đó An nhìn Tân bằng con mắt khác, cố tránh xa Tân. Tuy nhiên, nhiều khi ngồi suy nghĩ một mình, An tự hỏi lòng mình đã dứt khoát hẳn với câu chuyện của đời mình hay chưa. Cái kỷ niệm trong mối tình đầu tiên chưa hợp đã tan kia, làm sao nàng có thể quên được.
Có vài mẩu chuyện tung ra trong dư luận sinh viên năm thứ ba làm An ngạc nhiên. An đã biết thờI gian vừa qua Tân rất đau khổ. Tiếng đàn bình minh thường lệ càng như tha thiết hơn, lo lắng hơn. An rất khó chịu về tiếng thì thầm cho rằng Tân hay diện: “Trong lúc An là người Hà Nội muốn trút bỏ cái áo Hà Nội để đi xuống thì Tân lại tìm khoác cái áo ấy vào”. Tại sao người ta lại quá nghiêm khắc với ngay cả cách thức ăn mặc? Thế chiến đấu để làm gì, cứ sống thật với lòng mình có hơn không?
Một hôm An được Bằng gọi xuống có chuyện riêng. Thoáng thấy bóng Tân ở phòng Bằng ra, nàng đã đoán được phần nào câu chuyện. Cái làm nàng ngạc nhiên nhất là Tân lại đi cầu cạnh Bằng mong giúp đỡ trong vấn đề tình cảm. Nàng chắc Tân không bao giờ có thể làm một việc cầu cạnh như thế. Nhưng biết đâu, trong đau khổ của con tim, người ta có thể đi thử một nước cờ. Nhưng nước cờ đó của Tân, chính Bằng là người dàn quân tính nước và An cũng đã chỉ là một quân cờ. Nước cờ của Tân qua tiêu chuẩn tư tưởng trong vấn đề luyến ái của Bằng đã thất bại. An từ chối Tân.
Và nếu cũng chỉ có thế thôi!
Câu chuyện chưa phải là bỏ dở. Ngày qua rất chóng. An không đọc lại những trang nhật ký đã ghi; An cũng không tìm trở lại một kỷ niệm. Nàng sống hồn nhiên như một ngày nào…
Có lần đi sau Chi và Phụng, hai người đang bàn về tình yêu, An đã thoáng nghe: … “Nữ-sinh Hà Nội dễ chinh phục như chơi… Anh ấy quan niệm rằng người ta có thể yêu một lần bốn cô…” An lao đao cả tâm hồn. Anh ấy là ai? Chắc hẳn phải là một anh cán bộ nào đó gần gũi với mấy cô nữ sinh viên. Nhưng tại sao người ta lại có một quan niệm lạ đời như vậy? Họ khinh thường người con gái Hà Nội quá đi: họ đã quan niệm nữ sinh Hà Nội như một người đàn bà dễ dãi trong tình yêu. Và một lần bốn cô. Rõ ràng đó là ý nghĩ của một tư tưởng bệnh hoạn, lưu manh.
An nghĩ đến Tân, so sánh giữa Tân với một số cán bộ sinh viên lãnh đạo. Tân sống với tình cảm của mình quá nhiều, nhưng Tân chưa bao giờ lừa dối ai. Phải sống thật với lòng, sống thật với con người chân chính… Trong đời còn bao nhiêu là rơm rác, bao nhiêu là sâu bọ, làm sao mà biết được cái chân chính của một con người. Bằng đã giải thích và xây dựng cho nàng rất nhiều trong cuộc sống chung đụng giữa sinh viên. Những cô bạn của nàng cũng đã có cái hân hạnh đó và tất cả coi Bằng như một người anh. Bằng có đủ mọi quyền, kể cả quyền về tình cảm. Nhưng với quyền hành, Bằng có xứng đáng với lòng tin của quần chúng không? Qua câu chuyện giữa Chi và Phụng, An bắt đầu đặt một câu hỏi. Nàng biết Phụng rất được Bằng chú ý và thường hay bàn bạc riêng với nhau. Có hôm Bằng và Phụng ở trong buồng riêng thì thầm đến quá nửa đêm, mà nộI quy nhà trường thì 10 giờ đúng là đi ngủ. Đó là một “trường hợp” đặc biệt và không ai có thể tò mò về Bằng trong khi anh ta đang “giải quyết vấn đề” gì đó cần thiết cho một cô sinh viên. Bằng gần Phụng nhiều cũng đúng, vì chính Phụng đang thắc mắc nhiều về chồng con. Bằng vuốt tóc Phụng, xoa dịu lên vai Phụng cũng là đúng vậy thôi. Phụng cần được an ủi và Bằng là một người anh, đồng thời là cán bộ lãnh đạo. Có hôm chính mắt An đã thấy Bằng đùa nghịch với Phụng trước mấy người bạn gái khác. Bằng đã tha thiết muốn xin cái huy hiệu Tiệp Khắc trên ngực Phụng. Phụng không cho và như thế là có cuộc giằng co “vui vẻ” cái huy hiệu trên ngực Phụng. An thấy khó chịu vì ngực của một người con gái, dù là bạn trai thân đến đâu cũng không nên đùa quá trớn như vậy. Nhưng Bằng là cán bộ lãnh đạo thì hành động ấy phải chăng Bằng có thẩm quyền? Cũng như Bằng đã thắc mắc trước mọi người là Duyên có mang. Lúc ấy Duyên đang yêu Thái. Thế là do thắc mắc của Bằng phát sinh ra một dư luận. Người ta nhìn Duyên bằng con mắt hay hay, chờ đợi một cái gì sẽ đổi ở con người. Thế nhưng mấy tháng qua và năm học hết, Duyên vẫn thấy là Duyên lành mạnh, không “to” như ý nghĩ thắc mắc của Đảng.

An càng nghĩ sâu về sự săn sóc của Bằng nàng càng thấy khó chịu. Bằng dễ dãi và quá thân mật, với chị em. Thường ngày Bằng chỉ gần nữxa nam. Hành động như trên đối với Phụng và Duyên, An không hoàn toàn đồng ý. Hơn nữa như câu chuyện giữa cô Chung và anh Bảo. Hai người đã yêu nhau bốn năm gần cưới, bỗng dưng Chung tuyên bố cắt đứt với Bảo. Chung bảo Chung không yêu Bảo nhưng Chung lại mới yêu Duy là một người học cùng lớp, ngồi chung bàn. Đây cũng không thể trình bày qua vấn đề tình cảm mà cũng chỉ là trong tiêu chuẩn lập trường: Duy là đảng viên và Bảo chỉ là quần chúng. Chung có một sinh mệnh chính trị làm bậc thang cho đời mình nên tìm yêu Duy. Bằng đã giải quyết cho hai người cắt đứt nhau, đồng thời có kiểm thảo Duy. Việc xảy ra, An cho là vô lý. Cách giải quyết của Bằng, dung thứ cho Duy phá tình yêu của bạn, thừa nhận sự phản bội tình cảm của Chung và quy kết khuyết điểm về Bảo, cho Bảo là không biết duy trì tình yêu. Bảo đã đau khổ, Chung thì tự đắc về sai lầm mù quáng của mình như một kẻ thắng thế, còn Duy thì lại tỏ thái độ dửng dưng: “Chuyện tôi với Chung sở dĩ xẩy ra vì tôi sống gần một người đàn bà. Tôi lại chưa có vợ… À đàn bà!”. Đó là quan niệm luyến ái của một cán bộ lãnh đạo hay sao?

Hình ảnh Bằng với đôi kính trắng gọng nạm vàng và hình ảnh Duy với một mắt to, mắt nhỏ luôn ám ảnh An. Đó là hai người trong những người lãnh đạo. Tại sao những sự việc xẩy ra vô lý như vậy mà hai người lại quan niệm một cách quá giản dị, cái chân chính của con người là thế hay sao? Nàng nhớ lại câu nói của Tân đã trả lời Bằng về cuốn Số đỏ: “Thì Số đỏ cũng là một chuyện đời, chuyện đời của một thằng Xuân biết lựa đời sống trong một hình thức giả tạo để mà lên đến ghế gọi là anh hùng”.
Thì đây ngoài cái giả tạo đó, còn có cái giả tạo lừa lọc, phá hoại trắng trợn tình cảm của con người ta nữa.
An đau khổ từ trong tận cùng tâm hồn. Nàng nghĩ đến Tân, Tân không thể có những cái tình cảm bệnh hoạn như vậy. Tân không che giấu tình cảm của mình và qua tiếng đàn của Tân người ta cũng có thể thấu rõ tiếng nói của con tim Tân. Tiêu chuẩn tư tưởng hay tiêu chuẩn tình cảm trong tình yêu? Cuộc sống như bị đóng khung, uốn theo cái nhìn của một số người lãnh đạo. Họ – như hạng Bằng – không còn có trái tim biết xúc cảm nữa. Họ sống theo một hình thức giả tạo, một đạo đức lừa dối, trong đó họ có thể đề cao địa vị đảng viên của họ lên, đồng thời là đề cao cá nhân họ. Họ muốn quần chúng tôn sùng họ; họ là một ông thần nhỏ trong phạm vi hoạt động. Trong số những người đảng viên ít ỏi giữa quần chúng đông đảo, ai là người chân chính, ai là người đau xót cho da thịt của mình có những phần rữa nát?
Không! An vẫn tin, lòng tin vô cùng mãnh liệt ở sự lãnh đạo của Đảng Lao động, Đảng đã đưa nàng đến ánh sáng, với cuộc sống ý nghĩa – với con người. Nhưng An không thể chịu được một số đi sai lệch, sống tìm dựa vào một quyền uy. Mọi sự giải quyết tình cảm, phá hoại sức sống tuổi trẻ và bao việc đen tối, mập mờ khác của Bằng làm An thêm khó chịu. Nếu quần chúng mà sai lầm như vậy thì không biết sẽ được kiểm thảo, được thành kiến, được quy kết tội lỗi đến một thời vực nào…
An bị giày vò trong ý nghĩ. Nàng chưa thể nhìn thấy chân lý của một vấn đề khi lực lượng xã hội đang ngày càng phát triển trong sức sống mới của dân tộc. Ngày qua, nàng mệt mỏi, choáng váng đầu óc như một người bị bệnh thần kinh. Nàng tự đấu tranh giữa lẽ phải và sai lầm. Nàng nghĩ hiện nay trong rất nhiều cơ quan hạng người như Bằng không phải là ít. Trong một giấc mơ, nàng thấy một người chiến sĩ tay cầm ngọn cờ hồng, mình đẫm máu, nét mặt vô cùng đau khổ, nhưng cương quyết đang dìu bước nàng đi. Đàng sau là đêm tối, và đàng trước là ánh sáng bình minh rực rỡ. Người chiến sĩ đó đã nhìn An âu yếm:

“Đàng kia là bình minh của ngày mai. Em tiến tới đi, can đảm mà tiến tới!”

Nàng cảm động gục vào tay người anh hùng đó của dân tộc và khóc nấc lên…

Trong thoảng chốc , nàng có ý nghĩ là không thể có một hạng người như Bằng tồn tại trong cuộc sống của con người. Phải tẩy rửa đi, thanh toán đi. Tuổi trẻ và tình yêu không muốn và không thích có những bóng đen của lãnh đạo, quan liêu, bè phái, hẹp hòi bao trùm lên trên tình cảm của mình, làm cho người ta hiểu lầm nhau, chia rẽ nhau.
Tuổi trẻ và tình yêu không muốn và không thích có những hạng “Lý Thông”, có những hạng cây tầm gởi sống bám vào cuộc sống đầy hoa mộng của mình.
An muốn sống thật với lòng mình, sống với nhịp sống của con tim, với chân lý cuộc đời và trái tim của con người chân chính.
An mong đuợc gặp Tân nói với Tân rằng: “Em đã đếm những vì sao và em đã đếm mãi; đếm mãi qua tận cùng của vũ trụ nhưng có một lần em đã không tìm thấy anh!”
An đi dài trên đường cỏ rộng, tìm nhớ lại kỷ niệm thoáng qua. Nhưng… An bỗng lùi bước lại. Một bóng đen lù lù đi tới choán rộng cả không gian. Ai? An bàng hoàng như cơn mê loạn, không nhận rõ được bóng đen đó. Nàng chỉ thoáng thấy qua ánh đèn chiếu hắt ra vội vã, đôi mắt kính và gọng nạm vàng. Toàn thân nàng run lên lo lắng. Ý nghĩ trở về với Tân chỉ còn mong manh như sợi tơ trời. Không! Đừng động mạnh bàn tay, hãy giữ cho sợi tơ kia bền chắc, hãy quấn nó, trộn nó với dòng máu của con tim.
An lảo đảo đi trong đêm tối. Nàng không dám giữ lại hình ảnh Tân vì bóng đen kia vẫn sừng sững. Nàng cố tìm cách xua đuổi nó đi…
An gục xuống một bên đường cỏ rộng, vẫn cái bóng đen với đôi kính gọng nạm vàng choán rộng cả không gian, choán rộng cả tâm hồn nàng.
Mây đen vẫn che mờ cả trăng đêm; và đường trăng mà không sáng…
Một cơn gió thổi về, xua tan những đám mây mờ ám. Ánh sáng xanh mát của trăng đêm lan dần trên cảnh vật mênh mông. Ánh sáng đó toả nhẹ trên da thịt An, thấm tận tâm hồn An, như đưa lại cho nàng sức sống. An vùng đứng lên hít mạnh khí trời ấm áp. Nàng nhìn theo ánh sáng của con đường nàng đi tới. Cuộc sống phải chăng vừa qua một cơn ác mộng, câu chuyện xẩy ra đã là quá khứ?
An hát một bài ca của tuổi trẻ, tiếng hát hoà theo nhịp đập của con tim. Có tiếng cười nghịch phá của mấy cô bạn đang đùa tới:
“À, An đây rồi! Thế mà tìm mãi.” Mấy người xúm lại quanh An, ríu rít trong từng câu nói. Cuộc đời… nếu không có những bóng đen!

10/56

(Trích Đất mới số 1, 1956)

Chủ nghĩa nhân văn của ông Hoàng Xuân Nhị
Lời soạn giả: Sau khi báo Nhân văn ra được mấy số thì Đảng cử ông Hoàng Xuân Nhị, thạc sĩ triết học, viết bài công kích nhóm Nhân văn. Sau đây là bài của Bùi quang Đoài trả lời ông Nhị. Từ khi ấy không thấy ông Nhị trả lời mà Đảng cũng lờ đi không trả lời những điều mà tác giả bài này đã nêu lên.

Trên báo Nhân dân ngày 16 và 17-10-56 có đăng bài “Chủ nghĩa nhân văn của chúng ta” của ông Hoàng Xuân Nhị.

Bài này trên căn bản cũng không khác gì những bài của các ông Nguyễn Chương, Xuân Trường, Quang Đạm cũng đăng trên báo Nhân dân và cùng nằm trong phạm trù những ý kiến là có ý đổ cho anh em Nhân vănGiai phẩm là muốn tách rời văn nghệ khỏi chính trị, chịu ảnh hưởng của nhân văn tư sản, không chịu sự lãnh đạo của Đảng, nói xấu chế độ v.v…
Sau đây là những ý kiến tôi đặt lại vấn đề với ông Hoàng Xuân Nhị. Trong nhận thức sai lầm của ông và ý kiến văn học của Lê-nin.

Trong bài “Tổ chức của Đảng và văn học của Đảng” mà ông Hoàng Xuân Nhị dịch là “tổ chức của Đảng và văn học có Đảng tính” của Lê-nin đã nêu lên hai vấn đề:

1. Vấn đề văn học của Đảng nghĩa là văn học tuyên truyền cho những nguyên lý tư tưởng và tổ chức của Đảng Bôn-sê-vik.

2. Vấn đề đảng tính trong sự sáng tác văn học, theo nghĩa rộng của nó. (Những ý kiến này chúng tôi dựa vào tập Lê-nin và những vấn đề văn học Nga của Boris Meilakh. Nhà xuất bản Xã hội 4-4-56).

Sự phân biệt hai vấn đề này rất quan trọng, nếu không rất dễ đi đến những hành động máy móc, hẹp hòi, thô bạo.

Trong vấn đề văn học của Đảng, Lê-nin viết: “Tất cả văn học của Đảng, dù là địa phương hay Trung ương phải phục tùng một cách vô điều kiện Hội nghị của Đảng và những tổ chức địa phương hay trung ương của Đảng. Sự tồn tại của một văn học của Đảng mà không liên hệ với Đảng theo tổ chức thì không thể dung nạp được.” (Lê-nin toàn tập cuốn X, trang 144). Đó là thời kỳ trước cách mạng 1905-1907, Đảng Bôn-sê-vik tích cực hoạt động chống bọn Men và báo chí của chúng đang tuyên truyền xuyên tạc chủ nghĩa Mác-xít dưới danh nghĩa “mác-xít”. Ông Hoàng Xuân Nhị đã máy móc đưa thời gian lịch sử của thời kỳ trước cách mạng 1905-1907 đem áp dụng vào hoàn cảnh xã hội ta hiện nay. Chính trong nguyên tắc căn bản đó, Lê-nin đã nhắc nhở các nhà văn của Đảng là “Sự nghiệp văn học phải trở thành một bộ phận trong toàn bộ sự nghiệp của giai cấp vô sản, phải trở thành một bộ phận cấu tạo trong công tác của Đảng…” Theo tinh thần nguyên tắc đó các nhà văn của Đảng, các nhà văn đảng viên, các nhà văn viết trên báo chí của Đảng, tuyệt đối phải chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, của tổ chức của Đảng, không được nhân danh Đảng để tuyên truyền những quan điểm chống Đảng (cuốn X, trang 31), và khi Lê-nin viết “đả đảo những nhà văn học phi Đảng” (mà ông Hoàng Xuân Nhị chú thích sai là chống lại Đảng thời ấy) chính là nhằm phản đối những nhà văn đảng viên chủ trương đứng trên tổ chức của Đảng, phản đối những nhà văn Men-sơ-vích tán thành sự công tác của nhà văn xã hội dân chủ với các tờ báo tư sản (lúc bấy giờ là giai cấp cầm quyền). Nó hoàn toàn không giống một chút nào với trường hợp của anh em Nhân vănGiai phẩm đương đấu tranh đòi mở rộng tự do dân chủ chống những tệ lậu của lãnh đạo. Gán ghép như ông Hoàng Xuân Nhị tỏ ra rằng một là ông Nhị không tiêu hoá được tài liệu, hai là ông Nhị đã lợi dụng tài liệu một cách xuyên tạc. Nó không đúng với tinh thần trung thực của người trí thức.

Ông Nhị còn đề nghị:

Bài của Lê-nin được viết ra cuối năm 1905 thời mà Đảng chưa lên nắm chính quyền. Đến lúc Đảng đã nắm chính quyền rồi thì lẽ cố nhiên nguyên tắc Đảng lãnh đạo và tổ chức lãnh đạo chuyên môn lại càng chặt chẽ hơn nữa”.

Sáng tỏ và chặt chẽ hơn, đồng ý. Nhưng chặt chẽ như thế nào? Có phải chặt chẽ là văn học nhất cử nhất động phải tuân theo ý kiến của một phái, chặt chẽ là chuyên môn vâng theo những ý kiến về chuyên môn của một số lãnh đạo không am hiểu về chuyên môn không?
Danh từ chặt chẽ buông xuôi như thế, rất có thể dẫn đến những sai lầm tai hại.
Vấn đề thứ hai là vấn đề đảng tính trong văn học.

Lê-nin đã giải thích văn học có đảng tính như thế nào? Trong sự đấu tranh chống lại văn học tư sản địa vị chủ nghĩa, cá nhân chủ nghĩa, vô chính phủ v.v… “Lênin đã đề nghị sáng tạo ra một nền văn học xã hội chủ nhĩa, thực sự tự do và liên hệ công khai với văn học của giai cấp vô sản. Theo ý Lê-nin thì nền văn học đó phải thấm nhuần tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Nó phải phục vụ cho hàng triệu triệu người lao động, những người con ưu tú, sức mạnh và tương lai của đất nước. Nền văn học đó phải là mối dây nối giữa kinh nghiệm quá khứ và cuộc đấu tranh hiện đại của giai cấp vô sản.” (B. Leilakh)
Văn học có đảng tính là như thế. Nó là một nền văn học “thấm nhuần tư tưởng xã hội chủ nghĩa, công khai bênh vực quyền lợi của nhân dân đứng trên lập trường của Đảng”. Cho nên văn học có đảng tính tuyệt đối không có nghĩa là văn học của những nhà văn trong tổ chức của Đảng. Càng tuyệt đối không có nghĩa là bắt buộc tất cả mọi nhà văn phải vào tổ chức của Đảng. Một tấm thẻ đảng viên không thể bảo đảm được đảng tính của một tác phẩm văn học. Trái lại một tác phẩm văn học có đảng tính rất có thể là của một nhà văn đứng ngoài tổ chức của Đảng.
Ví dụ: Mai-a-cốp-ski, Lỗ Tấn v.v…
Văn học có đảng tính nghĩa là văn học có lập trường đấu tranh rõ rệt trong “ý nghĩa thống nhất và tự nguyện” của những người sáng tác văn học xã hội chủ nghĩa. Như thế thì người sáng tác có đủ mọi quyền tự do của mình, tất nhiên cả quyền tự do tư tưởng, có quyền đi sâu vào từng sở thích riêng của mình. Lê-nin đã viết:
Trong lãnh vực đó, tuyệt đối cần phải bảo đảm một sự tự do rộng lớn cho sáng kiến cá nhân, cho các khuynh hướng cá nhân, bảo đảm sự tự do tư tưởng và sức tưởng tượng, sự tự do về hình thức và về nội dung.” (Cuốn X trang 28)
Ta thấy ngày trước Lê nin đã có một quan niệm rộng rãi trong sự sáng tác văn học. Chính Lê-nin đã khiêm tốn trả lời Clara Zetkin khi hoạ sĩ này hỏi ý kiến Lê-nin về hoạ lập thể và vị lai:
Tôi không biết nhiều về lãnh vực đó, nhưng tôi nghĩ rằng nếu những nhà nghệ sĩ trẻ tuổi biểu lộ nhiều cảm xúc của mình trước những xu hướng đó thì nó phải có một lý do hợp lý và người ta cần phải phân tích cái lý do đó theo quan điểm xã hội học.” (Les Lettres Francaices số 609)
Lê-nin đã không kết án phái hoạ đó và Lê-nin đã đặt vấn đề cần phải phân tích nghiên cứu nội dung xã hội của nó…
Do sự không phân biệt nổi hai vấn đề văn học của Đảng và văn học có đảng tính trên, nên chỉ quan niệm về tự do tư tưởng ông Nhị cũng đã ngã vào những sai lầm nghiêm trọng:
Hoàng Xuân Nhị chứng minh rằng sở dĩ các nhà văn nghệ được tự do tư tưởng là nhờ Đảng. Ông đã đem ví dụ con chim bay trên bầu trời xanh để làm chân lý phổ biến muôn đời. Trong lịch sử tư tưởng của con người, người văn nghệ sĩ cũng như người khoa học, triết học qua bao chế độ khác nhau, dù bị giai cấp thống trị hành hạ, giết chết cũng không vì quyền uy mà huỷ bỏ ý kiến sáng tạo của mình: M. Servet và L. Vanini trên giàn củi lửa cũng không từ bỏ tư tưởng khoa học của mình; Cao Bá Quát đâu có vì lưỡi đao bạo lực của triều Nguyễn mà mất cái khí thế ngang tàng bất khuất của kẻ sĩ biết tự trọng.
Xuất phát từ lệch lạc đó, Hoàng Xuân Nhị cho rằng nhờ có Đảng mới có tự do tư tưởng. Như ý kiến tôi vừa trình bày, tôi hỏi lại ông Nhị là có Đảng rồi mới có quần chúng hay có quần chúng rồi mới có Đảng? Như thế thì rõ ràng là không phải có Đảng người văn nghệ sĩ mới có tự do tư tưởng mà ngay những thế kỷ trước cũng như thời kỳ trước cách mạng, mặc dầu thực dân đàn áp khủng bố, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan vẫn kiên quyết tự do tư tưởng, tố cáo “cái xã hội chó đểu” buộc tội giới cầm quyền bấy giờ. Lúc ấy họ ấy họ có là đảng viên đâu; chỉ có là sáng tác phẩm của họ chịu ảnh hưởng ít nhiều của phong trào đấu tranh cách mạng mà thôi.
Như thế thì tự do tư tưởng không phải là một vấn đề do Đảng ban ơn cho quần chúng như ông Nhị đã lầm tưởng. Sở dĩ quần chúng văn nghệ sĩ mến Đảng, tin Đảng, thừa nhận sự lãnh đạo là vì Đảng là người lính tiền phong trong đội quân tự do tư tưởng đó, đã đấu tranh vì quyền lợi của nhân dân lao động cũng là mục đích của họ đấu tranh trong sáng tác văn học. Đảng tạo điều kiện tốt cho người ta tự do tư tưởng.
Trên đây, tôi đã trả lời ông Hoàng Xuân Nhị về một điểm lý luận chủ chốt trong bài của ông.
Tôi xin nói qua một số điểm khác. Để chứng tỏ những non yếu trong kiến thức của ông Nhị, và đề nghị ông nên khiêm tốn học hỏi hơn.
Dưới cái đầu đề rất to “Chủ nghĩa nhân văn của chúng ta”, dưới những đề mục có vẻ khoa học ông Nhị đã có những lập luận nông cạn và sơ đẳng.
Chẳng hạn trong mục “Quan điểm khoa học” ông viết: “Không sùng bái cá nhân vì bản thân mình quá sùng bái cá nhân mình thì không hay ho gì hơn và chắc cũng đã kém hay ho hơn là sùng bái lãnh tụ“.
Thật là lý luận buồn cười. Theo ông Nhị thì có lẽ khuyết điểm sùng bái cá nhân nặng nhẹ tuỳ theo cấp bực, sùng bái cán bộ cao cấp thì hay ho hơn sùng bái cán bộ trung cấp v.v… Thật là phê bình bệnh sùng bái cá nhân mà bệnh sùng bái cá nhân nó lại thò ra ngay từ túi mình. Quan điểm ông đưa ra không khoa học như ông tưởng.
Đấy là về khoa học. Bây giờ về nghệ thuật. Nói về chủ nghĩa lập thể và Picasso, ông Nhị viết: “Trong khoảng 8 năm hoạ sĩ đã tiến nhiều… chúng ta không hoan nghênh phần lập thể hoặc đa đa chủ nghĩa nơi hoạ sĩ là đúng thôi” (thật là oan cho Picasso vì Picasso có theo chủ nghĩa đa đa bao giờ đâu, có lẽ ông Nhị nên nghiên cứu thêm về văn học và nghệ thuật thế giới hồi đầu thế kỷ XX để nắm vững hơn) “… Và phần tiến bộ của hoạ sĩ vượt khỏi hẳn chủ nghĩa đa đa, như con chim bồ câu hoà bình…”
Chết thật! Nói về tác phẩm nghệ thuật của Picasso mà chỉ nhắc đến con chim bồ câu hoà bình thôi thì tai hại quá. Chúng ta không phủ nhận giá trị của con chim bồ câu, nhưng không biết ông Nhị có biết đến bức Guernica hồi chiến tranh Tây Ban Nha và bức Chiến tranh và Hoà bình hồi gần đây không? Nó vẫn lập thể đấy ông Nhị ạ! Mà hội hoạ thế giới vẫn công nhận nó, mà Aragon người phụ trách văn nghệ của Đảng Cộng sản Pháp vẫn ca ngợi nó.
Ông Nhị thường hay dẫn Lê-nin, sao ông Nhị không học Lê-nin về thái độ khiêm tốn, tôn trọng tự do sáng tác và nghệ thuật độc đáo, tôn trọng cá tính con người? Ông Nhị đã vội vàng chê trách người ta là quá ư nông nổi
Ông Nhị sa vào sai lầm đó cũng dễ hiểu. Bởi lập luận như Palisse thì nguyên nhân chính là vì Lê-nin là Lê nin và ông Hoàng Xuân Nhị mặc dầu luôn nhắc đến Lê-nin cũng vẫn chỉ là ông Hoàng Xuân Nhị.
Trong một bài báo ngắn tôi đã cố gắng trình bày vài sai lầm hoặc vài thiếu sót của ông Nhị về mặt kiến thức. Tôi xin đề nghị với ông Nhị một điều mà ông Nhị đã từng đề nghị với anh em Nhân vănGiai phẩm: cố gắng nghiên cứu, suy nghĩ để giữ cho được bản chất trung thực của người trí thức.
(Trích báo Nhân văn số 4 ngày 5-11-1956)

Nguồn: Hoàng Văn Chí, Trăm hoa đua nở trên đất Bắc. Mặt trận Bảo vệ Tự do Văn hoá xuất bản, Sài Gòn 1959. 318 trang. Nguyệt san Ngày về tái bản, Hướng Việt phát hành. In tại nhà in Lion Press, 3018 Akron Ct, Denver Co. 80231. Bản điện tử do talawas thực hiện.

Trần Trung Đạo – Tranh chấp Mỹ – Trung, một cảnh giác cho lòng yêu nước

 

Trần Trung Đạo – Tranh chấp Mỹ – Trung, một cảnh giác cho lòng yêu nước

Tại Diễn đàn Khu vực về Hợp tác an ninh ở châu Á tổ chức tại Hà Nội hôm 23 tháng Bảy, 2010, Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tuyên bố: “Hoa Kỳ, giống như các quốc gia khác, có quyền lợi quốc gia về tự do hàng hải, mở cửa những thủy lộ chung tại châu Á, và tôn trọng luật pháp quốc tế trên Biển Đông. Hoa Kỳ chia sẻ quyền lợi này chẳng những với các quốc gia thành viên ASEAN hoặc các quốc gia tham dự Diễn đàn Khu vực ASEAN; mà còn với các quốc gia có nhu cầu về hàng hải khác và cộng đồng quốc tế rộng lớn hơn”. Ngoài ra bà cũng tuyên bố Hoa Kỳ ủng hộ việc quốc tế hóa cuộc tranh chấp hải phận và giải quyết tranh chấp trên cơ sở công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển và “chống lại việc bất cứ một quốc gia tranh chấp nào xử dụng vũ lực”. Mặc dù Ngoại Trưởng Clinton xác định vai trò trung lập của Hoa Kỳ, những lời tuyên bố của bà rõ ràng nhằm bênh vực các nước nhỏ trong vùng, nhất là Viêt Nam. Ngoại Trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì giận dữ phản ứng: “Nhận xét của bà Clinton có vẻ như thực sự nhằm mục đích tấn công Trung Quốc bằng cách tạo ra một ảo ảnh rằng tình hình Biển Đông là đáng báo động”. Theo bình luận của báo New York Times, đây là “một chiến thắng đầy ý nghĩa đối với Việt Nam”.

Trong ba tuần qua, lần đầu tiên sau 35 năm, các phương tiện truyền thông của Đảng lẫn chống Đảng từ trong nước cũng như chống Cộng từ ngoài nước đã loan tải những lời tuyên bố cứng rắn của bà Ngoại Trưởng Mỹ Hillary Clinton kèm theo những lời bình luận vui mừng, tích cực giống nhau.

Điều đó cũng dễ hiểu. Khoan kể mối thù truyền kiếp giữa Trung Quốc và Việt Nam từ mấy ngàn năm trước, khi tổ tiên chúng ta phải sáng xuống biển tìm ngọc trai, chiều lên non tìm ngà voi, trầm hương, châu báu; khoan kể đến hàng triệu tấn súng đạn, xe tăng, đại pháo Trung Quốc đã cày xéo lên quê hương Việt Nam trong suốt cuộc chiến dài; khoan kể những tư tưởng độc hại Cộng sản Trung Quốc đã cấy vào tâm hồn bao thế hệ Việt Nam, chỉ nhắc đến Hoàng Sa Trường Sa, chỉ nhắc đến ngư dân Thanh Hóa thôi là máu hận đã xông lên trong mỗi con người Việt Nam. Trong lúc đang hoàn cảnh sức yếu thế cô, có một người mạnh như Mỹ từ xa đến bênh vực và nói lên lời phải trái, vui mừng là chuyện tự nhiên.

Mỹ đang trở lại”. Câu nói đó, suốt tháng qua, hẳn đã dội lại từ Nam ra Bắc và từ Bắc vào Nam trong tâm trạng hồi hộp đợi chờ của rất đông người Việt. Hình ảnh một hàng không mẫu hạm George Washington hùng mạnh đậu ngoài khơi Đà Nẵng như nhắc nhở câu chuyện của tháng Ba 1965 khi Chuẩn Tướng Frederick J. Karch và các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Viễn Chinh đổ bộ xuống thành phố này mở đầu cho cuộc chiến lâu dài nhất mà Mỹ đã tham gia. Khác chăng lần này Mỹ trở lại không phải để bảo vệ miền Nam nhưng bảo vệ Việt Nam. Ở hải ngoại, thậm chí có người còn đi xa hơn khi cho rằng người Mỹ sẽ giúp xây dựng một chế độ tự do dân chủ để họ sớm trở về sống những ngày cuối đời trong thanh bình, an lạc. Ở trong nước có vị còn nóng lòng cho rằng Việt Nam phải gấp rút chế bom nguyên tử. Tất cả không hẹn đã vô tình sắp hàng dưới ngọn cờ của Đảng. Như thế mới biết tình yêu nước, dù trong một thanh niên hay một chính trị gia giàu kinh nghiệm, có khi cũng vội vàng và đầy cảm tính như nhau.

Những lời tuyên bố của bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton thật ra phát xuất từ chính sách ngăn chận (containment) đã bắt nguồn từ sau Thế Chiến thứ Hai. Một số nhà bình luận gọi chính sách Mỹ đang áp dụng là ngăn chận mới (new containment) mang nội dung kinh tế quân sự để phân biệt với chính sách ngăn chận thời Chiến Tranh Lạnh mang nội dung chống Cộng sản. Để hiểu các hoạt động của Mỹ trong vùng Đông Nam Á, thiết tưởng nên đọc lại chính sách ngăn chận mà Mỹ đã và đang áp dụng.

Tháng 2 năm 1946, George F. Kennan còn là một nhân viên ngoại giao trung cấp làm việc cho tòa đại sứ Mỹ tại Liên Xô. Để đáp lại câu hỏi của Bộ Tài Chánh Mỹ gởi tòa đại sứ tại sao Liên Xô lại chống lại việc thành lập Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế, George F. Kennan gởi Bộ Ngoại giao Mỹ một bản phân tích qua hình thức một điện tín dài 5,500 chữ, trong đó ông trình bày một cách chi tiết quan điểm của Stalin về tương lai nhân loại, mục tiêu và chiến lược của Liên Xô sẽ được áp dụng trên phạm vi toàn thế giới, điểm mạnh và điểm yếu của chế độ Cộng sản, đồng thời đề nghị một số biện pháp cần thiết phải được áp dụng để ngăn chận làn sóng Cộng sản.

Bài phân tích của George Kennan không có tựa đề nên chỉ được biết ngày nay như là Bức Điện Tín Dài. Nếu bản phân tích được gởi đến Bộ Ngoại giao Mỹ một năm trước đó, có lẽ nó đã vào sọt rác hay đi thẳng vào phòng lưu trữ vì Mỹ và Liên Xô còn đang liên minh nhau tấn công Đức từ hai hướng Đông, Tây. Nhưng tháng 2 năm 1946, văn kiện đã làm Bộ Ngoại giao chú ý. Chính tổng thống Harry S. Truman cũng chỉ thị thành lập một nhóm nghiên cứu để phân tích bản tường trình của George Kennan và phát thảo một chính sách đối ngoại dựa trên các dữ kiện mà ông đưa ra. Bức điện tín của George Kennan được xem như một trong những văn kiện lịch sử bởi vì nó ảnh hưởng đến toàn bộ chính sách đối ngoại của Mỹ trong gần nửa thế kỷ, từ sau Thế chiến thứ Hai cho đến khi hệ thống Liên Xô sụp đổ năm 1991. Chính sách đối ngoại chỉ đạo của Mỹ đặt cơ cở trên những phân tích của George Kennan được gọi là ngăn chận (containment).

Hàng loạt các chủ thuyết như Domino, Nixon, Reagan; các kế hoạch kinh tế như Marshall Plan; các liên minh như Liên phòng Bắc Đại Tây Dương (The North Atlantic Treaty Organization) gọi tắt là NATO tại châu Âu, Liên Phòng Đông Nam Á (Southeast Asia Treaty Organization) gọi tắt là SEATO tại Đông Nam Á hay Hiệp ước Hỗ tương Liên Mỹ Châu (Inter‐American Treaty of Reciprocal Assistance) tại Mỹ Châu cũng đều phát xuất từ chính sách chỉ đạo ngăn chận đó. Suốt 9 đời tổng thống từ Harry Truman đến George Herbert Walker Bush, tùy thuộc vào điều kiện chính trị quốc tế trong mỗi giai đoạn, các chiến lược chiến thuật cũng được thay đổi thích nghi nhưng đều không đi xa mục tiêu chính là ngăn chận sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản. George Kennan được xem như là cha đẻ của lý thuyết ngăn chận.

Chính sách ngăn chặn đã diễn ra dưới nhiều hình thức. Bên cạnh cuộc chạy đua vũ trang, Star Wars, viện trợ và phản viện trợ, đảo chánh và phản đảo chánh, cách mạng và phản cách mạng, các cuộc giành dân chiếm đất bằng súng đạn cũng đã diễn ra tại một số quốc gia độn với nhiều mức độ khác nhau.

Các lý thuyết về quốc gia độn có nguồn gốc rất xa xưa nhằm chỉ các vùng đất hay quốc gia nhược tiểu nằm giữa hai cường quốc đối nghịch. Từ thời La Mã, các hoàng đế của đế quốc mênh mông đó đã nghĩ đến việc thiết lập các vùng đất rộng được gọi là vùng giới hạn nằm ngoài biên giới. Về sau, các học giả giải thích khái niệm vùng độn một cách rộng rãi chứ không chỉ thuần nguyên nhân địa lý. Vùng độn có khi chỉ là một dải đất rộng vài chục cây số vuông để bảo đảm cho an ninh nội địa như trường hợp các làng xã nằm phía Nam Lebanon và khu vực Golan Height đối với nền an ninh Do Thái, có khi là một quốc gia như trường hợp Ba Lan sau Thế chiến thứ Nhất nằm giữa Nga và Đức, có khi bao gồm nhiều quốc gia như hàng loạt các nước Đông Âu nằm giữa Liên Xô và khối dân chủ Tây phương, cũng có khi bao gồm chỉ một quốc gia và một khối như trường hợp Thổ Nhĩ Kỳ, Phần Lan.

Sau chiến tranh Việt Nam, chính sách Ngăn Chặn của Mỹ dưới thời Tổng thống Jimmy Carter và nhất là Ronald Reagan đã chuyển từ thế thủ sang thế công ở Afghanistan như Brzezinski kể lại “Nay chúng ta cơ hội để tặng cho Nga một Việt Nam riêng của họ”, bằng việc yểm trợ vũ khí cho phe Contras ở Nicaragua, giúp đỡ cho Liên minh Dân tộc Vì Độc lập Hoàn toàn của Angola (The National Union for the Total Independence of Angola, UNITA) ở Angola, đồng thời đẩy mạnh với kế hoạch chạy đua vũ trang vô cùng tốn kém nhằm làm phá sản nền kinh tế Liên Xô. Cuối cùng hệ thống Liên Xô kiệt quệ và tan rã.

Hiện nay, chủ nghĩa Cộng sản chỉ còn thoi thóp ở vài nơi, Chiến tranh Lạnh đã chấm dứt nhưng chính sách ngăn chận đối với Nga và Trung Quốc, hai đối thủ nguyên tử đang cạnh tranh kinh tế và quân sự với Mỹ vẫn được tiến hành.

Đối với Nga, bất chấp lời hứa vào những năm đầu 1990 rằng NATO sẽ không mở rộng ra khỏi biên giới Đức, Mỹ đã mời hàng loạt quốc gia, không chỉ các nước thuộc khối Cộng sản Đông Âu trước đây mà còn những quốc gia nhỏ nhưng có biên giới sát với Nga như Latvia, Lithuania, Estonia tham gia vào NATO. Ngoài ra, Mỹ còn dự tính thiết lập hàng rào hỏa tiễn tại Ba Lan để gọi là “phòng thủ” nhưng thực tế là “trung lập hóa” hàng rào hỏa tiễn Nga. Lãnh tụ Nga Vladimir Putin xem kế koạch của Mỹ chẳng khác gì dựng lên một Cuba ở Đông Âu. Ở phía Nam, Mỹ bao vây Nga bằng cách ủng hộ Ukraine và Georgia. Ukraine giữ một vị trí cực kỳ quan trọng về cả chiến lược lẫn văn hóa. Các sử gia Nga theo truyền thống vẫn gọi thủ đô Kiev là “Mẹ của các thành phố Nga”. Mỹ cũng ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Kosovo và công khai phản đối Nga khi họ thẳng tay đàn áp phong trào đòi ly khai của dân Chechnya, một trong 83 Cộng hòa độc lập trong Liên bang Nga. Dù sao, chuyến viếng thăm Nga của tổng thống Barack Obama vào đầu tháng 7, 2009 đã giúp làm dịu một số căng thẳng giữa hai nước. Nga đơn phương cho phép võ khí và quân đội Mỹ được sử dụng không phận Nga trên đường đến Afghanistan thay vì phải vượt qua đèo Khyber hiểm trở. Hai tháng sau đó, Obama đã làm Vladimir Putin ngạc nhiên khi tuyên bố hủy bỏ kế hoạch xây dựng phòng tuyến hỏa tiễn tại Ba Lan. Đáp lại, Nga cũng hủy bỏ ý định trả đũa các dự tính quân sự tại Ba Lan của cựu tổng thống George W. Bush.

Việc làm dịu quan hệ ngoại giao giữa Mỹ và Nga cũng dễ hiểu vì đối thủ chính trong thế kỷ 21 của Mỹ không phải Nga mà là Trung Quốc.

Nếu tính từ thời điểm 1978, khi chính sách đổi mới của Đặng Tiểu Bình ra đời đến nay, Trung Quốc là quốc gia phát triển nhanh nhất thế giới. Chỉ trong vòng chưa đầy 30 năm, lợi tức bình quân tính theo đầu người của Trung Quốc vào năm 2005 tăng gấp 9 lần. Mới đây, đệ nhị cá nguyệt của 2010, Trung Quốc chính thức qua mặt Nhật Bản để trở thành nước có nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Trung Quốc là nhà máy sản xuất hàng tiêu dùng cho cả thế giới. Dù thương hay ghét, dù ủng hộ hay bài trừ, một nửa đồ dùng trong trong nhà một gia đình Mỹ được chế tạo tại Trung Quốc. Từ chiếc DVD, TV, máy in, máy điện toán cá nhân, giày dép, áo quần và ngay cả lá cờ Mỹ, cũng “Made in China”.

Ngoài các lý do chủ quan phát xuất từ chính sách kinh tế của họ Đặng, một yếu tố khách quan thuận lợi cho việc phát triển nhanh chóng là việc nước này hội nhập vào thế giới đúng thời điểm nền kinh tế thế giới đang bắt đầu chuyển động theo hướng toàn cầu hóa. Chỉ trong vòng 25 năm, từ một quốc gia tự cô lập, Trung Quốc trở thành một cường quốc và đang tiếp tục xuất hiện như một siêu cường của thế kỷ 21. Chính sách của Trung Quốc ảnh hưởng cả thế giới, không phải chỉ trong lãnh vực kinh tế, tài chánh, ngân hàng mà cả chính trị và quân sự.

Nếu lịch sử là một chu kỳ lặp lại, tham vọng bành trướng của Trung Quốc không khác nhiều so với thời kỳ sau cuộc cách mạng kỹ nghệ và chủ nghĩa Thực dân Âu châu bắt đầu xâm thực các nước Á, Phi vào đầu thế kỷ 18. Chỉ trong vòng 6 năm, từ 2001 đến 2006, quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và các nước Phi Châu đã tăng từ 1 tỉ đô la đến 50 tỉ đô la. Hai chục năm trước đây, ít khi các lãnh đạo Trung Quốc đặt chân đến Phi châu, nhưng chỉ trong 5 năm qua, các lãnh đạo hàng đầu Trung Quốc đã viếng thăm Phi châu 5 lần để tăng cường các hợp tác kinh tế quân sự giữa Trung Quốc và lục địa đầy tài nguyên thiên nhiên này. Trung Quốc hiện diện cùng khắp Phi Châu, từ bệnh viện đến trường học, từ cầu cống đến phi trường và đang tiêu diệt tận gốc rễ mọi mầm mống phát triển kinh tế của các quốc gia mới vừa thoát khỏi ách thực dân và nội chiến. Giấc mơ độc lập của các nước châu Phi chỉ là một giấc mơ trong quá khứ.

Tuy nhiên, con bạch tuộc Trung Quốc rất hùng hổ, rất đe dọa đối với thế giới bên ngoài nhưng lại rất yếu đuối, mong manh trong nội bộ. Bà Susan L.Shirk, một học giả quan tâm đến Trung Quốc khi còn là một những sinh viên Mỹ thăm viếng Trung Quốc và được Thủ tướng Chu Ân Lai chào đón vào năm 1971, trong tác phẩm Trung Quốc, siêu cường dễ vỡ cho rằng đe dọa lớn nhất của Trung Quốc là từ bên trong.

Về chính trị. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc không phải lo ứng cử đề cử như các quốc gia dân chủ, nhưng lại cho sợ mất quyền hành hơn là các lãnh đạo Tây phương dân chủ. Bài học Liên Xô và các chế độc tài khác trong lịch sử đã cho giới lãnh đạo Cộng sản Trung Quốc biết không sớm thì muộn tòa lâu đài xây trên cát hiện nay cũng bị ngọn sóng dân chủ cuốn ra khơi. Các lãnh đạo Cộng sản Trung Quốc luôn bị ám ảnh với các những cuộc nổi dậy như Thiên An Môn có thể xảy ra bất cứ lúc nào và bất cứ tại đâu trên lãnh thổ mênh mông và đầy dị biệt sâu sắc về kinh tế, văn hóa, xã hội. Sự thay đổi các triều đại phong kiến Trung Quốc là những cuộc thanh toán nhau bằng máu. Ngày nay, những mâu thuẫn giữa mức độ xã hội hóa của nền kinh tế và cơ chế chính trị ngày càng trầm trọng đến nỗi nhiều học giả cho rằng vấn đề không phải chế độ độc tài Cộng sản tại Trung Quốc có sụp đổ hay không mà là sớm hay muộn.

Về kinh tế. Nền kinh tế Trung Quốc tăng liên tục trong mấy chục năm qua nhưng không có nghĩa là sẽ tăng mãi mãi. Nền kinh tế Trung Quốc tuy nằm trong tay một đảng có tổ chức rất cao, nhưng sự tăng trưởng kinh tế Trung Quốc phần lớn lệ thuộc vào kinh tế thế giới. Một định luật có tính lặp lại theo chu kỳ của nền kinh tế thị trường là tăng trưởng, suy thoái và điều chỉnh. Và khi có sự điều chỉnh, kinh tế thị trường sẽ dẫn đến hậu quả thất nghiệp trong kỹ nghệ và trong nông nghiệp, lạm phát gia tăng, giá cả đắt đỏ, tiền lương hạ thấp, tiền tiết kiệm ký thác trong ngân hàng sẽ bị hàng trăm triệu người đạp lên nhau để rút ra. Thời đại tin học có lợi nhưng cũng vô cùng tác hại khi các nguồn tin được tung ra quá nhanh chóng, nhưng lại không có phương tiện để kiểm chứng. Quân đội dù có đông đảo và tàn bạo bao nhiêu cũng không thể ngăn được làn sóng của một tỉ người từ Hải Nam đến Tân Cương đều có một phản ứng tiêu cực giống nhau. Các cuộc biểu tình ở Tân Cương mới đây cho thấy không nhất thiết phải có một tổ chức quy mô nhưng chỉ cần một tin ngắn được phát ra đúng lúc và đúng chỗ cũng có thể tạo nên một biến cố lớn. Bom nguyên tử, hỏa tiễn, chiến hạm, tàu ngầm đều trở thành vô dụng.

Về quân sự. Trung Quốc là một đất nước có lịch sử phân hóa và nội phản từ trong xương tủy. Là một nước lớn, nhưng Trung Quốc thường không đủ khả năng bảo vệ chính mình. Đừng nói chi thời cuối đời nhà Thanh bị 8 nước Mỹ và Âu Châu cấu xé, mà ngay thời nhà Tống vàng son nhất của Trung Quốc cuối cùng rơi vào tay Mông Cổ, một nước rất nhỏ trên thảo nguyên phía Bắc. Và một lần nữa vào thế kỷ 17, khi nhà Minh, một triều đại rất mạnh về quân sự nhưng cũng không tránh bị tiêu diệt trong bàn tay của dân tộc Mãn Thanh nhỏ bé. Lịch sử Trung Quốc cũng để lại rất nhiều bài học về các cuộc nổi loạn lớn làm lung lay tận gốc rễ nhiều đế chế trước đó tưởng chừng không thể nào sụp đổ. Cuộc nổi dậy Thái Bình Thiên Quốc là một ví dụ điển hình. Mặc dù loạn Hồng Tú Toàn bị dẹp nhưng đã mang theo sinh mạng của 20 triệu người trong 15 năm khói lửa. Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ không được may mắn như nhà Thanh vì họ sẽ không tồn tại được lâu như thế.

Về xã hội. Trước thời mở cửa kinh tế, đại đa số người dân Trung Quốc lớn lên từ nơi họ sinh ra nhưng từ khi kinh tế phát triển, lực lượng lao động của Trung Quốc đổ dồn vào các thành phố. Sự chênh lệch giữa giàu và nghèo, đô thị và nông thông ngày càng trầm trọng. Tại Trung Quốc, chỉ 10 phần trăm dân số chiếm hữu 45 phần trăm tài sản quốc gia. Sự phân cực trong xã hội do hậu quả của phát triển kinh tế không cân bằng sẽ dẫn đến tình trạng bất ổn xã hội. Giống như các nước dân chủ, khi gặp khó khăn, người dân sẽ đặt vấn đề với hàng ngũ lãnh đạo, nhưng khác với các nước dân chủ, cách giải quyết tại Trung Quốc cũng như tại hầu hết các nước độc tài thường diễn ra bằng sắc máu. Với sự phân cách về địa lý và dị biệt về chủng tộc tại Trung Quốc, sẽ không có một hình thức cách mạng nhung, cách mạng da cam, da vàng nào dành cho Trung Quốc. Cách giải quyết dùng xe tăng, đại pháo bắng thẳng vào những thanh niên tay trắng tại Thiên An Môn của Đặng Tiểu Bình đối với phần lớn nhân loại là dã man nhưng lại phù hợp với truyền thống dã man của Trung Quốc. Biến cố Thiên An Môn đã qua gần 20 năm nhưng vẫn là mối ám ảnh thường xuyên trong giấc ngủ của các lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc bởi vì đảng chỉ dập tắt ngọn lửa trên quảng trường Thiên An Môn nhưng không dập tắt được ngọn lửa chống đối trong lòng người. Ngọn lửa tự do dân chủ đó vẫn sáng và sẽ một ngày bùng cháy.

Về đối ngoại. Trung Quốc có nhiều đối thủ lợi hại, trong đó gồm Nhật Bản, Ấn Độ, và Mỹ. Quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và Mỹ trong 10 năm qua đã phát triển đến một mức độ vô cùng phức tạp. Mỹ là một trong những quốc gia nhập cảng nhiều nhất từ Trung Quốc, từ 100 tỉ đô la năm 2000 đến 296 tỉ đô-la vào năm 2009. Trung Quốc nhập cảng từ Mỹ cũng tăng từ 16 tỉ đô-la năm 2000 đến 70 tỉ đô-la năm 2009. Tuy nhiên, sự phụ thuộc vào nhau về mặt kinh tế không có nghĩa là các chính quyền Mỹ không xem Trung Quốc là đối thủ nguy hiểm trong tương lai gần và không có nghĩa là Mỹ ngồi yên để nhìn bàn tay tham vọng của Trung Quốc vươn xa toàn thế giới.

Ngày 29 tháng Giêng, 2010, chính quyền Obama chấp thuận thương vụ trị giá 6.4 tỉ đô-la gồm trực thăng Black Hawk và võ khí chống hỏa tiễn Patriots, tàu vét mìn cho Đài Loan, cùng với việc hợp tác để sản xuất tàu ngầm hoạt động trong vùng biển mà Trung Quốc cho là thuộc lãnh hải của họ. Trung Quốc luôn xem Đài Loan thuộc về Trung Quốc, do đó, như Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc He Yafei tức khắc phản đối cho rằng Mỹ đã can thiệp vào vấn đề nội bộ của Trung Quốc. Trung Quốc trả thù bằng cách hủy bỏ các thương vụ của Trung Quốc với các công ty Mỹ đang bán võ khí cho Đài Loan. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ đáp lại: “Đây là một bằng chứng rõ ràng, chính phủ Mỹ phải cung cấp cho Đài Loan các võ khí phòng thủ mà họ cần”. Ngoài ra, chính phủ Mỹ xác định tiếp tục xem xét nhu cầu phòng thủ không phận Đài Loan trước khi bán cả phi cơ chiến đấu F-16 tinh xảo cho Đài Loan.

Sau đó hai tuần lễ, ngày 18 tháng Hai 2010, Tổng Thống Barack Obama đã tiếp kiến Đức Đạt Lai Lạt Ma tại tòa Bạch Ốc. Lần nữa, Trung Quốc đã phản đối mạnh mẽ và cho rằng việc tiếp vị lãnh đạo tinh thần nhân dân Tây Tạng là vi phạm lời cam kết của Mỹ rằng Tây Tạng là một phần của Trung Quốc. Mỹ đáp lại, mặc dù Mỹ công nhận Tây Tạng là một phần của Trung Quốc nhưng Trung Quốc cũng phải tôn trọng sự khác biệt văn hóa giữa Tây Tạng và phần còn lại của Trung Quốc. Để làm nhẹ ảnh hưởng của buổi tiếp kiến, chính quyền Obama không cho phép báo chí vào chụp hình, nhưng sau buổi tiếp kiến, tòa Bạch Ốc đã công bố bức hình Đức Đạt Lai Lạt Ma và Tổng Thống Obama ngồi cạnh nhau. Phát ngôn viên tòa Bạch ốc ca ngợi Đức Đạt Lai Lạt Ma đã theo đuổi mục tiêu bằng phương pháp bất bạo động và cho báo chí biết tổng thống Obama đã ủng hộ một cách mạnh mẽ việc giữ gìn đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa, và tôn giáo độc đáo của dân tộc này.

Nhưng dù bán bao nhiêu võ khí cho Đài Loan hay tiếp kiến Đức Đạt Lai Lạt Ma, Đài Loan và Tây Tạng cũng chỉ là những yếu tố tĩnh chứ không phải yếu tố động. Cả hai đều không hội đủ điều kiện để tạo nên những biến cố có ảnh hưởng vùng hay thế giới. Những cuộc nổi dậy của nhân dân Tây Tạng đều mang tính địa phương, gây được thiện cảm nhưng không có tác dụng lớn với chính quyền Trung Quốc. Chuyện Trung Quốc thanh toán Đài Loan bằng võ lực cũng rất khó xảy ra vì Trung Quốc biết Hoa Kỳ không bao giờ để xảy ra và dù có xảy ra cũng chưa chắc đã thắng, còn chuyện Đài Loan giải phóng Trung Hoa lục địa thì đã chết theo Tưởng Giới Thạch từ 1975. Chỉ có hai quốc gia độn là Bắc Hàn và Việt Nam mới thật sự đóng vai trò quan trọng.

Không ai biết rõ, hiểu rõ Bắc Hàn và Việt Nam hơn đàn anh Trung Quốc và cũng không ai hiểu thế mạnh thế yếu của đàn anh Trung Quốc hơn Bắc Hàn và Việt Nam. Như lịch sử chứng minh, Trung Quốc sẽ phải làm tất cả những gì có thể làm, kể cả hy sinh mạng sống của nhân dân họ để duy trì ảnh hưởng với hai Đảng Cộng sản Việt Nam và Bắc Hàn.

Đối với Bắc Hàn, ngoài mấy chục ngàn chí nguyện quân Trung Quốc đã bỏ thây trong chiến tranh Nam Bắc Hàn, Trung Quốc hàng năm đã phải dành riêng một nguồn tài nguyên, của cải lớn để nuôi dưỡng Bắc Hàn. Mặc dù không có tài liệu chính thức nào cho biết tổng số viện trợ Trung Quốc dành cho Bắc Hàn là bao nhiêu nhưng cả thế giới đều biết nguồn viện trợ chính của Bắc Hàn không đến từ đâu khác hơn là Trung Quốc. Theo báo Korea Times, Trung Quốc cung cấp gần hết nguồn năng lượng cho Bắc Hàn và một nửa số thực phẩm người dân Bắc Hàn đang dùng mang nhãn hiệuTrung Quốc.

Một số nhà phân tích chính trị cho rằng hành vi và cách cư xử bất thường của lãnh tụ Bắc Hàn Kim Chính Nhật trong quan hệ ngoại giao quốc tế nhiều khi đặt giới lãnh đạo Trung Quốc vào vị thế khó xử. Nhận xét đó chỉ đúng một nửa. Với Trung Quốc, một Kim Chính Nhật bất bình thường vẫn tốt hơn là một Kim Chính Nhật bình thường, một Bắc Hàn tự cô lập vẫn tốt hơn là một Bắc Hàn mở rộng. Giả thiết, vì bất cứ lý do gì, Bắc Hàn trở mặt với Trung Quốc, quay sang bắt tay với Mỹ, hòa giải với Nam Hàn, mở cửa ngoại thương, hội nhập vào thế giới v.v… quả thật vô cùng bất lợi cho Trung Quốc. Nếu một ngày nào đó Kim Chính Nhật giống như nhà độc tài Libya Muammar al-Gaddafi, người mà trước đây từng bị cố Tổng Thống Reagan gọi là “Chó dại vùng Trung Đông”, bỗng dưng “buông đao đồ tể” lên tiếng kết án khủng bố, xin lỗi nạn nhân, Trung Quốc sẽ phải lo lắng nhiều hơn là mừng rỡ. Không có Kim Chính Nhật, chung quanh Trung Quốc sẽ còn lại toàn là kẻ thù. Ngoài mấy chục ngàn quân Mỹ và Hạm đội thứ Bảy hùng hậu đặt bản doanh ở Yokosuka, Trung Quốc bị bao vây bởi hai anh khổng lồ Nhật Bản và Ấn Độ. Kim Chính Nhật biết rõ thế yếu của Trung Quốc nên sử dụng vị trí sân sau và lá bài võ khí nguyên tử của mình một cách có lợi cho việc duy trì quyền lãnh đạo tuyệt đối trên bán đảo Triều Tiên. Không có tài trợ từ Trung Quốc, Bắc Hàn sẽ sụp đổ; nhưng không có Bắc Hàn, phòng tuyến an ninh dài 1400 km phía Đông Bắc sẽ bị phá vỡ. Trung Quốc ưa thích Kim Chính Nhật? Chắc chắn là không, nhưng cần thì quá sức cần.

Khác với Phi Châu, chính sách bành trướng của Trung Quốc tại Đông Nam Á không chỉ nhằm mục đích kinh tế mà quan trọng hơn là an ninh và quân sự. Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm phần lớn các đảo trong vùng Biển Đông mà nhiều nước đang tranh chấp chủ quyền. Tháng Hai 1992, quốc hội Trung Quốc ngang ngược thông qua một đạo luật tuyên bố rằng 80 phần trăm biển Đông là của họ. Năm 1994, Trung Quốc ngang nhiên thiết lập các căn cứ quân sự trên các đảo bất chấp sự phản đối của thế giới. Trong quá trình bành trướng của Trung Quốc, Việt Nam là nước bị thiệt hại nặng nhất về lãnh thổ, lãnh hải và nhân mạng.

Quan hệ giữa Trung Quốc và Cộng sản Việt Nam có một lịch sử lâu dài từ ngày Đảng Cộng sản hai nước được thành lập. Năm 1950, Trung Quốc là nước đầu tiên công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Cả hai nước đã thừa nhận sự đóng góp của cải và xương máu của Trung Quốc vào mục đích thiết lập chế độ Cộng sản tại Việt Nam.

Không giống như Kim Nhật Thành đầu độc cán bộ đảng và nhân dân Bắc Hàn bằng mớ lý luận Juche mơ hồ, không tưởng, các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam là những người Cộng sản đệ Tam chính thống, vốn thấm nhuần lý thuyết Mác Lê và tư tưởng Mao Trạch Đông. Các lãnh đạo đảng là những người tuyệt đối trung thành với lý tưởng Cộng sản và có một thời rất lâu tin một cách chân thành vào đàn anh Trung Quốc. Việc chọn đứng về phe Liên Xô và tiến chiếm Campuchia của Việt Nam đã dẫn đến cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 và hàng loạt các cuộc đụng lớn vào những năm sau đó như trận Cao Bằng 1980, Lạng Sơn và Hà Tuyên 1981,Vị Xuyên Hà Tuyên 1984, Lão Sơn Hà Giang 1984, Vị Xuyên lần nữa vào 1985 và 1986.

Sau khi hệ thống Liên Xô sụp đổ, chỗ dựa vững chắc của Đảng Cộng sản Việt Nam về tư tưởng lý luận, bang giao quốc tế, viện trợ kinh tế cũng sụp đổ theo. Đảng Cộng sản Việt Nam đứng bên bờ vực thẳm và không còn con đường nào khác là lần nữa tìm nơi nương tựa dưới tàng cây Trung Quốc.

Tháng 9 năm 1990, lãnh đạo cao cấp của hai đảng gặp ở Thành Đô để bàn về việc giải quyết xung đột Campuchia và tái lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Ngay vào thời điểm một siêu cường như Liên Xô và cả khối Đông Âu đã sụp đổ mà các lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn còn tin rằng Trung Quốc sẽ thay thế Liên Xô lãnh đạo phong trào Cộng sản thế giới và tiếp tục giương cao ngọn cờ Xã hội Chủ nghĩa. Cựu Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ đã viết lại trong hồi ký của ông: “Sở dĩ ta dễ dàng bị mắc lừa ở Thành Đô là vì chính ta đã tự lừa ta. Ta đã tự tạo ra ảo tưởng là Trung Quốc sẽ giương cao ngọn cờ CNXH, thay thế cho Liên Xô làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam và CNXH thế giới, chống lại hiểm hoạ ‘diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc do Mỹ đứng đầu. Tư tưởng đó đã dẫn đến sai lầm Thành Đô cũng như sai lầm ‘giải pháp Đỏ’, tức giải pháp nhằm loại bỏ các thành phần không Cộng sản ra khỏi chính quyền liên hiệp tại Campuchia.

Dù sao, sau lần gặp gỡ đó, quan hệ Việt Trung đã cải thiện. Hàng loạt các thỏa hiệp đã được ký kết. Năm 1999, Giang Trạch Dân đề ra một khẩu hiệu để biểu hiện cho mối quan hệ mới giữa hai nước và được gọi là 16 chữ vàng: “Láng giềng hữu nghị. Hợp tác toàn diện. Ổn định lâu dài. Hướng tới tương lai”. Một vài quan điểm cho rằng mười sáu chữ vàng là chiếc vòng kim cô Đảng phải đội trên đầu, nhưng cũng có nguồn tin khác cho rằng Đảng còn muốn lệ thuộc hơn thế nữa bằng việc thay chữ hợp tác “toàn diện” thành hợp tác“chiến lược” nhưng Trung Quốc không đồng ý.

Trung Quốc hiểu vị trí khó khăn của Đảng Cộng sản Việt Nam, do đó, trong lúc Việt Nam tìm cách để được phụ thuộc vào Trung Quốc như một đàn anh Xã hội Chủ nghĩa, Trung Quốc tỏ ra thiếu tin tưởng vào người đàn em có một quá khứ đầy phản trắc này. Ngoài miệng tuy không ngừng lặp lại mười sáu chữ vàng, trong thâm tâm, Trung Quốc không từ bỏ tham vọng nước lớn bằng việc ra lịnh hải quân Trung Quốc bắn thủng các tàu thuyền đánh cá của Việt Nam một cách không thương tiếc. Hành động coi thường sinh mạng người Việt là một cách thể hiện thái độ khinh bỉ giới lãnh đạo Cộng sản Việt Nam.

Ngày 23 tháng Bảy vừa qua, cái nút chặn Việt Nam mà Trung Quốc tin rằng không thể nào thoát được bỗng dưng lỏng lẻo. Chiếc vòng kim cô Trung Quốc gắn lên đầu Đảng Cộng sản Việt Nam có nguy cơ rơi xuống. Chuyến viếng thăm Việt Nam của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton và một loạt những biến cố chung quanh bao gồm việc hợp tác hạch nhân mà không bao gồm các điều khoản cấm tinh chế Uranium và chuyến viếng thăm vùng biển Đà Nẵng của Hàng không Mẫu hạm USS George Washington đã làm thay đổi cán cân quyền lực trong vùng. Và lần nữa, Việt Nam lại đóng vai trò của một vị trí chiến lược trong chính sách ngăn chận của Mỹ đối với Trung Quốc tại Đông Nam Á.

Đất Việt Nam, máu Việt Nam, xương thịt Việt Nam trong số phận của một sân sau an toàn của Trung Quốc và một tiền đồn của phe chống Trung Quốc bành trướng, do nhu cầu của chính sách ngăn chận mới, có thể sắp bắt đầu lên giá.

Nhìn vào bản đồ Á châu, chúng ta không khỏi nghĩ đến chiến tranh Trung Mỹ rồi sẽ phải xảy ra. Dù các nhà bình luận có cho rằng quyền lợi của các siêu cường ngày nay đã phụ thuộc, quyện lẫn vào nhau đến mức độ không thể có một bên thắng, một bên bại nếu chiến tranh bùng nổ. Nhưng quan niệm đó không phải là mới. Trước đây đã có nhiều người nói như thế. Sau Thế chiến thứ Nhất, Hội Quốc Liên được thành lập với chức năng duy nhất là bảo đảm nhân loại sẽ không bị tàn sát khủng khiếp như thế nữa. Bao nhiêu tài năng và nỗ lực đã được dành vào mục đích đó, nhưng chưa đầy 20 năm sau, nhân loại lại phải lao vào cuộc chém giết với hậu quả trầm trọng gấp nhiều lần hơn trước.

Cuộc xung đột Mỹ, Trung, Nga trong Chiến tranh Lạnh để lại nhiều bài học quý giá về số phận của những sân sau, tiền đồn và vùng độn. Có những tiền đồn chìm đắm trong chiến tranh hận thù nghèo đói như Cu Ba, Việt Nam, Bắc Hàn, Afghanistan nhưng cũng có những tiền đồn nhờ xung đột đã trở nên giàu có như Nam Hàn, Tây Đức, Đài Loan. Có những vùng độn phải trở thành chư hầu lệ thuộc như các nước Đông Âu thời Liên Xô nhưng cũng có những vùng độn nhờ tài năng của những người lãnh đạo mà duy trì được độc lập như Phần Lan, Thụy Điển, Thổ Nhĩ Kỳ. Và đặc điểm chung rõ nét của những quốc gia vượt qua được số phận sân sau, tiền đồn và vùng độn để trở nên thăng tiến giàu mạnh chính là dân chủ. Dân chủ là đôi cánh thời đại đã giúp Nam Hàn, Đài Loan, Tây Đức, Phần Lan, Thổ Nhĩ Kỳ vượt qua những vị trí địa lý chính trị khó khăn và trở thành quốc gia giàu mạnh, được kính trọng, có tiếng nói độc lập trong bang giao quốc tế.

Không ai có thể tiên đoán một ngàn năm nữa Việt Nam sẽ ra sao. Nhưng dù ra sao thì đó cũng là trách nhiệm của các thế hệ sau này. Trách nhiệm của các thế hệ hôm nay là giữ nguyên vẹn được mảnh đất mà tổ tiên để lại và xây dựng trên đó một căn nhà thương yêu, đoàn kết, tự do, dân chủ và giàu mạnh. Dân chủ sẽ là vũ khí hữu hiệu nhất để ngăn chận những đe dọa từ Trung Quốc và dân chủ cũng là phương tiện giúp Việt Nam thăng tiến cùng thế giới.

Những lời tuyên bố của bà Ngoại trưởng Hillary Clinton chưa hẳn giúp gì cho số phận của các anh Nguyễn Văn Đài, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Xuân Nghĩa, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Anh Kim v.v… đang ở trong tù như một số người đang nghĩ, trái lại các nỗ lực của họ có thể bị quên đi hay bị cuộc tranh chấp Mỹ – Trung che mờ đi. Với Mỹ, chủ nghĩa Cộng sản thế giới đã chết. Những chế độ độc tài còn rơi rớt ở Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Cuba, Bắc Hàn phát xuất từ điều kiện riêng của các quốc gia này chứ không phải nhờ vào các tinh hoa tinh huyết gì của chủ nghĩa Cộng sản. Ngày nay, Mỹ đối xử với các chính quyền Trung Quốc hay Việt Nam như là những chính quyền hợp pháp mặc dù Mỹ biết không ai bầu các chính quyền này ra.

Cuộc vận động dân chủ tại Việt Nam, vì thế, còn nhiều khó khăn và sẽ đòi hỏi nhiều thời gian, công sức, hy sinh. Tuy nhiên như bác sĩ Lê Nguyên Sang vừa phát biểu sau khi vừa ra khỏi tù “Con đường dân chủ Việt Nam là con đường không thể đảo ngược được”. Đúng vậy. Dân chủ, tự do, bình đẳng là quyền bẩm sinh của mỗi con người. Không một ông Harry Truman nào đến Nam Hàn để trao món quà dân chủ trước đây và cũng không có bà Hillary Clinton nào đến Việt Nam để ban phát tự do hôm nay. Sáu chục năm trước, từ đống tro tàn của cuộc chiến, nếu có người tiên đoán rằng năm 2010, Nam Hàn sẽ là một cường quốc kinh tế thứ tư của Á Châu và thứ mười hai của thế giới, người đó có thể bị cho là mỉa mai dân tộc Triều Tiên hay là điên khùng. Tương tự hôm nay, có thể cũng có người cười mai mỉa khi nghe rằng dân tộc Việt Nam rồi cũng sẽ đạt đến điểm hẹn huy hoàng tự do, dân chủ, giàu mạnh như bất cứ dân tộc nào khác trên thế giới đã từng đạt được. Đó không phải là một khẩu hiệu, một ước mơ, nhưng là sự thật, là chân lý. Đảng Cộng sản Việt Nam muốn có mặt trong cuộc vận hành lịch sử của dân tộc Việt Nam trước hết họ phải tự tan biến đi.

© 2010 Trần Trung Đạo

ÂM MƯU THÂM ĐỘC CỦA NGHỊ QUYẾT 36

   Lời ngõ:

 Một số người bác bỏ hoặc chửi bới vụ việc của ông Lý Tống xịt hơi cay vào văn công Đàm Vĩnh Hưng,có nhiều cớ để chửi ,chửi vì thích chửi ,chửi để tự cho mình giỏi hơn,tài hơn hoặc có “chính trị” hơn,chửi vì để thỏa mản tự ái,còn có cái chửi do Việt Cộng chủ xưởng để dập tắt những mầm mống chống lại nghị quyết 36 của bọn chúng đưa ra . Một số người trẻ cũng chửi bới nhưng cách chửi của họ không như lớp già chửi ,chắc chắn họ chửi không phải vì tự ti mặc cảm hay ghen ghét mà họ chửi theo một kế hoạch hẳn hoi,một sự sắp xếp ,những bài viết của họ đả kích ông Lý Tống là cả một hệ thống ,chúng tôi đưa ra một bài viết của Sonny Le để quý độc giả nhìn rỏ vấn đề hầu mong đừng bị cuốn trong làn gió đó

 Trong số báo đặc biệt này, ban biên tập BM mời quý độc giả xem bài viết song ngữ của Hồn Việt Thế Kỷ 21 (VietSoul:21) dưới tựa đề “Chứng quên tập thể” (Collective Amnesia) dưới đây. Bài viết này được BM chọn đăng với một ước mong nhỏ: (1) giúp quý vị và con cháu mình hiểu sâu thêm về hố ngăn cách giữa các thế hệ của người Việt hải ngoại, và (2) biết rõ hơn về các hoạt động của các nhóm liên hệ và nối dài cho vòi ngàn dặm về tới VN. BM mong bài viết cũng như số báo này sẽ là một phương tiện không những chỉ giúp quý vị nâng cao tầm nhận thức mà còn bắt đầu thực hiện hành động mang ý thức tích cực hằng ngày và đoàn kết từ phạm vi gia đình tới phạm trù cộng đồng.

 Bài viết này là bài phản biện lại bài viết của Sonny Lê đã đăng trên tờ báo San Jose Mercury News vào ngày 26/7/2010. Sonny Lê đã viết bài này cho tờ báo San Jose Mercury News sau cuộc biểu tình lớn rầm rộ của hàng ngàn đồng hương thuộc miền Nam tiểu bang California phản đối văn hóa vận của Cộng Sản qua sự tái xuất hiện của văn công Đàm Vĩnh Hưng tại Anaheim Convention Center vào ngày 25/7/2010.

 Vậy thì chắc quý vị cũng tò mò là Sonny Lê, người viết bài quan điểm này cho tờ báo trong tư cách cố vấn truyền thông cho SJ Mercury News, này là ai? (Sơn này có giống (Michael) Sơn Phạm ở Issaquah, Seattle, điểm nào hay không?) BM đã cố gắng tìm hiểu về hoạt động của Sonny Lê, và xin được liệt kê một số hoạt động của y rất đáng chú ý của hắn để quý vị tường.

 Trong thời gian gần đây Sonny Lê đã có mặt tại Seattle nhiều lần dưới chức vụ nhân viên truyền thông (Regional Media Specialist) cho Cục Kiểm tra dân số của Hoa Kỳ (US Census Bureau). Y lo cho việc vận động để kiểm tra dân số loại cấp vùng [cho 4.5 tiểu bang từ Bắc California ngược lên Oregon và Washington, qua Idaho, và cả tiểu bang Alaska] được thành công. Y đã có mặt trong buổi họp chính thức với các tay chính trị gia của quận hạt King và thành phố Seattle về vđ này tại Rainier Vista Boys & Girls Club, vào chiều ngày 4/3/2010.

 Trước khi đến Seattle thì Sonny Lê đã hoàn tất công tác truyền thông hô hào vận động cho kiểm tra dân số cho vùng vịnh phía Bắc (Oakland), nơi y đang cư ngụ. Đây cũng là công việc hắn đã từng đảm trách cho Cục Kiểm tra dân số của Hoa Kỳ từ năm 1997-2000 tại khu vực miền Bắc của California.

 Một cách quảng cáo vận động hô hào khuyến khích (hay dụ) để chúng ta ghi danh là nhà mình gồm có bao nhiêu người thì trên bề mặt rất bùi tai: cái giá có lợi lộc được hưởng từ ngân quỹ liên bang kết xù vào khoảng 400 triệu đô la. Ngân quỹ này sẽ chia cho các hội đoàn cơ quan vô vụ lợi và chính phủ địa phương để trang trải việc “lo cho” chúng ta về nhà ở, sức khỏe, việc làm, giáo dục, v.v… Ai là người thực sự hưởng các lợi tức này? Chỗ nào là cái bánh vẽ? Đây là một vđ nhập nhằng mà bài viết của Hồn Việt Thế Kỷ 21 có đề cập đến.

 Điều quan trọng là y đã giữ chức chỉ đạo truyền thông (Communication Director) cho tổ chức Đông Tây Hội Ngộ (East Meets West Foundation) vào năm 2001. Đây là một tổ chức được thành lập bởi Lệ Lý Haylip vào khoảng năm 1987. Chắc quý vị vẫn còn nhớ đến quyển sách mà bà này viết tựa đề là “Khi trời và đất đổi thay” (When Heaven and Earth Changed Places) đã chuyển thành phim vào năm 1993 với ông đạo diễn Oliver Stone?

 Cơ quan Đông Tây Hội Ngộ này điều khiển khống chế các hoạt động của các cơ quan vô vụ lợi làm việc tại Việt Nam bằng ngân quỹ của họ (nguồn ngân quỹ thì nhận từ World Bank, USAID, các nguồn tài trợ tư như Ford Foundation và mới nhất là Atlantic Philanthropies của ông Feeney). Ngân quỹ hiện tại của tổ chức này đã lên đến 26 triệu và đang làm việc chặt chẽ với CSVN cùng với tổ chức Ford Foundation vận động các em thế hệ trẻ tin vào huyền thoại về tác hại của chất độc màu da cam.

 Với danh xưng làm việc này cho tổ chức Đông Tây Hội Ngộ, Sonny Le cũng đã là nhân vật trụ cột đứng ra tổ chức hội nghị toàn quốc đầu tiên để tạo gặp gỡ giữa các cơ quan phi chính phủ đang và mộng sẽ làm việc cho Việt Nam. Hội nghị này đã diễn ra trong ba ngày tại Asilomar Conference Center ở thành phố Pacific Grove, California, từ 7/5/2004 để tiến tới thành lập Mạng lưới các Tổ chức NGO Mỹ gốc Việt (VA NGO). [Chú thích: Dĩ nhiên là có một số nhân vật chẳng hạn như Michael Sơn Phạm tại Seattle tham dự. Vào năm kế tiếp từ ngày 18 đến 20/11/2005 tại quận Sonoma, CA, Lê Xuân Khoa đã đọc diễn văn về “Hoạt động từ thiện và phát triễn xã hội của người Mỹ gốc Việt tại Việt Nam”. Hiện nay Michael Sơn Phạm đang nằm trong hội đồng quản trị của nhóm Liên hiệp các tổ chức phi chính phủ Việt Mỹ (VA NGO Network) cùng với bà BS Quỳnh Kiều.] Liên hệ này cũng là một vđ nhập nhằng mà bài viết của Hồn Việt Thế Kỷ 21 có đề cập đến.

 Ngoài ra Sonny Lê cũng là người cố vấn truyền thông cho cuộc triển lãm về quan hệ giữa tiểu bang California và thời chiến Việt Nam (“What’s Going On? California and the Vietnam Era”) tại viện triển lãm Oakland từ tháng 8/2004 đến 2/2005. Quá trình thực hiện cuộc triển lãm này thì đầy mâu thuẫn xung đột vì viện này đã lập tức cho cô Mimi Nguyễn nghỉ việc (không đưa ra lý do) ngay sau khi nghiên cứu sinh người Mỹ gốc Việt được mướn lần đầu tiên này đã tỏ ý muốn các di vật thời chiến của người miền Nam Việt Nam cũng phải được trình bày song song với các di vật chiến tranh (như quần áo bộ đội) của miền Bắc và người Hoa Kỳ vì lẽ công bằng. Một kiến nghị với hơn 500 chữ ký của người Việt Nam khắp thế giới phản đối hành động cho nghỉ việc bất công này đã không giúp cho cô Mimi Nguyễn được trở lại làm việc. Một học sinh cao học người Mỹ gốc Việt được mướn để thay thế cho cô Mimi cũng bỏ việc sáu tháng sau đó. Cho dù viện này có lập ra ban cố vấn tạm thời gồm một số người đã ký tên trong bản kiến nghị đó, họ rồi cũng thất vọng khi thấy lịch sử chiến tranh của miền Nam bị bóp méo xuyên tạc hay giảm thiểu.

 Tóm lại, nghề nghiệp chính của Sonny Lê là về truyền thông sau khi hắn làm việc cho Đông Tây Hội Ngộ và được Rockefeller Foundation trong năm 2001 cho đào tạo về kỹ năng làm việc với các hệ thống tiền tệ quốc tế làm việc tại các nước đang phát triển. Y đến Hoa Kỳ vào năm 1981 sau khi vượt biên và ở trại tị nạn Singapore và Nam Dương được hai năm. Sonny Lê cũng là người hiện đảm trách “Little Saigon Inside” blog tại http://littlesaigoninside.blogspot.com/ dưới sự chỉ đạo của Asian-American Poll Media.

 **********

Chắc quý vị cũng đã biết đây là cuộc biểu tình lớn về mặt số lượng chỉ đứng sau cuộc biểu tình về vụ việc Trần Trường thách thức cộng đồng vào năm 1999. Đây là cuộc biểu tình tiếp nối việc ông Lý Tống đã giả trang để vào được Santa Clara Convention Center, dùng bình xịt cay khi đến gần sân khấu đối diện với văn công Đàm Vĩnh Hưng vào tối ngày 18/7/2010, và bị cảnh sát San Jose cư xử nặng tay trước khi đưa ông ra tòa. Ông Lý Tống đã thành công trong dụng ý chính trị cảnh cáo CSVN trong việc tuyên truyền dựa theo nghị quyết 36. Ông đã luôn khẳng định rằng hành động của ông ta là chỉ do tự vệ (Xin xem phần ông trả lời phóng viên đài CBS

http://cbs5.com/video/?id=67623@kpix.dayport.com).

**Kính mời độc giả đọc bài viết của Sonny Le đã được dcv dịch sang tiếng Việt dưới đây.

  Cuộc chiến đã tàn?

Sonny Le – (Mercury News, 2010/07/26) – DCVOnline lược dịch
Việt Nam ngày nay, dù vẫn còn ý thức hệ của Đảng cầm quyền, là một quốc gia cởi mở hơn, thịnh vượng và phát triển hơn cả miền Bắc hay miền Nam Việt Nam trong thời còn chiến tranh. Dân Việt Nam không còn phải gửi con ra tiền tuyến để giết anh em họ của họ từ nửa bên kia của đất nước. Họ không còn phải lo đạn lạc hoặc mưa bom đổ xuống từ những đám mây.

Quan điểm: Đã đến lúc ngưng cuộc chiến đã chấm dứt từ lâu

Vụ một người hoạt động chống cộng xịt hơi cay vào một ca sĩ Việt Nam tại Santa Clara hồi đầu tháng này mở lại một vết thương cũ từ một cuộc chiến đã kết thúc 35 năm trước đây.

Mặc dù chiến tranh Việt Nam chấm dứt vào năm 1975, nhiều người Việt ở nước ngoài vẫn còn chiến đấu. Đáp lại, chính phủ hiện tại của Việt Nam đôi khi cũng hành động như thể người Việt hải ngoại là một một mối đe dọa an ninh thực sự.

Chuyện xảy ra tại buổi nhạc hội là một nhắc nhớ về tổn thương vĩnh viễn mà cuộc chiến đã gây cho người Việt Nam, trong và ngoài nước. Tại Hoa Kỳ, những người như Lý Tống, người tấn công, thường sử dụng sân khấu chính trị để gây sự chú ý đển tinh thần chống (cộng sản) Việt Nam (nguyên văn “anti-Vietnam”). Trả miếng, chính phủ Việt Nam mở chiến dịch bắt giữ và giam cầm những người kêu gọi chính thể đa đảng và lên án người Việt Nam ủng hộ dân chủ đang ở nước ngoài, liên kết họ với nhau, cùng lúc sử dụng một thứ ngôn ngữ mà nghe như hồi Việt Nam vẫn còn chia hai.

Khả năng có một khối lượng quan trọng hình thành giữa người Việt Nam ở nước ngoài để lật đổ (chính quyền) Việt Nam tương đương như người da trắng Nam Phi một lần nữa có thể cai trị Nam Phi trở lại. Tương tự như vậy, tiếng nói bên trong Việt Nam kêu gọi cho một Việt Nam dân chủ và cởi mở hơn không có khả năng nhất thời đưa đến một cuộc cách mạng, cách mạng vũ trang hoặc bằng cách khác. Nó giống như chuyện một Đảng khác không phải là Đảng Dân chủ hay Đảng Cộng hòa có thể đưa đảng viên của mình vào Nhà Trắng.

Hơn một nửa số 89.000.000 dân Việt Nam sinh ra sau năm 1975. Họ bận rộn với “Việt Nam Idol” và say mê iPhone mới nhất hơn là những gì đã xảy ra hơn 35 năm trước đây.

Hoa Kỳ và Việt Nam hiện có quan hệ ngoại giao đầy đủ và là đối tác thương mại. Mỗi năm hàng trăm ngàn người Việt Nam có hộ chiếu Mỹ, Pháp, Canada, Anh ở nước ngoài du lịch về Việt Nam.

Đối với những người trong chúng ta, xem Đàm Vĩnh Hưng, ca sĩ nhạc pop, như một công cụ tuyên truyền của (cộng sản) Việt Nam cần phải phản đối, chống lại — Tại sao chúng ta không đến biểu tình chống các hãng hàng không Delta và United bay đến Việt Nam? Tại sao chúng ta không tẩy chay thủy sản Việt Nam tại siêu thị địa phương, hoặc quần áo tại The Gap và Macy’s, hoặc bàn ghế tủ giường bán ở IKEA? Hoặc cùng mục tiêu đó, chúng ta hãy biểu tình trước Quốc hội Hoa Kỳ và Nhà Trắng.

Đối với Việt Nam, hàng chục ngàn sinh viên tốt nghiệp cao đẳng mỗi năm không có triển vọng tìm được việc làm với đồng lương đúng mức — và hàng chục ngàn thanh niên nhàn rỗi đang ngồi ở những quán bia góc phố và những quán cà phê Internet từ sáng, qua trưa và tới tối — có thể là một mối đe dọa lớn hơn nhiều cho sự ổn định của đất nước so với những người Việt Nam “khích động quần chúng” ở nước ngoài hay một vài người bất đồng chính kiến trong nước.

Tại sao chúng ta vẫn còn đánh nhau vì một cuộc chiến đã làm mất hàng triệu mạng sống của người Việt Nam từ cả hai miền Nam Bắc và suýt nữa đã phá hủy toàn bộ đất nước Việt Nam xinh đẹp đó? Tại sao chúng ta vẫn còn đánh nhau vì một cuộc xung đột mà trong đó chúng ta, người dân Việt Nam, đã bị dùng như là những người được uỷ nhiệm (giết nhau) cho một cuộc xung đột lớn hơn giữa hai phe Đông và Tây?

Bất kể khi nào Hoa Kỳ sẽ rút khỏi Afghanistan và Iraq, tôi hy vọng người dân của hai nước này sẽ không bị một vết thương chưa lành như tất cả người dân Việt Nam bây giờ vẫn đang phải chịu đựng.

© DCVOnline

** Kính mời quý vị xem bài viết phản biện bằng song ngữ về sự việc mà Sonny Le đưa ra (chúng tôi đã giới thiệu trong lời ngõ).

Chuyên mục: Chiến tranh Việt Nam, Hòa giải hòa hợp dân tộc
Thẻ: Lý Tống > OneVietnam > Sonny Lê

Để tưởng nhớ đến những câu chuyện kể “từ cọng tranh bị tách rời”, “kéo xa cội nguồn”, và “mong ước trở về”… “Cọng tranh này là bạn với tất cả, luôn cả những ai muốn xé tơi tả lát tranh cho gió cuốn đi.”

(Trích The illuminated Rumi, 1997)

Bài quan điểm của Sonny Lê nhan đề “Giờ là lúc ngưng đánh đấm cuộc chiến đã hạ hồi từ lâu[1] đăng ngày 26/7/10 trên nhật báo Mercury News ở San Jose, tiểu bang California, Hoa Kỳ, tương đối đã vượt qua được sự phê phán thiên kiến về hành động của Lý Tống là loại “phi văn hoá Hoa Kỳ” và “không thể chấp nhận được”. Dũng Taylor (người bầu sô), và Đỗ Dzũng (phóng viên báo Người Việt) qua lời phát biểu với đài BBC[2] hẳn có dụng ý khi dùng thái độ phê phán này để biện minh và bào chữa sự thuận tình với cái diễn luận (discourse) về nhóm tị nạn đang bị “Trắng” hóa (Whitening).

Hành động cá nhân của Lý Tống có thể bị sỉ nhục và nguyền rủa là vớ vẩn, ác quái, và thiếu văn minh bởi rất nhiều nhóm, đó là những người Mỹ da trắng và người da màu cả tin vào khái niệm “dân chủ” xuất chúng của Hoa Kỳ, giới hâm mộ ca sĩ, các tờ báo và bộ phận kỹ nghệ giải trí lợi nhuận, cũng như những tay đầu cơ chính trị và chính quyền tham nhũng cộng sản Việt Nam. Thế nhưng, đòn đột nhập xuất thần này rõ ràng có một chủ ý và đưa đến một kết quả nổi bật là làm lộ diện chứng liệt trí nhớ tập thể (collective amnesia) đang tràn lan mọi thế hệ và nằm trong tâm thức không chỉ riêng ở những người Việt đang sống tại hải ngoại. Bài quan điểm đề cập trên là một dẫn chứng rõ ràng nhất về hiện trạng của chứng liệt trí nhớ này.

Trọng tâm bài viết sử dụng yếu tố chủng tộc và chiến tranh hầu có thể than vãn một cách hùng biện về chuyện đánh đấm chia rẽ không ngừng của thời hậu chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên, các thuật trò “gài khung” (framing)[3] này được dùng với cử chỉ thách thức cộng đồng. Ngoài ra, bài lại khéo dùng xảo thuật hùng biện hầu tạo nên ảnh hưởng ru ngủ thành phần thế hệ trẻ.

Thành phần thời hậu ký ức (post-memory)

Chẳng cần phải nói dông dài vì ai cũng thấy rằng cái phê phán cho là “phi văn hóa Hoa Kỳ” này (một kiểu phê phán cốt để tán thành chiều hướng Mỹ hoá, và nằm trong khuôn mẫu tiêu chuẩn Trắng[4](whiteness) được ủng hộ khá mạnh bởi đa số giới trẻ người Việt sinh ra lớn lên ở Hoa Kỳ thuộc các thành phần sau đây:

(1) bị đồng hoá do ảnh hưởng đô hộ của các ý thức hệ liên quan đến chủng tộc nay đã cập nhật hoá – một loại ý thức hệ tuy vẫn còn dựa vào chủ nghĩa tiêu thụ và chủ nghĩa cá nhân để dẫn đến một thái độ chính trị thụ động nhưng ẩn dưới cái mặt nạ tự cho là mình đang theo chủ nghĩa “người của thế giới” (cosmopolitan) lồng vào chủ nghĩa chính trị tự do (liberal);

(2) bị nhập tâm kỳ thị chủng tộc – một hiện tượng vẫn tồn tại mạnh mẽ ở phương Tây và ẩn sâu trong đầu óc người bị đô hộ hiện đang sống trong quá trình vét cạn xã hội tính và tư hữu hóa những từ vựng[5] của thời hiện đại;

(3) còn lơ mơ về lịch sử của người Việt và các phân nhánh phức tạp bên trong cộng đồng do những học hỏi bị ảnh hưởng bởi nền giáo dục độc quyền về phản chiến khi đề cập đến lịch sử chiến tranh Việt Nam, và nói chung hấp thụ loại dạy dỗ kiểu “đút-rút tiền ngân hàng[6] (nghĩa: không tạo được tư duy tự suy xét) trong các trường học tại Bắc Mỹ đang ngày càng bị thương mại hóa[7];

và/hoặc:

(4) đang dần dà dù ít dù nhiều trở thành một loại thực dân mới (trong một chính kiến chính trị toàn cầu) về phương diện đặc ân, quyền lực, chức vị, và cùng lúc tự mình bị thuần hóa (cooptation) trong các nối kết qua phương tiện giải trí, thương mại, giáo dục, chính trị, và từ thiện với Việt Nam.

Dù có công nhận hay không thì tất cả các phản xạ tư duy thuần nhất (group thinking) của các nhóm này đã làm nổi bật cái bất trắc giữa thành công và thất bại ở Nghị quyết 36[8] của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những thành phần này có thể không muốn thấy rằng tất cả sinh hoạt hằng ngày bên ni hay bên nớ đều mang tính chính trị cả.

Riêng về nhóm số 4 đề cập ở trên, họ cảm nhận rất rõ là họ vẫn không được xem là người bản xứ dẫu có cố gắng đến mấy đi nữa. Thật ra thì kinh nghiệm đó không chỉ xảy ra riêng cho họ, và cũng chẳng một ai muốn thú nhận điều này. Tuy nhiên, riêng nhóm này rất ước mong tái định cư ở Việt Nam – nơi mà họ có thể kiếm được chức vị và tiến thân nhờ vào khả năng Anh ngữ và các kỹ năng của phương Tây, nếu họ không phản đối các chuyện bất công, áp bức. Xã hội “được-cho-là đa chủng tộc” như Hoa Kỳ và châu Âu thì lại không có nhiều cơ hội cho công ăn việc làm hoặc chỉ có công việc thấp kém dù họ có dư thừa kỹ năng tiên tiến.

Không chóng thì chày rồi họ cũng nhắm vào chuyện làm sao để có thể thăng quan tiến chức trên một “quê hương” khác – nơi mà thời thơ ấu mơ hồ hoặc không hề có của mình lại được táí lập/nghiệm, nơi mà họ không phải chịu từng trải kinh nghiệm kỳ thị chủng tộc đậm mùi cơ cấu trong xã hội phương Tây. Có người trong số họ thậm chí tự nghĩ một cách ngây thơ rằng nếu mình nhắm mắt làm ngơ trước những vết thương tàn phế của các cựu chiến binh hai miền Nam Bắc cũng như không làm nhân chứng đối kháng các hệ thống bạo lực đang diễn ra thì sẽ được chính quyền cộng sản Việt Nam chấp nhận. Rồi từ đó họ có thể hành xử và đạt được những gì họ muốn cho bản thân mình, và trở thành phần tử của một xã hội Việt Nam “thời hội nhập” – một nơi mà cuộc chiến chống Mỹ đã không còn được đối thoại[9] chỉ vì mối quan hệ với Hoa Kỳ.

Thuật trò quên bất công kỳ thị

Quan điểm của bài viết thật ra thuộc loại “đánh trống bỏ dùi”. Mặc dầu vấn đề chủng tộc được tác giả lồng vào khung cảnh xung đột lê thê trong thời hậu chiến (có nghĩa là không sai), nhưng tác giả đã tự mâu thuẫn với chính mình. Tác giả đang sống trong ảo tưởng hoặc mơ mộng viễn vông khi khơi mào và thách thức người Việt hải ngoại lên tiếng cũng như phản đối những bất công gây ra bởi chính quyền Hoa Kỳ vì nhúng tay vào chuyện của các quốc gia khác ngay trong hiện tại hay thuộc thời quá khứ.

Tác giả xem thường vấn đề cộng đồng người Việt – cũng giống như các cộng đồng bị cho ra rìa khác – là những thuộc địa nhỏ bị tứ tán khắp nơi trên đất Hoa Kỳ. Họ đã tự tạo với cung cách riêng của mình một lịch sử không chính thức và không được truyền kể lại – một lịch sử cộng đồng dễ bị dòm ngó đụng chạm gây tổn thương, kháng cự ngầm, có ưu điểm linh động linh hoạt, và tiềm lực cởi bỏ được đô hộ hóa – mà không có bản thân tác giả tham gia. Tại sao tác giả đã chọn chức chỉ đạo về mặt truyền thông cho tổ chức Đông Tây Hội Ngộ (East Meets West Foundation)?

Thiết nghĩ lời nói thì phải đi đôi với việc làm và phải sử dụng “sân khấu chính trị” về những chuyện “hiện thực” hơn là than vãn về các “khả năng”. Đáng tiếc là tác giả Sonny Lê cùng với một số thành phần trí thức ở Hoa Kỳ đi lại với Việt Nam đã khéo lôi kéo, thuyết phục giới trẻ – các em đầu óc thương mại – thành lập OneVietnam[10] để hỗ trợ cho một mạng lưới có hệ thống và chuyên huy động cho Từ thiện Á Châu (Asian Philanthropy Forum/Give2Asia), một hệ thống được gọi là “tập đoàn kỹ nghệ vô vụ lợi” (non-profit industrial complex). Đó là một hệ thống giữa nhà nước, các cơ quan cung cấp ngân quỹ (cả thiên tả và thiên hữu), giới chủ nhân ông, cùng các cơ quan xã hội và những tổ chức thiên công bằng xã hội một khi tham gia vào mạng lưới để xin tiền hỗ trợ đành trở thành bảo thủ. Vì đây là một hệ thống rất phức tạp đẻ ra việc giám sát, khống chế, và quản lý chặt chẽ các phong trào đấu tranh chính trị. Các cơ quan vô vụ lợi thiên công bằng xã hội đành phải quay mặt làm ngơ với các tiên chỉ và hoạt động của họ định ra từ lúc đầu là đấu tranh dân chủ (tức là hơn cả việc xóa đói giảm nghèo), nhất là một khi đã nhận tiền và tuân theo điều lệ chỉ thị và sự theo dõi của các cơ quan cung cấp ngân quỹ – những cơ quan thật ra có quyền lực tạo ảnh hưởng lên chính sách nhà nước, các diễn luận công khai phổ biến, và tổng thể bối cảnh chính trị của một quốc gia.[11] Tự do ngôn luận và lập hội nhóm bị kềm chế vì các cơ quan vô vụ lợi tự kiểm duyệt mình sau khi đã tranh đua với các cơ quan cùng thể loại, và trở thành kẻ nhận ngân quỹ.[12] Tác giả và không ít các em thanh niên Mỹ gốc Việt có lẽ hoặc không nghĩ ra hoặc chưa hình dung được một phong trào cá biệt nào không bị kẹt nghẽn trong mô thức vô vụ lợi, một mô hình phục tùng định hướng của chính trị chủng tộc chính thống, mất dần tính dân chủ, và bị điều khiển qua nề nếp của cơ chế chuyên gia và ngân quỹ.

Một quan điểm lấn áp trong thời hậu ký ức

Văn phong bài viết của Sonny Lê dường như cho thấy lời phát biểu của tác giả thuộc lực lượng cấp tiến thiên hòa bình và chỉ vì hòa bình. Tác giả quên phắt đi cái đặc quyền của mình trên đất nước này trong việc chọn lựa hòa bình hay không – trong khi thật ra bất cứ lựa chọn nào trong các chọn lựa ấy ở xứ Hoa Kỳ cũng oái oăm và là nguyên nhân hủy diệt ”Kẻ kia[13]. Tác giả được chọn cho nói và chỉ chú trọng đến cái giàu, cái “phát triển” mới ở Việt Nam, trong khi biết bao nhiêu người Việt Nam trong và ngoài nước bị bịt miệng[14] vì phản kháng đàn áp hay bị đối xử vô nhân đạo.

Giọng văn của tác giả phảng phất một xấu hổ ngấm ngầm trong lúc bất ngờ bị ép phải đối diện với tình trạng hỗn độn của nội tình xích mích bất hòa và chia rẽ không chỉ ở tầm mức cộng đồng. Nó liền được tán thành ngay bằng một phản hồi tiêu biểu với lời lẽ kẻ cả trong việc vừa tha thứ vừa quên phắt đi vài “con sâu”, vì “Tương lai là chìa khóa cho vấn nạn này”[15] và sẽ giúp thế hệ hậu ký ức không bị “phiền nhiễu” lây.

Thật ra bài viết nói trên cũng như không ít luận điểm của giới “hãy quên cuộc chiến Việt Nam” và “phi chính trị” được thổi kèn, đánh trống inh ỏi lên để khỏi phải nghe thấy những nỗi hận trong lòng và các dị diện do mâu thuẫn chiến tranh Việt-Mỹ. Đấy chẳng qua chỉ là cách thức trang điểm lên vết sẹo của những vết thương từ nứt rạn chia rẽ giữa các thế hệ hầu giúp thỏa mãn khát vọng của hai khối trí thức tân bảo thủ (neoconservative) và tân tự do (neoliberal). Tâm thức tự diễn là “không cay đắng về quá khứ”[16] này không vượt ra khỏi cái đầu óc bố thí nhân đạo để có thể thực thi phản kháng các thế lực bạo động phạm nhân quyền, ở Hoa Kỳ hay nơi khác, và dựa vào một tinh thần tranh đấu không lệ thuộc. Các hành động như thế chỉ thúc đẩy cho những tác hại nghiêm trọng về mặt quyền lực, kỹ thuật, di dân, giao dịch và du lịch từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông, từ kẻ có đến kẻ không có, được tồn tại mãi mãi.

Truyền thông hỗ trợ chứng quên?

Tác động của vai trò truyền thông trong việc “gài khung” và chọn lựa ban phát đặc quyền cho ai rất đáng được xem xét ở đây. Tờ San Jose Mercury News đáng lẽ phải cổ võ thật tình cho nhiều quan điểm khác nhau thay vì chỉ đăng vỏn vẹn một ý kiến từ một người cố vấn truyền thông cho tờ báo. Vai trò truyền thông dân chủ là cổ xúy nhiều cách bày tỏ khác nhau và có suy tư sâu sắc thay vì chỉ là một bài viết mang quan điểm “gài khung” như thế. Tờ báo này cũng không thể chỉ miễn cưỡng (nếu phải nhượng bộ) cho đăng thêm chút đỉnh một vài tiếng nói tiêu biểu bất đồng với quan điểm của tác giả. Lý do sâu xa nào khiến tờ báo này chỉ chọn anh Sonny Lê thay vì nhiều quan điểm khác? SJ Mercury News đã không làm đúng vai trò mình trong việc thừa nhận hay ghi khắc lại sức mạnh của những tiếng hô to cũng như nỗi thinh lặng vì ký ức hậu chiến tranh.

Đã hơn ba thập niên qua, nếu những người “dị diện” gào thét thì bị cho là “bệnh” và “điên”, và phải nghe đuổi, “Cút về nước mày đi!” Nếu họ chọn sự im lặng vì nhiều lý do khác nhau, họ bị buộc tội là ngu xuẩn (và cũng dễ tạo chỗ cho các mánh khoé hạng cơ tầng và xóa sổ văn hóa tại các địa phương có người Việt tụ tập). Nếu họ lừng khừng nhưng chăm chỉ cần cù, họ được tưởng thưởng danh hiệu “thiểu số mẫu mực” – nhóm được xếp hạng dự bị tạm không coi là “Kẻ kia” nữa, và đáng làm gương cho các sắc dân khác trong công cuộc đeo đuổi cái thiên đường Hoa Kỳ “hậu chủng tộc” (post-racial)[17]. Dĩ nhiên là trường hợp éo le như thế này chỉ giúp cho hiện trạng bất bình đẳng chủng tộc và giai cấp vẫn y như cũ, và kéo dài tình thế những nhập nhằng không tên[18] ra thêm thôi.

Tóm lại, chúng ta cần nhiều tiếng nói đa dạng đa hình và trong tự do dân chủ khi linh hồn cộng đồng đang bị gài khung vào cái nhãn hiệu “bát nháo” “không chấp nhận được” vì “phi văn hóa Mỹ”. Khi những tiếng nói của ký ức tập thể này trỗi lên thì cả lời lẫn ý không thể tuân theo cái mẫu mã tinh vi được sáng chế của các tay “làm nô lệ bậc thầy” (dựa theo định nghĩa của Frantz Fanon[19]G.W.F. Hegel[20]). Những tiếng nói bày tỏ nỗi niềm của ký ức thời hậu chiến tranh phải ra khỏi khuôn rập có kế hoạch chuyên phục vụ cho cơ chế kiểu Trắng độc đoán nhưng khéo ẩn trong thời đại “hậu dân quyền”[21] (post-civil rights era) hay thời đại đã thui chột màu da (color-blind era)[22].

Tất cả tín hiệu, hình thức, nội dung, và khuôn thước hằng ngày của cơ chế kiểu Trắng đều hoạt động để lấp liếm ký ức ám ảnh quốc gia này về cuộc chiến Hoa Kỳ ở Việt Nam. Đây là loại ký ức chỉ sống ngoài rìa tâm thức của người Mỹ để chống chọi lại sự hiện diện của những ai từng bị nô dịch hoá – nhất là những kẻ bị mang danh “chiến bại chân ướt chân ráo” (Fresh-off-the Boat losers) và chỉ coi là những hồn ma bóng quế nơi đất người.

Chắc chắn chúng ta cần nhiều tiếng kêu ca trách móc qua gào thét không còn bị xiềng xích và niềm thinh lặng tang thương hơn là sự phủ nhận và trám miệng của lịch sử chính thống đế quốc. Những tấm thân cởi bỏ xiềng xích ấy cần được công nhận và trình diễn cho hết thảy mọi người, nhất là qua nhiều hình thức khác nhau, và do đó không chỉ ở loại từ chương (text-based) vì “Giờ là lúc ngưng đánh đấm cuộc chiến đã hạ hồi từ lâu[23].

© 2010 VietSoul:21

© 2010 talawas

[1] Sonny Lê (2010, July 26th). Giờ là lúc ngưng đánh cuộc chiến đã hạ hồi từ lâu (It’s time to stop fighting the long-past Vietnam War). San Jose Mercury News. Bản chính tiếng Anh: http://www.mercurynews.com/opinion/ci_15590279?nclick_check=15590271

Bản tiếng Việt: http://www.dcvonline.net/php/modules.php?name=News&file=article&sid=7638

[2] Nguyễn Hoàng. (2010, July 20th). “Hành động ‘phi văn hóa Mỹ’”? BBC Tiếng Việt. http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2010/2007/100720_dodzung_iv.shtml

[3] Vi Nhân (2010, August 2nd). “”. talawas 03/8/2010, http://vietsoul21.net/2010/08/02/b%E1%BB%8Bt-mi%E1%BB%87ng-n%E1%BA%A1n-nhan/

[4] Cooks định nghĩa thuật ngữ “Trắng” (Whiteness) là “một bộ các sách lược của thuật hùng biện được sử dụng để xây dựng và tạo cho văn hóa và bản thể sắc diện của người da trắng được đứng vững.” Xem: L. Cooks (2003). “Pedagogy, Performance, and Positionality: Teaching about Whiteness in Interracial Communication”. Communication Education, 52 (3), tr. 246. Ngoài ra, P. McLaren thì cho nghĩa “Trắng” là sự chối bỏ việc thừa nhận người da trắng luôn dính đến một số các liên hệ nhất định trong xã hội về đặc quyền và tương quan giữa thống trị và bị trị.” Xem: P. McLaren (1997). “Decentering Whiteness”: In Search of a Revolutionary Multiculturalism. Multicultural Education, 5 (1), tr. 9.

[5] Robbins, C. G. (2004, September). Racism and the Authority of Neoliberalism: A Review of Three New Books on the Persistence of Racial Inequality in a Color-blind Era. Journal for Critical Education Policy Studies, 2(2), http://www.jceps.com/?pageID=article&articleID=35.

[6] Freire, P. (1970). Pedagogy of the oppressed (M. B. Ramos, Trans.). London, UK: Penguin. http://www.amazon.co.uk/Pedagogy-Oppressed-Paulo-Freire/dp/0826412769

[7] Saltman, K. J., & Gabbard, D. (2003). Education as enforcement: The militarization and corporatization of schools. New York; London: RoutledgeFalmer. http://www.routledge.com/books/details/9780415944892/

[8] Bruin, T. (2004, June 17th). Vietnam’s Manifesto on Overseas Vietnamese Rings Hollow. Partito Radicale Nonviolento transnazionale e transpartito (Nonviolent Radical Party transnational and transparty), http://www.radicalparty.org/en/content/vietnams-manifesto-overseas-vietnamese-rings-hollow

[9] Hayton, B. (2010). Vietnam: Rising dragon. New Haven, CT; London, UK: Yale University Press. http://yalepress.yale.edu/yupbooks/book.asp?isbn=9780300152036

[10] Mạng lưới OneVietnam vừa mới phát khởi khoảng giữa tháng 7/2010 từ miền vùng vịnh phía bắc tiểu bang California. Đây là mạng lưới được ủng hộ và cố vấn từ hội Đông Tây Hội Ngộ trong thúc dục tạo sự nối kết toàn cầu cho tầng lớp thanh niên Việt hải ngoại và trong nước. Xem Minh Anh. (2010). OneVietnam kết nối người Việt toàn cầu (OneVietnam links the Vietnamese on the globe). Voice of America (VOA News.com), http://www2011.voanews.com/vietnamese/news/vietnam/onevietnam-2007-2003-2010-97732519.html

[11]“ Incite! Women of Color Against Violence” (Ed. 2007). The revolution will not be funded: Beyond the non-profit industrial complex. Cambridge, MA: South End Press.

[12] Roelofs, J. (2009). “Networks and Democracy: It Ain’t Necessarily So.” American Behavioral Scientist, 52(7), 990-1005.

[13] Thuật ngữ “Kẻ kia” là một khái niệm trong triết học được khoa xã hội học dùng để diễn tả “các tiến trình mà các xã hội và nhóm đoàn sử dụng để loại trừ những “Kẻ kia” – những phần tử mà họ muốn thống trị tuy không đồng hóa được trong xã hội hay nhóm đoàn của họ…. Sách lược tạo ra “Kẻ kia” là một nhu cầu cấp bách cho các bản thể căn cước quốc gia, nơi mà các chính sách và hành động cho nhập cư và cách ly giúp tạo ra các ranh giới và làm quốc gia tính được giữ vững. Sách lược tạo ra “Kẻ kia” giúp tạo phân biệt giữa nhà/quê hương và xa nhà/xa quê hương, giữa cái không định và cố định. Sách lược nay thường dính líu đến chước nguyền rủa và bất nhân đối với các nhóm đoàn, để từ đó có thể bào chữa thêm cho các mưu “văn minh hóa” và bóc lột những kẻ hay nhóm “Kẻ kia” bị coi là “tồi” này. http://en.wikipedia.org/wiki/Other

[14] Vi Nhân (2010, August 2nd). “Bịt miệng nạn nhân”. talawas 03/8/2010, http://vietsoul21.net/2010/08/02/b%E1%BB%8Bt-mi%E1%BB%87ng-n%E1%BA%A1n-nhan/

[15] “From Seattle”. (2010, July 27th). “Tương lai là chìa khóa cho vấn nạn này” [Future is our key to this problem (Reader's Comment on the Opinon Piece, "It’s time to stop fighting the long-past Vietnam War")]. San Jose Mercury News, http://forums.mercurynews.com/topic/opinion-its-time-to-stop-fighting-long-past-vietnam-war#comment-42981.

[Nguyên văn lời phản hồi trên báo này từ một độc giả lấy tên là “Từ Seattle” tạm dịch như sau: “Tôi đứng về phía anh hoàn toàn 100%, anh Sonny Lê à, nhưng tôi chẳng băn khoăn lo lắng mấy về cái chuyện này. Hạng người như Lý Tống thật ra chỉ là vài con sâu trong cộng đồng mình thôi. Những con sâu này đang làm rầu nồi canh, nhưng chẳng bao lâu nữa thì bọn này cũng chết thôi và bầu trời sẽ xanh hơn nhiều. Tôi đã từng đối diện với bọn này, và anh tin tôi đi, tôi biết, họ là đám hung bạo và không biết điều một cách vô lý nhất trên trái đất này. Nhưng mà thôi, dẫu sao thì họ cũng đã từng là cha mẹ, anh chị của mình, và chúng ta không làm gì được cả. Mình cứ mặc kệ họ, văn hóa mình nó là vậy rồi. Việc điên rồ này thì cũng chẳng ăn thua gì đâu, ta cứ ráng kiểu kính trọng họ và cứ mặc kệ họ, cứ tiếp tục làm thế đi. Cái đáng buồn là việc họ làm đã đem lại nhiều bất lợi cho cộng đồng chúng ta, nhưng không sao cả. Ta cứ hướng về nơi sáng sủa, còn nhiều người không thành sâu bọ trong cộng đồng mình lắm. Cái tên Lý Tống sẽ đi vào lãng quên, nhưng những tên khác sẽ được ghi nhớ chẳng hạn như tên của anh, Sonny Lê, Madison Nguyễn, Đàm Vĩnh Hưng, v.v… còn nhiều tên khác nữa, những người đã đóng góp rất nhiều cho cộng đồng mình. Hiện tại thì ta cứ phải coi chừng và tránh cái bình xịt cay ấy trong một khoảng thời gian ngắn nữa thôi, hy vọng là vấn nạn này sẽ tiêu tan trong vòng 5-10 năm nữa, nhưng mà đừng có phải lo phiền về chuyện này làm gì, đừng thèm để ý tới và cứ mặc kệ họ. Cảm ơn anh Sonny Lê nhé!”]

[16] Mạng lưới OneVietnam được ủng hộ và cố vấn từ hội Đông Tây Hội Ngộ trong thúc dục tạo sự nối kết toàn cầu cho tầng lớp thanh niên Việt và để làm các việc “không đề cập tới vấn đề chính trị hay sự cay đắng của quá khứ,” theo lời của cô Isabelle Lai, một trong những người sáng lập đã tuyên bố với ký giả đài VOA. http://www1.voanews.com/vietnamese/news/vietnam/onevietnam-07-03-10-97732519.html. Xem Minh Anh. (2010). OneVietnam kết nối người Việt toàn cầu (OneVietnam links the Vietnamese on the globe). Voice of America (VOA News.com), http://www2011.voanews.com/vietnamese/news/vietnam/onevietnam-2007-2003-2010-97732519.html

[17] Những người quan tâm đến vấn đề chính trị của Hoa Kỳ đã bàn cãi về danh hiệu của thời kỳ sau khi Barack Obama trở thành vị Tổng thống người da đen đầu tiên ở Hoa Kỳ. Có người lạc quan cho rằng thời kỳ hiện tại đã đi vào giai đoạn “hậu chủng tộc” khi mà các nhà tranh đấu cho dân quyền trong thế kỷ trước ủy thác cho lịch sử (thời đại “hậu dân quyền”), và người Mỹ không còn dựa vào yếu tố chủng tộc để chọn ai là người lãnh đạo họ nữa. Rất nhiều người và nhóm khác thì không tin rằng yếu tố chủng tộc đã chấm dứt là một động cơ quan trọng trong việc các thể chế và người nắm quyền đối xử với dân, và họ vẫn cho là giai đoạn hiện tại là thời đại “thui chột màu da” (color-blind). http://news.newamericamedia.org/news/view_article.html?article_id=95559f6b47b35378b96d56a0d13cf461

[18] Vi Nhân (2009, May 10th). “” (The Unspoken Ambiguities). talawas 10/05/20019, http://vietsoul21.net/2009/09/24/the-unspoken-ambiguities/

[19] Fanon, F. (1967). Black skin, white masks. New York, NY: Grove Press

[20] Hegel, G. W. F., Miller, A. V., & Findlay, J. N. (1977). Phenomenology of spirit. Oxford, UK: Clarendon Press.

[21] Xem chú thích số 16.

[22] Xem chú thích số 16.

[23] Xem chú thích số 1.

  Collective Amnesia and Rhetoric of Mobilized Participation

In remembrance of those stories told “by the reed of being separated”, “pulled from a source”, and “longs to go back”… “This reed is a friend to all, who want the fabric torn and drawn away.” (The illuminated Rumi, 1997)

Reading the opinion essay “It’s time to stop fighting the long-past Vietnam War” on July 27, 2010, we are relieved to see that the author was able to go beyond the naïve judgment of Ly Tong’s behavior as an “unacceptable” act of “so-called anti-American culture”—which was used strategically by Dũng Taylor, the show manager, and Đ Dzũng/Người Vit Newspaper reporter to the BBC to justify for greed and fear, and make excuse in favor of the discourse of a “whitening” refugee population.

Ly Tong’s individual act could be shamed and demonized as petty, evil, and uncivilized by many groups—White and non-White Americans who believe in the US superiority of “democracy”, fans of the singer, the profitable newspapers and entertainment industrial bodies as well as the overseas political opportunists and the corrupted Vietnamese Communist government. Yet, this “dark” move was carried out with a clear intent led to a successful result— singling out the generational amnesia prevalent within and beyond the Vietnamese consciousness outside of Vietnam. The op-ed piece was certainly written as one of such proof.

Not least to say, this judgment of “so-called anti-American culture” was strongly supported (with an implicated Americanized consent of prevailing Whiteness standard design) by most American-born Vietnamese youngsters who are either:

(1) assimilated to the updated racial ideologies—grounded yet in consumerism and individualism that led to passive politics masked as liberal cosmopolitan;

(2) internalized racism well alive in the mind of the colonized in the West during the modern-day process of emptying the social and privatizing its vocabularies;

(3) ignorant of Vietnamese history and complex oversea community dynamics due to their socialized learning inherited from the monopolized anti-war and banking education approach toward militarization and corporatization of North America schools;

or

(4) becoming, more or less, the neocolonialists under the global politics in terms of privilege, power, and status—which are revealed through a willingness (for cooptation) to link with Vietnam by means of entertainment, business, cultural, and humanitarian network.

All of the above group thinking, regardless of admitted or not, has heightened the dichotomous split of success/failure of the VCP’s Politburo Executive Order 36. These folks may not want to see that everyday living practice here and there is always about politics.

For the vocal group #4 mentioned above, they deeply feel as if they don’t belong regardless how hard they try in America. This surely applies to many beyond this certain group even though no one likes to admit. However, they do in particular desire relocating in Vietnam—where as long as they do not protest against oppression they could gain an advanced status and mobility because of their English language ability and Eurocentric-technocratic skills. Those specialty skills are abundant; yet, there are no job opportunities or just gained low-leveled positions in the “so-called diverse” societies like the U.S. or Europe.

Eventually, they aim to advance quickly in a “homeland”—where their vague or no childhood memory is re-membered, and skip the institutionalized racism experience in the West. Some even naively assume that if they close their eyes not seeing the vast suffering of veterans’ body limbs of North and South nor witnessing systemic violence, they would gain acceptance from the Vietnamese government. Then they could act and possess what they want for themselves, and become part of “a new liberated Vietnam”—the place where the American war experience could no longer be dialogued because of its relations with the U.S.

Most importantly, we wish that the opinion essay was not a revealing rhetoric piece. Although race was brought into the picture of such enduring post-war conflict (which is not wrong), the author contradicted himself. He was either in illusion or daydreaming with an attempt to rouse and challenge the Vietnamese outside of Vietnam to speak up and protest against injustice caused by the US involvement with other countries—at present or earlier time.

The author overlooks the fact that the Vietnamese, like other marginalized communities, are small colonies dispersed throughout America. They mark in their own way an unofficial and untold history of vulnerable exposure, hidden resistance, flexible strength, and decolonized agency without his involvement!!! Why did he not choose becoming an activist in the US working with the Vietnamese communities and other people of colors? Why chose to become a communication director for the East Meets West Foundation? Why so worrying that “The inhumanity and destruction of war should have been shoved down our throat. But if you do that, people won’t go to see it” at the Oakland Museum of California exhibition in late 2004? To serve which spectators? Because of the artifacts and knowledge production collected through storytelling among the South Vietnamese would strike the American conscience a little?

One should walk the talk of the “real” with “political theatrics” rather than lamenting the “possibilities”. As the communication expert and media consultant, the author was able to mobilize the OneVietnam network with more than 6,000 young fans to protest against any local injustice caused by the government officials toward the Vietnamese in New Orleans, Seattle, San Jose, Virginia, Iowa, etc. The author could follow his “calling” for pan-ethnic rallies against the US Congress regarding their utmost trading interests and a pretentious laissez-fair attitude toward human rights issues in Vietnam. He could also advocate for Vietnamese language preservation outside of Vietnam without a disturbing propaganda infiltrated by a cheap exported group of hired teachers from Vietnam to be currently placed in the U.S. higher education environment.

Unfortunately, together with other intelligentsias on both continents the author Le has lobbied these youngsters to assist the Asian philanthropy network—an embedded web belonged to the “non-profit industrial complex”—a system of relationships between the state, both right- and left-leaning foundations, the owning classes, and conservative social service and social justice-based organizations. This complex system results in the surveillance, control, and everyday management of political movements. A movement-building outside the nonprofit model (that solely serves the desire of mainstream racial politics via funding monitoring and the politics of expertism) seems out of reach and beyond imagination for the author and other Vietnamese youngsters.

The author’s tone appears as if he is speaking from the progressive force for peace and only peace. He forgot the privilege of having choices to choose peace in this country or not—any choices of these ironically cause destruction to the “other”. The tone was also couched with a hidden embarrassment while being forced to face the messes of internal discord and division not only at the communal level. His tone was subsequently endorsed by several paternalistic comments in relations to forgetting and forgiving few “bad apples” because “the future is key to this problem” for the post-memory generation’s sake!!!

The author, like many American-born Vietnamese and majority of the 1.5 generation, desires to be deafening to the inner rage and outer deviance rooted from the Vietnam/American War conflict. They long to cosmeticize the visible scar of the divided generational wounds to satisfy the neoconservative and neoliberal elites’ appetite. They could not arise beyond the charity mentality toward a liberated practice resisting violent force against human rights, here or else where. Their acts even perpetuate the dramatic shifts in power, technology, migration, trade and travel from North to South, from West to East, from the haves to the have-nots.

The author may think that he know solutions for the dilemma caused by the colonialization of the Vietnamese diasporic psychic space. Does he know that he is NOT the way out which the Vietnamese communities outside of Vietnam long to seek for?

San Jose Mercury News should promote with genuineness more than a sole opinion of one media consultant. Advocating for in-depth and reflective alternative of op-ed essays are in fact essential for the role of democratic media. Moreover, a willingness to imprint the power of shouts and silences to rise above the discourse of refugee nationalism and anti-communism should be more than a token inclusion of the unheard dissent voices.

For more than three decades, if these “deviants” shout out, they are pathologized as the “sick” and “crazy”, and told, “Go back to your country!” If they choose silence for various reasons, they are accused of being stupid (and convenient for structural manipulation and cultural erasure). If they are ambivalent but working hard, they are rewarded as the “good” minority to be modeled for other ethnic folks in pursuing “post-racial” American paradise. This catch 22 behavior of course fits with the status quo and sustains structures of racial (and class) inequality.

These voices should not follow the sophisticated template invented by the contemporary “slave masters” (Frantz Fanon and G.W.F. Hegel). These voices should not tailor to the blueprint mechanism functioning to serve the hidden yet domineering desire of Whiteness in the post-civil rights (or color-blind) era. Its everyday code, format, content, and pattern have suppressed the haunting national memories of the American war—a kind of memory lived only at the periphery of North American consciousness against the existing presence of the subjugated—the “FOB losers” seen as the fleeting phantoms.

Indeed, we need those grievant bodies of unchained shouts and mourning silences–rather than the imperial denial and silencing narrated from the official histories. Those bodies are to be acknowledged and performed for all, and definitely, not only in ordinary styles (i.e. elitist and poetic writing and printing) because “It’s time to stop fighting the long-past Vietnam War.”

VietSoul:21, Seattle

 

 

KỶ NIỆM THĂNG LONG VÀ NHU CẦU CHÍNH TRỊ

  TRẦN GIA PHỤNG

   Vào tháng 7 năm canh tuất (1010), vua Lý Thái Tổ (trị vì 1010-1028) đời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra Đại La, và ngài đổi tên Đại La thành Thăng Long. Tính cho đến nay, danh xưng Thăng Long được chẳn một ngàn năm. Nhà nước cộng sản Việt Nam (CSVN) dự tính tổ chức Lễ kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long vào ngày thứ Sáu 1-10-2010 (24-8 canh dần).

Ngày dương lịch và âm lịch nầy không phải là ngày dời đô, cũng không phải là một ngày trọng đại trong lịch sử Việt Nam. Ngày 1-10 là ngày quốc khánh của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc (CHNDTQ). Như thế nói trắng ra, vì nhu cầu chính trị, CSVN mượn Lễ kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long để tập họp dân chúng, mừng quốc khánh cộng sản Trung Quốc (CSTQ).

Đây không phải là lần đầu vì nhu cầu chính trị, CSVN sử dụng thủ thuật nầy. Khi mới cướp chính quyền năm 1945, Hồ Chí Minh đã một lần sáng kiến ra cách thức nầy để lấy lòng viên cao ủy Pháp tại Đông Dương là đô đốc Georges Thierry d’Argenlieu.

Nguyên theo tối hậu thư Potsdam ngày 26-7-1945, tại Việt Nam giải giới quân đột Nhật ở nam vĩ tuyến 16 là quân đội Anh và ở bắc vĩ tuyến 16 là quân dội Trung Hoa Quốc Dân Đảng (THQDĐ). Sau khi theo quân Anh, tái chiếm miền Nam Việt Nam, Pháp thương lượng với THQDĐ đưa quân ra Bắc. Sợ bị tiêu diệt, Hồ Chí Minh vội vàng ký với Pháp thỏa ước Sơ bộ ngày 6-3-1946, theo đó Pháp thừa nhận Việt Nam là một quốc gia tự do (état libre), có chính phủ riêng, nghị viện riêng và tài chính riêng trong Liên Bang Đông Dương (LBĐD) và trong Liên Hiệp Pháp (điều 1); Việt Nam sẵn sàng tiếp đón quân đội Pháp đến thay thế quân đội Trung Hoa để giải giáp quân đội Nhật (điều 2).

Thỏa ước Sơ bộ hoàn toàn trái ngược với lời thề chống Pháp của Hồ Chí Minh khi trình diện chính phủ vào ngày 2-9-1945. (Đoàn Thêm, 1945-1964: Việc từng ngày, Hai mươi năm qua, California: Nxb. Xuân Thu tái bản không đề năm, tr. 13.) Thỏa ước Sơ bộ bị dân chúng và các đảng phái chính trị theo chủ trương dân tộc phản đối.

Sau khi thương thuyết với THQDĐ, cao uỷ Pháp tại Đông Dương, đô đốc D’Argenlieu, mở cuộc kinh lý khu vực phía bắc vĩ tuyến 16 từ ngày 14-5-1946. D’Argenlieu đến Vạn Tượng (Vientiane, Laos) ngày 17-5-1946, đến Hà Nội chiều ngày 18-5-1946. Trên danh nghĩa, D’Argenlieu là cao uỷ, đại diện chính phủ Pháp tại LBĐD. Việt Nam là một quốc gia trong LBĐD. Vậy D’Argenlieu là nhà lãnh đạo hay quốc trưởng của Việt Nam và là cấp chỉ huy của Hồ Chí Minh. Theo nghi thức ngoại giao, để đón tiếp quốc trưởng, nhà cầm quyền Việt Minh phải treo quốc kỳ (cờ đỏ sao vàng) trong ba ngày để đón D’Argenlieu, nhưng VM nói là để mừng sinh nhật Hồ Chí Minh là ngày 19-5, tránh làm cho dân chúng phản đối chuyện đón quan chức Pháp.

Ngày sinh nhật nầy có nhiều câu hỏi cần được đặt ra. 1) Nhiều tài liệu cho thấy Hồ Chí Minh nhiều lần ghi năm sinh khác nhau, không chính xác. 2) Riêng trong đơn xin vào Hội Tam Điểm (Franc-Maçonnerie) vào đầu năm 1922, Hồ Chí Minh, lúc đó có tên là Nguyễn Ái Quốc, ghi trong phiếu cá nhân rằng ông sinh ngày 15-2-1895. (Jacques Dalloz, “Les Vietnamiens dans la Franc-Maçonnerie coloniale”, Revue française d’Histoire d’Outre-mer, 3ème Trimestre, Paris: Société Française d’Histoire d’Outre-mer, 1998, tr. 105.) Vậy tại sao bây giờ lại đổi ngày sinh thành 19-5. 3) Trước đó, Hồ Chí Minh không đề cập đến sinh nhật, thì tại sao nhân cuộc viếng thăm của D’Argenlieu lại có chuyện sinh nhật Hồ Chí Minh?

Vì các lẽ đó, dư luận cho rằng Hồ Chí Minh ngụy tạo sinh nhật để treo cờ, nhằm đón tiếp D’Argenlieu. Tuy nhiên, nếu treo cờ để đón đại diện Pháp thì Hồ Chí Minh sợ dân chúng phản đối và kết tội phản bội vì lúc đó tinh thần chống Pháp của dân chúng rất cao, nên Hồ Chí Minh vì nhu cầu chính trị, mượn cớ treo cờ mừng sinh nhật để tránh sự bất bình của dân chúng. Cần chú ý, ngày 19-5 là ngày ra mắt công khai mặt trận Việt Minh năm 1941 ở Pắc Bó, Cao Bằng.

Trường hợp sửa đổi ngày kỷ niệm vì nhu cầu chính trị thứ hai là ngày thành lập đảng CSVN. Vào ngày 6-1-1930, Hồ Chí Minh, lúc đó lấy tên là Lý Thụy, với tư cách là đại biểu của Đệ tam Quốc tế Cộng sản (ĐTQTCS), đứng ra thành lập đảng CSVN tại Hồng Kông. Ngoài những tài liệu Tây phương, tài liệu cụ thể về ngày thành lập đảng là “Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ II của đảng” do Hồ Chí Minh trình bày ngày 11-2-1951. Trong mục thứ hai tiểu đề “Đảng ta ra đời”, Hồ Chí Minh xác định: “Ngày 6-1, Đảng ta ra đời.” (Bài nầy được đăng trong sách do Hồ Chí Minh viết, Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, Hà Nội: Nxb. Sự Thật, 1976, tt. 97-120; và được đăng lại trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Hà Nội: Nxb. ChínhTrị Quốc Gia, 2000, tt. 153-176.)

Như thế, rõ ràng ngày thành lập đảng CSVN là ngày 6-1-1930. Xin kèm theo đây một tài liệu kỷ niệm thành lập đảng CSĐD năm 1948. (Chú ý câu mở đầu: Chính đảng của công nhân Đông Dương thành lập vào ngày 6-1-1930.) (Trích: Chính Đạo, Hồ Chí Minh, con người và huyền thoại, tập 1, in lần thứ hai, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1997, tr. 247.)

Tuy nhiên, về sau tại Đại hội III đảng Lao Động (tức đảng CSVN) ở Hà Nội từ 5 đến 10-9-1960, Bộ chính trị Trung ương đảng Lao Đông yêu cầu Đại hội thông qua quyết định thay đổi ngày thành lập đảng là 3-2-1930, vì “các đồng chí Liên Xô cho biết ngày đó mới đúng theo tài liệu lưu trữ của Liên Xô.” (Nguyễn Minh Cần, Đảng Cộng Sản Việt Nam qua những biến động trong phong trào cộng sản quốc tế, Nxb. Tuổi Xanh, không đề nơi xuất bản, 2001, tr. 74.)

Năm 1960, do nhu cầu chính trị, đảng Lao Động sửa ngày thành lập đảng theo lệnh của Liên Xô, nhưng cho đến nay, Liên Xô sụp đổ 20 năm rồi, đảng CSVN vẫn chưa chịu sửa lại cho đúng ngày thành lập, mà vẫn bắt học sinh học tập sai ngày, và đảng viên kỷ niệm sai ngày thành lập đảng CSVN.

Chẳng những đổi ngày vì nhu cầu chính trị, mà cũng vì nhu cầu chính trị, CSVN còn sửa luôn lịch để tạo sự bất ngờ trong cuộc tổng tấn công miền Nam Việt Nam vào năm 1968. Nguyên sau khi Bộ chính trị Trung ương đảng Lao Động (CSVN) quyết định sẽ tổng tấn công miền Nam vào dịp Tết Mậu Thân, chính phủ Bắc Việt ra quyết định số 121/CP ngày 8-8-1967, cho Nha Khí tượng thay đổi âm lịch, theo đó tháng chạp năm đinh mùi trong lịch mới ở Bắc Việt không có ngày 30 (âm lịch), trong khi ở Nam Việt có ngày 30 (âm lịch). Điều đó có nghĩa là Tết Bắc Việt Nam đến trước Tết Nam Việt Nam một ngày.

Việc đổi âm lịch nầy có hai điểm đáng ghi nhận: 1) Nha Khí tượng Hà Nội xác nhận việc đổi âm lịch không theo tính toán của những nhà khoa học lịch pháp, mà theo quyết định của nhà cầm quyền Hà Nội, tức việc đổi âm lịch có tính cách chính trị. (”Lời giới thiệu của Nha Khí tượng” Hà Nội, trong sách Lịch thế kỷ XX , Nxb. Phổ Thông, Hà Nội, 1968.) 2) Việc đổi âm lịch không được thông báo trước mà chỉ cho dân chúng Bắc Việt biết khi in lịch cho dân chúng sử dụng vào đầu năm 1968, nghĩa là chỉ còn hơn một tháng là đến Tết âm lịch năm mới (mậu thân). (Điều nầy được xác nhận trong “Lời nói đầu” hoặc “Lời giới thiệu” của các lần xuất bản về sau nầy; ví dụ lần xuất bản thứ nhì (1977), thứ ba (1982), và thứ tư (1991). Như thế, phải chăng Hà Nội muốn giữ bí mật việc đổi âm lịch để chuẩn bị cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân?

Việc đổi âm lịch đúng ngày mồng Một Tết Mậu Thân ở ngoài Bắc trùng hợp vào dịp tổng tấn công ở miền Nam Việt Nam, khiến về sau người ta nghi ngờ đây không phải là sự ngẫu trùng, mà đây là một âm mưu có tính toán để đánh lừa Nam Việt Nam và thế giới về lệnh tấn công của Hồ Chí Minh tại Hà Nội vào ngày mồng Một Tết Mậu Thân, 24 giờ đồng hồ tức trước Tết ở miền Nam Việt Nam.

Chẳng những Hồ Chí Minh mà các học trò của ông cũng học theo Hồ Chí Minh đổi ngày vì nhu cầu chính trị. Hồ Chí Minh chết ngày 2-9-1969. Ngày 2-9 là ngày quốc khánh của Bắc Việt cộng sản. Vì vậy, Bộ chính trị đảng Lao Động liền quyết định công bố cho dân chúng biết ngày chết của Hồ Chí Minh là ngày 3-9-1969. Lần nầy nhiều người biết chuyện Hồ Chí Minh chết, đảng Lao Đông không thể “lấy thúng úp tai voi” mãi, nên sau năm 1975, đảng CSVN đành phải điều chỉnh trở lại ngày chết của Hồ Chí Minh là 2-9, trùng với ngày quốc khánh của chế độ CSVN.

Quả thật các đảng viên CSVN rất thuộc bài vở của Hồ Chí Minh. Nay thủ thuật ra lệnh cho dân chúng treo cờ để mừng sinh nhật chủ tịch, lại được đảng CSVN tái ứng dụng lần nữa, dùng lễ kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long để tập họp dân chúng Việt Nam mừng quốc khánh CHNDTQ.

Đảng CSVN mừng quốc khánh CSTQ là noi gương chính trị của Hồ Chí Minh, vì Hồ Chí Minh là đảng viên đảng CSTQ. Sau đây là lời tự bạch của Hồ Chí Minh trong bài “Cách mạng Trung Quốc và cách mạng Việt”, viết nhân kỷ niệm 40 năm ngày thành lập đảng CSTQ (1/7/1921 – 1/7/1961). Hồ Chí Minh kể rằng: “Riêng về phần tôi, trong hai thời kỳ, tôi đã có vinh dự hoạt động trong đảng Cộng sản Trung Quốc. Đến Quảng Châu hồi 1924-1927, tôi vừa theo dõi phong trào cách mạng trong nước ta,vừa tham gia công việc đo đảng Cộng sản Trung Quốc giao phó… Tôi được tham gia việc dịch tài liệu nội bộ và việc “tuyên truyền đối ngoại”, tức là viết bài về phong trào công nông cho một số báo bằng tiếng Anh. Lần thứ hai tôi đến Trung Quốc (cuối năm 1938) vào thời kỳ kháng chiến chống Nhật. Là một người binh nhì trong “Bát lộ quân”, tôi làm chủ nhiệm câu lạc bộ của một đơn vị ở Quế Lâm. Sau đó, được bầu làm bí thư của chi bộ (kiêm phụ trách nghe rađiô) của một đơn vị ở Hành Dương…” Cũng trong bài viết trên, Hồ Chí Minh đã mô tả “mối quan hệ giữa cách mạng Trung Quốc và cách mạng Việt Nam thật là: Trăm ơn, ngàn nghĩa, vạn tình,/ Tinh thần hữu nghị quang vinh muôn đời!” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, Hà Nội: Nxb. Chính Trị Quốc Gia, 2000, tt. 366-367.)

Người sáng lập và lãnh đạo đảng CSVN có vinh dự hoạt động trong đảng CSTQ thì đảng CSVN mừng kỷ niệm quốc khánh CSTQ là chuyện không mới. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh và đảng CSVN mang ơn đảng CSTQ (“Trăm ơn, ngàn nghĩa, vạn tình…”) và muốn trả ơn như thế nào, đó là chuyện của CSVN, chứ không phải là ơn nghĩa của Trung Quốc đối với dân tộc Việt Nam. Dân tộc Việt Nam, ngay từ trước một ngàn năm Thăng Long, từ thời Hai Bà Trưng cho đến bây giờ, đã có quá nhiều kinh nghiệm xương máu với tập đoàn lãnh đạo bá quyền Bắc Kinh.

Không thể vì ơn nghĩa giữa hai đảng mà CSVN phản quốc, bán đứng Việt Nam cho CHNDTQ. Vào cuối thế kỷ 20, đảng CSVN đã ký liên tiếp hai bản hiệp ước dâng đất dâng biển cho CHNDTQ trước sự phẫn nộ của dân tộc Việt. Đó là Hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc, ký tại Hà Nội ngày 30-12-1999, nhượng cho Trung Quốc ải Nam Quan lịch sử, một nửa Thác Bản Giốc, nhiều cao điểm quân sự trọng yếu dọc biên giới phía bắc nước ta; và Hiệp ước phân định lãnh hải, ký tại Bắc Kinh ngày 25-12-2000 làm cho Việt Nam mất vào tay Trung Quốc khoảng 10,000 Km2 hay khoảng 8% mặt biển Vịnh Bắc Việt.

Nay một lần nữa, Thăng Long, cựu đô trong khoảng 8 thế kỷ của dân tộc Việt Nam, bị đảng CSVN đưa ra làm phẩm vật hiến tế, để mừng quốc khánh của CHNDTQ. Các nhà cầm quyền Trung Quốc đã bao lần đem quân xâm lược Việt Nam và giày xéo cố đô Thăng Long. Trung Quốc là một đại họa thường trực cho dân tộc Việt Nam từ thời cổ đại cho đến ngày nay.

Mượn chuyện kỷ niệm ngàn năm Thăng Long để mừng quốc khánh CHNDTQ là một điều hoàn toàn trái ngược với truyền thống lịch sử của cựu đô Thăng Long và lịch sử của dân tộc Việt Nam. Dân tộc Việt Nam vốn HIẾU HÒA, KHÔNG GÂY HẤN VỚI TRUNG QUỐC, NHƯNG SẴN SÀNG CHỐNG TRẢ TẤT CẢ NHỮNG CUỘC XÂM LĂNG CỦA TRUNG QUỐC. Vì thế, người Việt Nam không chấp nhận và phản đối mạnh mẽ hành vi nhục nhã của nhà cầm quyền CSVN, vì nhu cầu chính trị, mượn lễ kỷ niệm ngàn năm Thăng Long để mừng quốc khánh CHNDTQ.

TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, 5-9-2010)

”NẠN NHÂN CỦA CHẤT ĐỘC MẦU DA CAM” – MỘT CHIẾN DỊCH CHÍNH TRỊ

Nguyễn Tường Tâm

 Trước 1975, trong suốt cuộc chiến Việt Nam, đảng cộng sản đã dành được nhiều hậu thuẫn quốc tế cũng như quốc nội qua chiêu bài “Chống đế quốc Mỹ xâm lăng và ngụy quân nguỵ quyền miền nam để dành độc lập, thống nhất lãnh thổ.” Nhưng sau khi chiếm được miền nam, người miền bắc đã tỉnh ngộ để thấy mình bị lừa dối. Cùng với các chính sách tài chính, kinh tế và xã hội tàn bạo áp dụng trên cả nước, đảng cộng sản Việt nam đã mất hoàn toàn sự ủng hộ của quốc tế và dân chúng hai miền. Những ý kiến chống đảng của giới trí thức, cán bộ cao cấp, đảng viên lão thành và quảng đại quần chúng ngày càng nhiều. Đảng cộng sản Việt nam ngày càng sa lầy vào những bế tắc kinh tế, xã hội và chính trị. Để giải toả áp lực chính trị, và xã hội, đảng đã tung ra vấn đề nạn nhân của thuốc khai quang với tên gọi rất kích động “Nạn nhân của chất độc mầu da cam” để làm lạc hướng dư luận trong và ngoài nước. Trong nhiều năm nay đảng thành công trong việc vận động dư luận thế giới ủng hộ đòi hỏi Chính phủ Hoa Kỳ phải bồi thường cho các nạn nhân đó. Họ cũng đã thành công trong việc vận động một số khá đông những người Việt yêu nước bất kể chính kiến, trong và ngoài nước, ủng hộ việc trợ giúp cho những người bị dị tật bẩm sinh mà tất cả đều bị đảng cho là nạn nhân của “chất độc mầu da cam”.

 Nhưng câu hỏi là trong vấn đề đảng cộng sản Việt nam nêu lên có bao nhiêu phần trăm sự thật và bao nhiêu phần trăm nhằm mục đích tuyên truyền, đồng thời cho dù vấn đề nạn nhân của thuốc khai quang là có thật thì vẫn cần được nhìn dưới nhãn quan khách quan với trách nhiệm của cả ba bên tham chiến tại miền Nam Việt Nam là: Quân dân Việt Nam Cộng Hoà, Quân dân miền bắc Cộng Sản, và quân đội Hoa Kỳ.

Tác động nguy hại của thuốc khai quang đối với những người đã từng tiếp xúc với chúng là điều ngay từ khi mới khám phá ra các chất đó các khoa học gia đã xác nhận là có thực. Nhưng không phải chất độc đó gây ra tất cả mọi bệnh tật hay dị tật của con người. Chúng gây ra những bệnh tật gì và ảnh hưởng đó kéo dài trong bao lâu thì còn là vấn đề chưa được đồng ý hoàn toàn giữa các khoa học gia. Theo Wikipedia, những nghiên cứu kỹ càng và sâu rộng (extensive research) của tổ chức “The Hatfield Group” ở Vancouver, Canada trong hơn 1 thập niên, về ảnh hưởng lâu dài của chất độc mầu da cam trên môi trường đã thấy rằng các vùng bị rải chất độc mầu da cam trong chiến tranh hiện nay không còn tìm thấy lượng chất dioxin ở mức độ có thể đo được và không còn đe dọa cho sức khoẻ con người. (1)

 Thế nhưng hiện nay đảng cộng sản Việt nam đã gom góp trên toàn quốc tất cả các con người xấu số bị dị tật bẩm sinh để làm bằng chứng cho một chiến dịch vận động chính trị. Theo họ (Vietnam Red Cross), có tới 3 triêu người Việt nam bị ảnh hưởng bởi chất độc mầu da cam, trong đó có ít nhất 150, 000 trẻ em bị dị tật bẩm sinh (2). Thực sự có bao nhiêu người trong số 3 triệu người bị dị tật bẩm sinh đó là nạn nhân của thuốc khai quang là điều chưa có một báo cáo khoa học nghiêm chỉnh được kiểm chứng bởi các khoa học gia quốc tế xác minh. Đó chỉ là con số được loan báo một chiều của một đảng nổi tiếng trên thế giới về tài lừa dối và tuyên truyền. Đảng cộng sản không trưng ra được bằng chứng họ đã thực hiện những thử nghiệm y khoa trên toàn bộ 3 triệu người Việt nam bị dị tật đó để xác nhận họ là nạn nhân của thuốc khai quang chứ không phải là nạn nhân của định mệnh thiên nhiên. Với tình trạng xuống cấp của nền giáo dục các cấp và sự lẫn lộn giữa bằng tiến sĩ giả và tiến sĩ thật trong giới lãnh đạo chính trị và giáo dục ở trong nước khiến người ta có lý để nghi ngờ khả năng của giới khoa học trong nước trong việc thực hiện những thử nghiệm khoa học nếu có. Ngoài ra, bản chất của một chế độ luôn luôn chủ trương chính trị (lý thuyết mác lê) chỉ đạo mọi lãnh vực, kể cả khoa học, thì tính chất khách quan của các thử nghiệm nếu có vẫn khiến giới khoa học trên thế giới nghi ngờ. Sự nghi ngờ được dẫn chứng ở đoạn dưới đây.

 Từ cuối thập niên 1960, các nhà khoa học của cộng sản Việt nam đã thực hiện nhiều cuộc nghiên cứu về ảnh hưởng của chất dioxin đối với sức khỏe con người. Cuộc nghiên cứu thực hiện đối với các cựu bộ đội đi vào hoạt động trong nam trong thời chiến, so sánh với các cựu bộ đội không phải đi nam đã nhận thấy rằng những bộ đội đi nam bị tỉ lệ cao hơn trong việc nhiễm ung thư, và các rối loạn thần kinh, tiêu hóa, da và đường hô hấp. Thế nhưng vẫn theo Wikipedia, thì vấn đề ảnh hưởng của chất dioxin đối với vấn đề mang thai và sinh sản lại còn đáng tranh cãi hơn nữa, một phần vì cuộc nghiên cứu đó thực hiện tại Việt nam phần lớn đã không được trao cho các khoa học gia nước ngoài xem xét hay không được đăng trên các tạp chí khoa học. (3)

 Tính chất khách quan, khoa học, của các nghiên cứu của đảng cộng sản Việt Nam có thêm điểm đáng ngờ nữa là trong các người bị gọi là nạn nhân của chất độc mầu da cam, không thấy có các cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hoà và vợ con, cháu, chắt của họ. Và thực tế là trong cộng đồng cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hoà cùng với gia đình họ, ở trong nước cũng như tại hải ngoại không nghe nói có ai là nạn nhân của thuốc khai quang, trong khi chính bản thân họ đã sống quanh năm ngày tháng trong các khu rừng cây cối bị tận diệt vì loại thuốc đó.

 Các sự kiện vừa nêu khiến người ta khó tin rằng đảng cộng sản Việt Nam phát động chiến dịch trợ giúp “nạn nhân chất độc mầu da cam” phát xuất từ thiện ý nhân đạo mà nhằm hai mục tiêu: tài chánh và chính trị.

 Về tài chánh, cho tới nay đảng đã thu được một số tiền trợ giúp nhân đạo đáng kể từ nước ngoài. Theo Wikipedia, Hội Hồng Thập Tự Việt Nam (Vietnam Red Cross) đã quyên góp được hơn $22 triệu đô la để trợ giúp những người đau yếu và tàn tật, và nhiều tổ chức của Hoa Kỳ cũng như Liên Hiệp Quốc, nhiều chính phủ Âu châu và các tổ chức phi chính phủ đã tặng Việt Nam tổng cộng khoảng $23 triệu đô la cho các chương trình liên quan tới chất khai quang. (4)

Thêm nữa, vào cuối tháng 5/2007, Tổng thống Hoa Kỳ Bush đã ban hành một đạo luật ngân sách bổ sung cho chiến phí tại Iraq và Afghanistan trong đó có dành ra 3 triệu đô la tài trợ cho các chương trình phục hồi các hậu quả của thuốc khai quang. Ngân khoản dành riêng này được tái tục trong ngân sách các năm 2009 và 2010. (5)

Ngoài mục tiêu tài chánh như vậy, đảng còn có mục tiêu chính trị, là mục tiêu chủ yếu, nhằm xác định trước quốc tế và nhân dân Việt nam, rằng cuộc chiến xâm lăng miền nam trước 1975 do đảng phát động là cuộc chiến có chính nghĩa vì chống lại kẻ xâm lược là Hoa Kỳ và bè lũ tay sai là quân dân Việt Nam Cộng Hoà.

 Hiện đảng rất cần chính nghĩa đó để bẻ gẫy những luận điểm của các nhà sử học, các bậc trí thức trong đảng, các đảng viên cấp tiến ở mọi cấp, đã tỉnh ngộ, xác định cuộc chiến 1945-75 không phải là cuộc chiến dành độc lập mà chỉ là một cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Miền nam thì dựa vào Hoa Kỳ và Thế giới tự do để chống sự xâm lăng của cộng sản miền bắc. Giới lãnh đạo miền bắc thì dựa vào Nga, Tầu để xâm lăng miền nam, thực hiện thế giới đại đồng theo chủ thuyết ngoại lai Mác xít Lê Nin nít.

 Việc dành lại chính nghĩa của cuộc chiến đã qua đối với đảng cũng hết sức cần thiết để ru ngủ những chiến sĩ, bộ đội, đảng viên, hiện bất mãn vì chợt nhận ra mình đã dại dột hy sinh một đời theo đảng để rồi ngày nay bản thân, gia đình không có một mái nhà che thân đàng hoàng, con cháu không đủ cơm ăn, không có công ăn việc làm, bên cạnh những dinh thự nguy nga của những ông “quan cách mạng” có đám con cháu tiêu tiền như nước, và rồi nhìn thấy đảng “của mình khi xưa” nay đang bất lực trước sự xâm lăng theo kiểu tầm ăn dâu của Trung cộng.

Hãy tạm gạt bỏ mọi đòi hỏi bằng chứng khoa học, cứ cho là tất cả những người bị dị tật bẩm sinh mà đảng mang ra gây áp lực với công luận đều là nạn nhân của thuốc khai quang do Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hoà xử dụng, thì trách nhiệm đó cũng không thể đổ lỗi cho một mình Hoa Kỳ. Người phải chịu trách nhiệm trước hết và trên hết về vấn đề này là giới lãnh đạo và các thành phần tham gia cuộc chiến tranh tự vệ ở miền nam chống sự xâm lăng của cộng sản miền bắc.

 Hoa Kỳ chỉ là một đồng minh được quân dân miền nam yêu cầu tham chiến giúp ngăn chặn sự xâm lăng của bộ đội cộng sản miền bắc. Miền Nam Việt Nam có chủ quyền. Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà ở miền nam là một chính phủ hợp pháp. Mọi vũ khí, chuyến thuật, chiến lược quân đội Hoa Kỳ xử dụng tại miền nam, theo công pháp quốc tế, đều phải được chính phủ Việt Nam Cộng Hoà chấp thuận. Như vậy mọi điều đáng lên án trong chiến tranh, nếu có, phải qui trách trước hết cho giới lãnh đạo Việt Nam Cộng Hoà và thành phần tham chiến tại miền nam trước năm 1975. Thành phần này vẫn còn nhiều ở trong nước cũng như tại hải ngoại. Không thể kết tội Hoa Kỳ mà không kết tội quân dân Việt Nam Cộng Hoà.

 Nhưng cũng cần hiểu thêm rằng, trong cuộc chiến trước 1975, quân dân Việt Nam Cộng Hoà chỉ là thành phần tự vệ. Quân dân Việt nam Cộng Hòa không tấn công, gây rối, phá hoại tại miền Bắc. Chỉ có bộ đội miền bắc, dưới sự chỉ đạo của đảng, vào miền nam xâm lăng, phá hoại cuộc sống yên vui, thịnh vượng của miền nam. Như vậy thành phần đáng kết tội nhất phải là kẻ cướp, kẻ xâm lăng, phải là đảng cộng sản. Thêm nữa, cũng tàn bạo tương tự như chất khai quang, như bom B 52, được quân dân miền nam và Hoa Kỳ xử dụng, hoạt động của bộ đội cộng sản với các cuộc pháo kích bằng đủ mọi loại vũ khí, hoả tiễn lớn nhỏ, gài mìn vào các khu đông dân cư, các cuộc tàn sát tập thể những dân thường như cuộc tàn sát 5 ngàn dân Huế trong tết Mậu Thân 1968, những hành động mà ngày nay thế giới lên án là các hoạt động khủng bố, cũng cần phải bị kết án.

 Trong suốt mấy chục năm trời chiến tranh, đảng cộng sản miền bắc đã lừa gạt dân chúng trong nước và thế giới rằng họ không đưa quân xâm lăng miền nam. Nhưng trong báo cáo khoa học trong mấy năm qua, họ lại nói rằng, lượng dioxin trong cơ thể những bộ đội phải đi nam chiến đấu và công tác cao gấp nhiều lần trong cơ thể của các bộ đội không phải đi nam. Qua bản gọi là nghiên cứu khoa học đó, đảng cộng sản đã công khai thú nhận là thủ phạm xâm lăng miền nam. (6)

 Về mặt lý, không có một luật lệ của bất cứ thời nào, nước nào, lại không kết tội kẻ xâm lược mà đi kết tội kẻ bị xâm lược. Thế giới không thể để kẻ cướp là đảng cộng sản tiếp tục tung ra chiến dịch “nạn nhân của chất độc mầu da cam” để lừa gạt hòng che dấu tội xâm lăng miền nam, và dành lấy chính nghĩa trong cuộc chiến vừa qua.

 Ghi chú: (1); (2); (3); (4); (5): Agent Orange-From Wikipedia, the free encyclopedia (6): xem (2)

SỰ THẬT VỀ VINH DANH CỜ VÀNG Ở SEATTLE/WA

Trong những ngày gần đây tại Seattle /WA đã có sự qua lại về sự việc “Vinh danh cờ vàng”. chúng tôi mời quý độc giả nghe Audio sau đây để biết sự thật của câu chuyện,tránh những tranh cải vô ích.


Chúng tôi kính mời quý vị so sánh giửa hai cái : NGHỊ QUYẾT(resolution) và SỰ CÔNG NHẬN ( recognition) . Những kẻ làm chính trị dzởm đã dịch chữ RECOGNITION  ra tiếng Việt là NGHỊ QUYẾT (BẢN DỊCH ĐÍNH KÈM) . kHÔNG HIỂU ĐÂY LÀ LỪA HAY LÀ DỐT ? Cái nào cũng đáng trách.

Đây là bản nghị quyết công nhận cờ vàng ,NGHỊ QUYẾT CÓ NGHĨA ĐÃ ĐƯỢC MỘT HỘI ĐỒNG... CHẤP NHẬN

Đây là bản công nhận cờ vàng của cá nhân ông thị trưởng ,có nghĩa không được thông qua một Hội đồng

Những kẻ làm"chính trị" dịch ra từ nguyên bản ở trên .DỐT HAY LÀ BỊP?

LÁ CỜ CHÍNH NGHĨA

GS Trần Gia Phụng

Lời người viết: Sau khi bài “Mặt trời không bao giờ lặn bên trên lá Cờ vàng ba sọc đỏ” được đăng trên báo và đưa lên web, có một độc giả tự xưng là du học sinh Việt Nam gởi e-mail cho người viết và đưa ra hai câu hỏi: 1) Tại sao người viết nói rằng lá Cờ vàng ba sọc đỏ xuất hiện năm 1948 chứ không phải 1954 khi đất nước bị chia haỉ 2) Nếu người viết bảo rằng lá Cờ vàng ba sọc đỏ là lá cờ chính nghĩa thì người viết giải thích như thế nào về biến cố 1975? Xin cảm ơn anh du học sinh đã đặt câu hỏi. Sau đây là bài trả lời câu hỏi thứ nhất. Tôi sẽ trả lời câu hỏi thứ hai trong số báo sau.

1.- HOÀN CẢNH LỊCH SỬ

Năm 1945, sau thế chiến thứ hai, Hồ Chí Minh và mặt trận Việt Minh (VM), một tổ chức ngoại vi của đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD), nhanh tay chiếm được chính quyền. Vua Bảo Đại (trị vì 1925-1945) quyết định thoái vị và trao quyền lại cho mặt trận VM. Ngày 2-9-1945, Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và ra mắt chính phủ lâm thời, chọn cờ của mặt trận VM là Cờ đỏ sao vàng làm quốc kỳ.
Không đầy mười ngày sau, trung ương đảng CSĐD họp tại Hà Nội ngày 11-9-1945 đưa ra chủ trương VM độc quyền cai trị đất nước. (Philippe Devillers, Histoire du Viet-Nam de 1940 à 1952, Paris: Éditions du Seuil, 1952, tr. 143.) [Về sau, đảng Cộng Sản Việt Nam tiếp tục việc nầy qua điều 4 hiến pháp năm 1992.]
Để bảo đảm độc tôn quyền lực, về đối nội, VM thực hiện kế hoạch mà VM gọi là “giết tiềm lực” hay “tiêu diệt tiềm lực”, tức là tiêu diệt tất cả các đảng phái và tất cả các thành phần theo chủ nghĩa dân tộc, tất cả những người có khả năng nhưng không cộng tác với VM, có thể nguy hiểm cho VM hay trở thành đối thủ của VM trong tương lai.

Về đối ngoại, VM nhượng bộ các lực lượng nước ngoài để rảnh tay đối phó với các lực lượng đối kháng trong nước, nhằm duy trì việc độc quyền chính trị. Khi Pháp gởi lực lượng, theo quân Anh tái chiếm miền Nam, rồi tiến ra Bắc nhằm thay thế quân Trung Hoa Quốc Dân Đảng, VM liên tục nhượng bộ. Thấy VM yếu kém, ngày 18-12-1946, Pháp buộc VM phải giao quyền kiểm soát an ninh Hà Nội cho Pháp. Hồ Chí Minh họp trung ương đảng CSĐD tại Vạn Phúc (Hà Nội) trong hai ngày 18 và 19-12-1946, quyết định bất ngờ tấn công Pháp tối 19-12-1946. (Một nhóm tác giả, Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Hà Nội: Nxb. Quân Đội Nhân Dân, 2004, tt. 503-504.) Không thể để Pháp bắt và cũng không thể bỏ trốn nhục nhã, quyết định của hội nghị Vạn Phúc nhằm tạo cơ hội cho các nhà lãnh đạo VM và đảng CSĐD thoát thân ra khỏi Hà Nội một cách chính thức. Thế là chiến tranh không tuyên chiến xảy ra.

Trong khi chiến tranh tiếp diễn, VM tiếp tục chủ trương “giết tiềm lực”. Trong các năm 1945, 1946, 1947 trên toàn quốc, VM giết khoảng 100,000 người ở tất cả các cấp từ trung ương xuống tới địa phương làng xã. Đứng đầu danh sách nầy là những nhân vật như Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Huỳnh Phú Sổ, Trương Tử Anh …
Vì bản năng sinh tồn, những người theo chủ nghĩa dân tộc không cộng sản phải trốn tránh, bỏ ra nước ngoài, hoặc phải đến sinh sống tại vùng do Pháp tái chiếm khi Pháp trở lại Đông Dương, hay chẳng đặng đừng cộng tác với Pháp để thành lập tổ chức hành chánh địa phương tạm thời do Pháp bảo trợ, chống lại VM.

Ở Nam Kỳ, chính phủ Cộng hòa Lâm thời Nam Kỳ được thành lập tháng 6-1946, đổi thành chính phủ Nam Kỳ tự trị tháng 2-1947. Cũng trong tháng 2-1947, Pháp thành lập Hội đồng chấp chánh lâm thời Trung Kỳ tại Huế. Ra tới Hà Nội, Pháp thành lập Uỷ ban Lâm thời Hành chánh và Xã hội, còn được gọi là Hội đồng An dân tháng 5-1947. Tháng 10-1947, ông Nguyễn Văn Xuân, thiếu tướng trong quân đội Pháp, đã từng được Hồ Chí Minh cử làm quốc vụ khanh trong chính phủ VNDCCH ngày 2-9-1945, đứng ra thành lập chính phủ lâm thời Nam Kỳ.
Việt Minh kết án chung tất cả các tổ chức nầy là Việt gian, tay sai thực dân Pháp. Tuy nhiên nếu những người nầy không hợp tác với Pháp để chống VM cộng sản, bảo toàn sinh mạng của chính họ, thì không lẽ họ ngồi yên để chờ đợi VM tới bắt giết, như đã từng bắt giết Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi? Nếu Nguyễn Văn Xuân, một tướng lãnh trong quân đội Pháp, là tay sai của thực dân Pháp, thì tại sao Hồ Chí Minh lại cử làm quốc vụ khanh trong chính phủ của Hồ Chí Minh?

2.- CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ XUẤT HIỆN

Trong khi đó, trong một chuyến công du cho chính phủ VM qua Trung Hoa tháng 3-1946, theo lời cựu hoàng Bảo Đại, cố vấn chính phủ VM, ông bị phái đoàn VM bỏ rơi ở lại Côn Minh (Kunming) tháng 4-1946. (Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, California: Nxb. Xuân Thu, 1990, tr. 242.) Cựu hoàng tự ý thức rằng VM bỏ rơi ông có nghĩa là VM không còn cần đến ông nữa, nên cựu hoàng bắt đầu tách ra khỏi chính phủ VM, qua trú ngụ ở Hồng Kông. Các lãnh tụ trong các tổ chức hay đảng phái theo chủ nghĩa dân tộc dần dần tập họp chung quanh cựu hoàng Bảo Đại, yêu cầu cựu hoàng ra cầm quyền trở lại, nhằm tranh đấu giành độc lập và thống nhất đất nước.

Về phía Pháp, sau một thời gian thương thuyết với VM nhưng thất bại, Pháp thay đổi chính sách từ tháng 9-1947, quay qua thương thuyết với cựu hoàng Bảo Đại để tìm một giải pháp mới. Cao uỷ Pháp tại Đông Dương là Émile Bollaert gặp cựu hoàng Bảo Đại trên một chiếc tàu thả neo ở vịnh Hạ Long ngày 6-12-1947. Hai bên đồng ký bản thông cáo chung theo đó Pháp hứa trao trả độc lập cho Việt Nam và ngược lại Việt Nam hứa sẽ cộng tác và ưu tiên sử dụng chuyên viên Pháp trong công cuộc kiến thiết đất nước.
Sau cuộc nói chuyện sơ khởi trên đây, Bảo Đại qua Pháp tiếp tục vận động. Để tạo cơ chế hành chánh chung có thể nói chuyện với Pháp, khi trở về lại Hồng Kông, cựu hoàng uỷ cho Nguyễn Văn Xuân lập chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam. Nguyễn Văn Xuân được Hội nghị các giới cầm quyền do Pháp bảo trợ và đại diện các đoàn thể, các đảng phái tại ba miền Bắc Trung, Nam Việt Nam, họp tại Sài Gòn ngày 20-5-1948, đồng ý ủng hộ làm thủ tướng.

Ngày 1-6-1948 Nguyễn Văn Xuân chính thức công bố chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam gồm đầy đủ đại diện Bắc, Trung và Nam Việt Nam. Hôm sau, 2-6-1948, thủ tướng Nguyễn Văn Xuân công bố “Pháp quy lâm thời” (Statut provisoire), quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ ở giữa, quốc ca là bài “Tiếng gọi sinh viên”, sau đổi là “Tiếng gọi thanh niên” của Lưu Hữu Phước.
Khi chuẩn bị lập chính phủ, Nguyễn Văn Xuân đã cho trưng cầu ý kiến về việc chọn quốc kỳ. Lúc đó có năm lá cờ được đề nghị để chọn làm quốc kỳ, gồm có ba lá cờ do uỷ ban đại diện ba miền Bắc, Trung và Nam phần đưa ra, và hai lá cờ do đại diện Phật Giáo Hòa Hảo và đạo Cao Đài đề nghị. Cuối cùng lá cờ do đại diện miền Nam đề nghị được chấp thuận vì có ý nghĩa nhất, lại không phức tạp, dễ thực hiện.
Quốc kỳ mới do thủ tướng Nguyễn Văn Xuân công bố hình chữ nhật, chiều cao bằng hai phần ba chiều ngang, nền vàng giống như cờ của Trần Trọng Kim, nhưng thay vì quẻ ly, nay đổi lại ba sọc đỏ bằng nhau, chạy dài theo chiều ngang của lá cờ. Chiều cao chia thành 3 phần bằng nhaụ Ở phần giữa, ba sọc đỏ nằm xen kẻ với hai sọc vàng, tất cả năm sọc đều bằng nhau.
Ngày 8-3-1949 cựu hoàng Bảo Đại ký với tổng thống Pháp là Vincent Auriol hiệp định Élysée, tại Paris, theo đó chính phủ Pháp chính thức giải kết hòa ước bảo hộ năm 1884, Việt Nam độc lập trong Liên Hiệp Pháp. Sau những thủ tục pháp lý đưa Nam Kỳ, vốn là thuộc địa của Pháp, sáp nhập trở lại vào lãnh thổ Việt Nam, nghĩa là đất nước được thống nhất, Bảo Đại trở về Việt Nam lập chính thể Quốc Gia Việt Nam do ông làm quốc trưởng cuối tháng 4-1949.

Lúc đó, trên đất nước Việt Nam có hai chính phủ. Chính phủ QGVN ở các thành phố và vùng nông thôn phụ cận. Chính phủ VNDCCH ở núi cao, rừng sâu và bưng biền. Khu vực cai trị của hai bên không có giới tuyến rõ rệt. Hai chính phủ theo hai đường lối hoàn toàn đối kháng nhau. Chính phủ QGVN chủ trương tự do dân chủ, đa đảng tuy có phần hạn chế vì chiến tranh, và dựa trên nền tảng văn hóa dân tộc. Chính phủ VNDCCH chủ trương độc tài toàn trị, độc đảng và dựa trên nền văn hóa Mác-xít. Hai chính phủ được tượng trưng bằng hai lá cờ cũng đối nghịch nhau: Cờ vàng ba sọc đỏ và Cờ đỏ sao vàng.

Về phía QGVN, do đặc trính tự do dân chủ, nhiều chính phủ kế tiếp nhau cầm quyền. Cuối cùng, năm 1954 quốc trưởng Bảo Đại cử Ngô Đình Diệm lập chính phủ. Ngô Đình Diệm chính thức chấp chánh từ ngày 7-7-1954 (ngày Song thất). Hai tuần sau, hiệp định Genève được ký kết ngày 20-7-1954, chia hai nước Việt Nam ở sông Bến Hải (vĩ tuyến 17), VNDCCH ở phía bắc và QGVN ở phía nam.
Ông Diệm ổn định tình hình miền Nam, tổ chức trưng cầu dân ý ngày 23-10-1955, thiết lập chế độ Việt Nam Cộng Hòa do ông làm tổng thống ngày 26-10-1955. Quốc hội lập hiến được bầu ngày 4-3-1956, bàn chuyện thay đổi quốc kỳ và quốc ca, nhưng chưa có mẫu vẽ quốc kỳ mới nào ưng ý hơn, nên ngày 31-7-1956, Quốc hội ra quyết nghị hoãn bàn, và vẫn giữ quốc kỳ như cũ. Sau đó Quốc hội mở cuộc thi vẽ quốc kỳ mới; có tất cả 350 mẫu cờ và 50 bài nhạc được đề nghị. Ngày 17-10-1956, Quốc hội lập hiến một lần nữa ra tuyên bố không chọn được mẫu quốc kỳ và bài hát nào hay đẹp và ý nghĩa hơn, nên quyết định giữ nguyên màu cờ và quốc ca cũ làm biểu tượng quốc gia.
Lá Cờ vàng ba sọc đỏ được miền Nam sử dụng cho đến năm 1975, khi cộng sản Bắc Việt, với sự hậu thuẫn của Quốc tế cộng sản, cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam ngày 30-4.
Như thế, lá Cờ vàng ba sọc đỏ đã xuất hiện từ năm 1948 trên toàn quốc, chứ không phải chỉ xuất hiện sau năm 1954, ở miền Nam Việt Nam sau khi đất nước bị chia hai. Lá Cờ vàng ba sọc đỏ hoàn toàn đối nghịch với lá Cờ đỏ sao vàng chẳng những về màu sắc, nhưng quan trọng nhất đối nghịch cả về ý nghĩa chính trị. Một bên, Cờ vàng ba sọc đỏ tượng trưng cho tự do dân chủ và dân tộc; một bên, Cờ đỏ sao vàng tượng trưng cho độc tài, đảng trị và quốc tế cộng sản.

TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, 04-04-2009)

SỰ HIỂU BIẾT CỦA NGƯỜI MỸ VỀ KINH TẾ ĐÃ ĐƯA ĐẾN CUỘC KHỦNG HOẢNG …


Người Mỹ có thể ứng phó với cơn khủng hoảng kinh tế, tài chánh dễ dàng hơn, nếu ngay từ đầu họ đã biết thận trọng trong việc tiết kiệm, đầu tư, hiểu rõ việc làm của mình khi chọn các quyết định tài chánh cá nhân như ký giấy nợ vay tiền, bỏ tiền vào quĩ đầu tư vân vân..

Thôi nào, chúng ta hãy nên nói thật với nhau đi:chúng ta chẳng bao giờ hiểu rõ ngọn ngành của những thuật ngữ đầu tư tài chánh. Không những đối với những chữ phức tạp như “credit swaps” hay “derivatives” mà ngay cả những cụm từ đơn giản hơn như “compound interest” hay “balloon payments”, chúng ta cũng chẳng hiểu đến nơi đến chốn những chữ này. Thế mà chúng ta vẫn cứ làm nó tỉnh bơ. Chúng ta đọc tài liệu về “hedge fund”, đọc rồi nhớ mại mại thôi, chứ chẳng hiểu rõ chuyện gì xảy ra đối với những loại “hedge fund” này.

Vấn đề lớn nhất không ai tiện nói ra đằng sau lưng cái hoạ khổng lồ gây ra bởi vụ “subprime mortgage”, và rồi “bailout” chính là việc đa số người Mỹ chẳng hiếu chút gì về nhửng yếu tố cơ bản của nền kinh tế. Gặp phải những dụng cụ đầu tư tài chánh ngày càng nhiều, phức tạp và bí hiểm, kiến thức của chúng ta không thể theo kịp nổi, chúng ta chỉ còn trông nhờ vào tấm lòng đạo đức, và tinh thần trách nhiệm tối thiểu của những người làm trong ngành này. Chúng ta vái thầm trong bụng rằng các ông chủ ngân hàng, các trung gian môi giới, các bảng chỉ dẫn đánh giá từng loại quĩ đầu tư, hay nhữ cố vấn tài chánh giúp cho chúng ta những khi chúng ta cần chọn lựa quyết định.

Một phần nguyên do gây nên tình trạng bi đát hiện nay là do ở việc chúng ta tin cậy vào người khác để họ chọn lựa giúp cho mình. Nói theo kiểu ngụ ngôn là hầu hết chúng ta không dè “ông hoàng đế không mặc quần áo”, và không dám nói to lên điều này. Chúng ta tìm đâu ra lý do gỉai nghĩa được hành vi của hàng triệu người đặt bút ký giấy nợ vay tiền mua nhà mà không hiểu rành rẽ hậu quả sẽ ra sao, hay hàng ngàn người đưa tiền triệu cho tên đại bịp Bernard Madoff nhờ hắn đầu tư mà không hiểu rõ ràng sách lược đầu tư sinh lới của y như thế nào.

Hồi còn đang ra tranh cử tổng thống, ông John McCain bị chỉ trích thậm tệ khi ông nói thật rằng ông không thể nào hiểu nổi hết về những vấn đề kinh tế phức tạp. Cái tội chính của ông McCain không phải là vấn đề ông kém hiểu biết về kinh tế, rất có thể các vị nghị sĩ đồng viện của ông cũng chẳng khá gì hơn ông, có điều rõ rệt là ông đã thành thật khi nói lên điều này. Khi một Thượng Nghị Sĩ mắng những nghị sĩ khác, hỏi rằng họ đã đọc đạo luật “bailout” chưa, mà vội lên tiếng chê bai. Chúng ta có quyền hỏi lại ông thượng nghị sĩ này ông đã đọc rồi nhưng ông có hiểu tường tận đạo luật “bailout” không.

Nếu chỉ là một bài toán đố khó thì sự kém hiểu biết là điều dễ hiểu, nhưng tình hình tài chánh thời buổi này quá phức tạp, khiến cho việc đọc để hiểu nó là một vấn đề trần ai, nan giải. Hãy đơn giản hóa nó đi, chẳng hạn lấy loại nợ 30 năm lãi xuất cố định để vay tiền mua nhà, một kiểu nợ dùng cho ai cũng được “one size fits all”. Khi đó không cần phải nói thêm nợ loại “subprime” đồng nghĩa với “foreclosed”, tức là có ngày sẽ bị ngân hàng lấy lại nhà vì trả nợ không nổi. Khi quĩ hưu bổng được đặt ra, không cần phải hiểu rõ những điều cơ bản trong quĩ 401 (k), cứ để dành tiền vào đó là chắc chắn. Ngày xưa Hoa Kỳ vẫn nổi tiếng là một quốc gia có những ngành kinh doanh lớn, cung cấp các mặt hàng, dịch vụ thật tốt, có chất lượng đáng tin cậy. Thế rồi, bỗng nhiên lúc gần đây quốc gia này trở thành một nước cung cấp tài chánh cho những công ty cung ứng hàng hoá, dịch vụ, và những công ty đó cung ứng hàng tốt hay xấu là vấn đề hên xui, may ruỉ, giống như ta đi đánh bạc.

Xin các bạn đừng hiểu sai ý của tôi: vụ khủng hoảng hiện nay không hẳn chỉ là lỗi của các ngân hàng lớn. Tôi cũng không muốn qui trách nhiệm cho những người dân đóng thuế bình thường phải chịu những thiệt hại gây ra bởi việc làm sai trái của những công ty lớn. Tôi chỉ muốn nói rằng qua cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chánh hiện nay, chúng ta rút tỉa ra được một bài học là trong lãnh vực tài chánh cá nhân, cũng như nhận định về chính trị, đa số chúng ta không hiểu biết rõ về việc mình làm, vì thế mới đưa đến nông nỗi như ngày hôm nay.

Như vậy, là một quốc gia, chúng ta phải làm gì để giáo dục người dân đây? Lấy ví dụ cha mẹ nên dạy con cái những điều căn bản về việc sử dụng tiền, về kinh tế, tạm gọi là môn Kinh Tế Học căn bản, Econ101. Nhưng rồi, lại giống như môn giáo dục sinh lý, cha mẹ cứ thường để con cái tự tìm hiểu lấy, học hỏi qua người khác. Trở lại vấn đề kinh tế, dĩ nhiên, bạn bè của nhóm bạn trẻ xúi bảo nhau hãy dùng thẻ plastic. Hồi năm 2007, tổ chức Sallie Mac nghiên cứu cho thây hơn phân nửa sinh viên đều mang một món nợ trong người từ $5,000 trở lên vì dùng thẻ tín dụng lúc còn đang đi học, và khoảng một phần ba sinh viên mắc nợ đến hơn $10,000.

Bây giờ, một số tiểu bang bắt buộc phải dạy môn tài chánh ở bậc trung học. Một số nhà nghiên cứu nói rằng có dạy đi chăng nữa cũng chẳng ích lợi gì. Nhưng hãy cứ để ông thầy, hay cô giáo ở trường trung học tiểu bang Oregon giải thích thật rõ, hay chiếu cho học sinh xem cuốn video, chỉ cho các em biết một món hàng mua bằng thẻ tín dụng sẽ thực sự tốn là bao nhiêu nếu như lúc “bill” gởi về nhà, các em không chịu trả sạch nợ ngay tức khắc.( Sẽ được thêm điểm nếu em nào cho biết lãi suất các thẻ tín dụng tính trên số nợ chưa trả hiện nay là bao nhiêu?).

Hài tội mấy người chịu trách nhiệm canh chừng các định chế tài chánh như Ủy Ban Giám Sát Thị Trường Buôn Bán Chứng Khoán, Securities and Exchange Commission, hay chê bai mấy bảng đánh giá (rating) thành tích hoat động của các funds, hay loại stocks, loại bonds thì dễ lắm, song cũng chẳng đi đến đâu. Chúng ta gọi những người bị thua lỗ vì kế hoạch lừa gạt kiểu Ponzi của tên Bernard Madoff là những “nạn nhân”. Tội nghiệp họ chăng? Tại sao ngay từ đầu họ không chịu tìm hiểu tường tận lối làm ăn của tên Bernie Madoff. Họ cả tin vào hắn, không hề thắc mắc gì cả, đem trứng giao cho ác, bây giờ chỉ có nước bắc thang lên hỏi ông giời.

Người Mỹ đã lơ là bỏ qua nhiều thứ cần tìm hiểu trong cuộc sống hàng ngày. Chẳng thế mà cách đây khoảng 20 năm, có một cuốn sách mang tựa đề “The Way Things Work” “Giải thích cách thức diễn tiến, xảy ra của nhiều việc trong đời sống hàng ngày.”. Cuốn sách này đã đứng đầu trong danh mục sách bán chạy nhất – best-seller- suốt một năm. Bây giờ chẳng ai thèm để ý đến những việc thường xảy ra hàng ngày. Nhà bị ngập nước vì không biết đóng van nước chính ở dưới garage.

Thông thường chúng ta hay có cái tật dự đoán rằng đã có người lo dùm (assuming control) về một số vấn đề phức tạp. Hãy quan sát cách thức người Mỹ lo lắng cho sức khoẻ của họ lúc gần đây so với thời thế hệ trước. Ngày xưa, các bác sĩ là những bậc thầy, bậc thánh, họ giữ tất cả những bí mật về bệnh trạng, và cách trị liệu cho con bệnh, họ bảo sao là con bệnh cứ thế mà làm, không hề thắc mắc, hay hỏi ngược lại. Giống như chúng ta nhờ mấy ông giám đốc tài chánh coi chừng giúp các qũi đầu tư của mình. Bây giờ người Mỹ quan niệm khác xưa nhiều lắm, họ coi bác sĩ như người ngang hàng (partner) để hỏi ý, để nói chuyện, tìm hiểu tất cả các loại thuốc, các phương pháp trị liệu khả dụng, để rồi bàn thảo tay đôi với bác sĩ. Chính bệnh nhân đi tìm hiểu lấy bệnh của mình, họ tự giáo dục bản thân họ bằng những kiến thức do họ đi tìm tòi, học hỏi, trước khi chọn lựa nên để bác sĩ giải phẫu, hay trị liệu theo phương pháp nào.

Tôi nhớ cách đây cũng có đến 30 năm rồi, tôi được giao trách nhiệm viết một câu chuyện liên quan đến quầy bán rượu phục vụ nhân viên làm việc ở Thị Trường Chứng Khoán Wall Street. Tôi mù tịt chẳng biết tí gì về chứng khoán, hay những việc làm xảy ra ở Wall Street. Bực quá, tôi đi tìm một ký giả chuyên viết trong trang Thương Mại Kinh Doanh, nhờ ông ta chỉ dạy cho tôi một ít kiến thức về thị trường chứng khoán. Ông buột miệng cười lớn, một hồi sau, ông nghiến răng và nói rít lên: “Nói thật với cô quá nửa số người làm việc trong phòng tin tức này chẳng biết mô tê gì về thị trường chứng khoán cả. Ấy thế mà chẳng có ông bà nào dám đứng ra thú nhận điều này.”. Đôi khi thừa nhận mình dốt, không hiểu biết điều gì thế mà lại hay. Bởi vì cái mà mình không biết nó gây thiệt hại cho ta về sau. Chúng ta chửi rủa công ty AIG ư? Được lắm, cứ chửi nữa đi . Nhưng giá mà ngay từ đầu, chúng ta biết trước cơ sự sẽ xảy ra như thế này thì hay hơn, vì chúng ta đã tránh được thảm hoạ của ngày hôm nay.

Bài nhận định của Anna Quindlen trong Newsweek ngày 30/3/09

Nguyễn Minh Tâm dịch.


TƯ TƯỞNG ÁI QUỐC CỦA PHAN CHÂU TRINH VÀ HIỆN TÌNH VIỆT NAM

Đỗ Thái Nhiên

Thông thường, con người diễn đạt cảm nghĩ bằng ngôn ngữ, bằng mắt nhìn, bằng cử chỉ, điệu bộ. Đặc biệt, thông qua nhạc phẩm “Chiều Qua Trường Cũ”, nhạc sĩ Trần Nhật Ngân đã dùng cảnh để tả tình. Cảnh ở đây là cảnh :

“ Chiều về qua trường cũ, thấy pho tượng buồn đứng lặng giữa sân…, thấy cây phượng già vẫn cô đơn…cửa lớp buồn khép kín im hơi…Một mình tôi lặng đứng bên pho tượng buồn, mái trường hắt hiu…”

( Nhạc phẩm “Chiều Qua Trường Cũ” – Nhạc và Lời của Trần Nhật Ngân)

Cảnh tượng tịch liêu kia diễn tả tâm tình rằng: công lao phục vụ dân tộc của nhà cách mạng Phan Châu Trinh đang bị che mờ bởi bụi thời gian. Đây là một tình huống rất đáng buồn. Đáng buồn hơn nữa, Việt Nam hiện lâm nguy, hiện bị áp lực mất nước vào tay Trung Quốc, thế nhưng tư tưởng ái quốc của chí sĩ Phan Tây Hồ lại biến thành pho tượng cô đơn đứng lặng giữa sân trường.

Đề cập tới công cuộc xây dựng và phát triển xã hội, hầu hết giới hoạt động văn hóa tư tưởng chỉ quan tâm tới hai chuẩn mực: dân trí và dân sinh. Nói một cách chung nhất, dân trí giúp người dân đủ trình độ hiểu biết để xây dựng và phát triển một quốc gia ổn định và văn minh. Hệ quả tất nhiên của quốc gia văn minh là hoạt động dân sinh phải được nâng cao. Tuy nhiên khi quốc gia lâm nguy hai chuẩn mực dân trí và dân sinh không đủ khả năng cung cấp cho dân tộc một nội lực thích nghi nhằm giúp quốc gia vượt thoát khó khăn. Vì vậy, bên cạnh dân trí và dân sinh, tác giả Phan Châu Trinh đã nêu bật chuẩn mực thứ ba: đó là chuẩn mực CHẤN DÂN KHÍ. Dân khí là khí phách làm dân. Chấn dân khí là nâng cao khí phách làm dân. Dân khí hàng đầu là nhiệt tình yêu nước, là quyết tâm cứu nước khi đất nước lâm nguy. Câu hỏi được đặt ra là: Tại sao Lễ Giỗ Cụ Phan năm 2010, hội AH/PCT/ĐN lại gắn kết tư tưởng chấn dân khí của chí sĩ Phan Tây Hồ với hiện tình Việt Nam ? Phải chăng Việt Nam đang thực sự lâm nguy? Sau đây là những trọng điểm của hiện tình Việt Nam :

Từ nhiều năm qua, trong bang giao với Trung Quốc, CSVN thường bị dư luận lên án rằng CSVN hèn nhát, rằng CSVN nhượng đất, nhượng biển, hiến rừng cho Trung Quốc, rằng CSVN mở cửa biên giới cho công nhân TQ tự do vào VN khai thác bauxite…Tuy nhiên có dư luận lại nghiêm chỉnh ghi nhận CSVN vẫn âm thầm mua vũ khí của Nga, vẫn lặng lẽ tạo thế liên kết với Nga, Ấn, Nhật, Mỹ…nhằm đương đầu với Trung Quốc.

Tất cả dư luận vừa kể đều xây dưng trên luận cứ Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia biệt lập. Ngày nay luận cứ kia cần được xét lại.

Thực vậy, do đòi hỏi của kỷ thuật tuyên truyền, từ rất lâu CSVN tôn trọng nguyên tắc: “Không làm mất lòng dân trong những trường hợp không cần thiết”. Thế nhưng, thời gian gần đây nguyên tắc kia đã bị CSVN vi phạm trầm trọng: vụ đập phá thập tự giá ở Đồng Chiêm, Mỹ Đức, Hà Nội ngày 21/01/2010; vụ Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Nguyễn Tiến Trung ngày 21/01/2010 tòa án CSVN bị phạt tổng cộng 33 năm tù ở chỉ vì đã phát biểu tư tưởng tự do dân chủ trong ôn hòa; vụ 9 nhà yêu nước gồm nhà thơ Trần Đức Thạch, nhà giáo Vũ Hùng, kỹ sư Phạm Văn Trội, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, sinh viên Ngô Quỳnh, ông Nguyễn Văn Túc, ông Nguyễn Mạnh Sơn, ông Nguyễn Văn Tính, ông Nguyễn Kim Nhàn bị kết án tổng cộng 59 năm tù giam chỉ vì ôn hòa tuyên xưng Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam; vụ 29/01/2010 Cô Phạm Thanh Nghiên bị phạt 4 nâm tù, 3 năm quản thúc chỉ vì đã “biểu tình ngồi” tại nhà với tấm biểu ngữ “Hoàng Sa va Trường Sa là của Việt Nam”, trong khi đó Hà Nội cho phép người Trung Quốc biểu tình ngay trên lãnh thổ Việt Nam, hô to khẩu hiệu “Hoàng Sa và Trương Sa là máu của Trung Quốc”…Các vụ viêc vừa kể chỉ là 3 trong vô số trường hợp nêu bật dấu hỏi: Phải chăng, Hà Nội đã tự bôi nhọ chế độ chính trị của chính họ? Câu trả lời như sau:Trung Quốc đã cướp quyền cai trị Việt Nam từ tay CSVN. Thực vậy, Trung Quốc và CSVN hiện đang trình diễn vỡ tuồng “Hồn Trương Ba, Da Hàng Thịt”, tức là: Hồn của ông Trương Ba nhập vào xác của ông hàng thịt. Chế độ Hà Nội ngày nay đang tồn tại theo kiểu: Hồn là hồn Trung Quốc, da là da CSVN. CSVN đã chết, họ chỉ còn là bộ da khô. Mọi việc cai trị xã hội Việt Nam, từ việc nhỏ đến việc lớn, từ hành pháp, lập pháp đến tư pháp, tất cả đều do hồn Trung Quốc qui định, CSVN chỉ là bộ da khô biết cử động. Đó là ý nghĩa đích thực của nhóm chữ “hồn Trung Quốc, da CSVN”. Nói cách khác: Những Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng và vô số cán bộ CSVN từ cấp huyện trở lên đều là người của TQ, đều là những hình nhân “hồn TQ, da CSVN”. Mua vũ khí của Nga để chuẩn bị chống TQ chỉ là màn hài kịch: Tàu Hà Nội mua vũ khí của Nga để cất vào kho quốc phòng của Tàu Bắc Kinh. Hà Nội liên kết ngoại giao để lâp đối trọng với TQ chỉ là màn vảo thuật ngoại giao của TQ: Bắc Kinh lập đối trọng để chống Bắc Kinh.

Trung Quốc ẩn nấp đàng sau bộ da CSVN với ba mục đích:

Một là dùng bộ da CSVN để thực hiện những hành động có tác dụng bôi nhọ đảng CSVN, làm cho CSVN bị dân chúng căm thù, quốc tế khinh miệt. Từ đó CSVN không thể không bám vào chân TQ để được tồn tại.

Hai là TQ trực tiếp cai trị Việt Nam bằng cách ẩn núp đàng sau bộ da khô CSVN. Phương pháp “cai trị dấu mặt” này giúp cho tội ác xâm lăng VN của TQ không bị quốc tế rầm rộ lên án.

Ba là: theo quốc tế công pháp, Bộ da CSVN vẫn còn tư cách pháp nhân của một nhà cầm quyền. TQ đã và đang khai thác tư cách pháp nhân kia để ra lệnh cho CSVN hãy cùng TQ ký một số hiệp ước công khai hoặc bí mật cần thiết cho viêc pháp lý hóa cuộc xâm lăng của TQ nhằm vào VN. Xin nhớ cho rằng: Khi hai hay nhiều quốc gia cùng ký kết với nhau một hiệp ước thì hiệp ước kia trở thành luật pháp quốc tế giữa các quốc gia đồng ước. Đây là căn bản lý luận của luật bang giao quốc tế.

Ngày xưa TQ xâm lăng Tây Tạng bằng quân sự. Ngày nay TQ xâm lăng VN bằng phương pháp “Hồn TQ, Da CSVN”với sự hổ trợ của công pháp quốc tế hiểu theo nghĩa lẽ phải ở trong tay kẻ mạnh. Nói như vậy để thấy rằng VN ngày nay rất ít hy vọng thoát khỏi hiểm họa bị TQ biến thành Tây Tạng Thứ Hai. Như vậy, đất nước Việt Nam đang thực sự lâm nguy.

Nhóm chữ “đất nước lâm nguy” bao giờ cũng kéo theo những ưu tư cứu nước. Mọi kế hoạch cứu nước trên địa bàn quốc phòng, ngoại giao chỉ là “Dã tràng xe cát biển Đông”, nếu người dân không yêu nước, nếu “Dân khí” chưa được “chấn hưng”.Những trình bày như vừa kể, tuy vắn tắt nhưng đủ để nêu bật mối liên hệ chặt chẻ giữa tư tưởng ái quốc của Phan Châu Trinh và hiện tình lâm nguy của Việt Nam. Vấn đề không chỉ là vị trí quan trọng của lòng yêu nước. Vấn đề chính là làm thế nào để biến tư tưởng “Chấn Dân Khí” của Phan Châu Trinh thành hành động cứu nước trong đời sống cụ thể. Đây là đề tài rộng lớn về giáo dục: giáo dục học đường và giáo dục quần chúng thông qua hệ thống truyền thông các loại. Đề tài này sẽ được thảo luận chi tiết vào cơ hội khác.

Hôm nay nhân ngày giỗ nhà yêu nước Phan Châu Trinh: 21/03/2010, chúng ta hãy tỏ lòng tri ân Cụ Phan bằng cách kính cẩn dâng lên anh linh Chí Sĩ Tây Hồ một nguyện ước long trọng. Nguyện ước rằng: Toàn thể người Việt Nam trong và ngoài nước cần được học hiểu tư tưởng “Chấn Dân Khí” của Phan Tiên Sinh: yêu thương đồng bào mình và yêu thương non nước do Tổ Tiên trao truyền. Thế kỷ 20, Chí Sĩ Phan Châu Trinh đã cống hiến trọn đời mình cho lý tưởng chống ngoại xâm Pháp. Thế kỷ 21, các thế hệ hậu Phan Châu Trinh, quyết tâm chống ngoại xâm Tàu, quyết tâm bảo vệ độc lập, tự do và hạnh phúc của Việt Nam./.

Đỗ Thái Nhiên

THÓI NGỤY BIỆN Ở NGƯỜI VIỆT

LTS: Chúng tôi gởi đến quý độc giả bài viết về NGUỴ BIỆN dưới đây,thói nguỵ biện đã được thường xuyên xử dụng trong sinh hoạt cộng đồng .Chúng tôi phổ biến bài viết này không nhằm vào những kẻ hay nguỵ biện về sự việc hay hành động của họ,vì những người này là những kẻ lúc đầu là nguỵ tín dần dần nguỵ tín đã trở thành một niềm tin ,chính vì thế rất khó đánh đổ họ ,cách duy nhất để họ từ bỏ là một sự việc gì đó xảy ra “làm mất niềm tin  của họ”. Chúng tôi đưa ra để độc giả nhận diện thế nào là nguỵ biện,nhận chân đúng sự việc hầu tránh những lọc lừa của bọn người nguỵ biện.Nhất là bọn chính trị thời cơ,xôi thịt,dzởm…

BM

BTD

Tranh luận trên các diễn đàn công cộng là một hình thức trao đổi ý kiến không thể thiếu được trong một xã hội văn minh. Ở nhiều nước, lưu lượng của những tranh luận cởi mở và nghiêm túc được xem là một dấu hiệu của một xã hội lành mạnh. Ở các nước phương Tây, hầu như ngày nào báo chí cũng có những bài của những cây bỉnh bút tranh luận về một vấn đề nóng nào đó. Trên tivi cũng có những cuộc tranh luận trực tiếp giữa hai hay nhiều người về những chủ đề từ “đại sự” đến những vấn đề tưởng như nhỏ nhất.

Trong các hội nghị khoa học, trước một vấn đề còn trong vòng nghi vấn, người ta cũng có những chuyên gia tranh luận dưới dạng những bài giảng khoa học.

Nhưng thế nào là tranh luận nghiêm túc? Nói một cách ngắn gọn, cũng như trong một cuộc đấu võ, một tranh luận nghiêm túc là một cuộc tranh luận có qui tắc, mà trong đó người tham gia không được, hay cần phải tránh, phạm luật chơi. Những qui tắc chung và căn bản là người tham gia chỉ phát biểu bằng cách vận dụng những lí lẽ logic, với thái độ thành thật và cởi mở, chứ không phát biểu theo cảm tính, lười biếng, hay biểu hiện một sự thiển cận, đầu óc hẹp hòi.

Để đạt những yêu cầu này, người tranh luận nghiêm túc trước khi phát biểu hay đề xuất ý kiến, đưa ra lời bình phẩm của mình, cần phải xem xét tất cả các trường hợp khả dĩ, phải cân nhắc những quan điểm và những cách giải thích khác nhau, phải đánh giá ảnh hưởng của sự chủ quan và cảm tính, phải tập trung vào việc tìm sự thật hơn là muốn mình đúng, phải sẵn sàng chấp nhận những quan điểm không được nhiều người ưa chuộng, và phải ý thức được định kiến và chủ quan của chính mình. Khi tranh luận phải nhất quán là chỉ xoay quanh chủ đề bàn luận, luận điểm bàn luận chứ không đi lạc đề. Không công kích vào cá nhân và nhân thân của người tham gia tranh luận.

Đó là những đòi hỏi khó khăn cho một cuộc tranh luận nghiêm túc có ý nghĩa, và không phải ai cũng có khả năng đạt được những yêu cầu này, nhất là đối với người vốn chưa quen với văn hóa tranh luận. Do đó, không mấy ai ngạc nhiên khi thấy có quá nhiều trường hợp phẩm chất của những cuộc tranh luận rất thấp. Chỉ cần xem qua những cái-gọi-là “tranh luận” trên các diễn đàn báo chí (và nhất là các “chat room” hay blog), người ta có thể thấy đó không phải là tranh luận, mà là những cuộc đụng độ giũa các cá nhân tham gia tranh luận, những cuộc chửi bới, chẳng có lí luận của người tranh luận. Ngoài ra, đối với một số người tham gia bình luận về một câu chuyện nào đó là một cuộc dàn xếp, một sự đóng kịch, nhằm tung hỏa mù hoặc lên lớp, hoặc a dua theo đám đông. Đó là những kịch bản ngớ ngẩn đến tội nghiệp. Ngớ ngẩn là vì người xuất hiện chẳng nói được gì cho đầy đủ, mà cũng chẳng phân tích một vấn đề gì cho đến nơi đến chốn.

Thật vậy, rất nhiều trường hợp, những cuộc tranh luận chỉ là những cuộc chửi lộn, mà trong đó người ta tha hồ vung vít, ném liệng vốn liếng chữ nghĩa qua lại một cách hỗn độn, mà chẳng cần để ý đến luận lý hay các nguyên tắc của tranh luận là gì. Hơn nữa, rất dễ dàng nhận thấy rằng trong các cuộc tranh luận đó người ta nhắm vào mục tiêu là nhân thân, cá nhân của người tranh luận chứ không nhắm vào quan điểm và lí lẽ của người đó. Thay vì tranh luận thẳng vào vấn đề, người ta tìm cách gắn cho đối phương một nhãn hiệu, và từ đó làm lu mờ đi quan điểm của họ. Trong hầu như những tranh luận, nhiều người cố tìm hay tạo cho mình một vị trí đạo cao đức trọng cả bằng cách gắn cho đối phương những danh từ và tính từ mang tính miệt thị, một thủ đoạn có khả năng làm cho một cuộc tranh luận trở nên một cuộc ẩu đã ngôn từ đinh tai nhức óc thay vì là một trao đổi khoa học.

Thực ra, đó là một hình thức ngụy biện, một lỗi lầm căn bản nhưng nghiêm trọng trong tranh luận. Nói một cách đơn giản, ngụy biện là những nhầm lẫn trong lí luận và suy luận. Ngụy biện khác với lý luận. Lý luận , nói một cách ngắn gọn trong trường hợp này, là những qui ước nhất quán trong việc sử dụng ngôn ngữ. Giới triết học Tây phương đã bỏ khá nhiều công sức để phân biệt thế nào là lý luận và thế nào là ngụy biện. Aristotle có lẽ là một nhà luận lý học đầu tiên có công phát triển các qui tắc và hệ thống suy luận. Trong quá trình làm việc, ông phát giác ra nhiều lỗi lầm mà sau này người ta quen gọi là những “ngụy biện.” Mặc dù Aristotle là một nhà nhà luận lý học đầu tiên có công liệt kê và phân loại những loại ngụy biện, thầy của ông (Plato) mới xứng đáng được xem như là một nhà triết học đầu tiên đã có công sưu tầm những ví dụ về ngụy biện. Kể từ khi Plato và Aristotle, đã có khá nhiều nhà triết học và luận lý học như John Locke, John Stuart Mill, Jeremy Bentham, và Arthur Schopenhauer cũng có nhiều cống hiến quan trọng trong việc nghiên cứu về ngụy biện.

Điều đáng chú ý là những lỗi lầm về ngụy biện hay thấy trong giới có học. Chỉ cần điểm qua báo chí, websites, blog, v.v… chúng ta dễ dàng thấy rất nhiều cái-gọi-là “tranh luận” thật ra chỉ là ngụy biện. Tuy nhiên, nhiều người vẫn chưa biết đó là những ngụy biện, mà thậm chí còn hết lời khen ngợi kẻ ngụy biện là … uyên bác! Điều này cho thấy trong những người Việt học cũng có người rất lười biếng suy nghĩ và chẳng phân biệt được thật và giả, không có khả năng nhận dạng được ngụy biện. Phải ghi nhận một điều là internet đã rất tuyệt vời, vì qua những “tranh luận” và chửi bới của những kẻ tham gia trên internet, chúng ta biết được bộ mặt xấu xí đằng sau những người mang nhãn mác “trí thức” hay “có học”. Những kẻ này tương đối nguy hiểm, vì với cái nhãn mác “có học” đó, họ có cơ hội làm lũng đoạn xã hội và trở thành những con vi khuẩn làm nhiễm trùng nền học thuật nước nhà. Do đó, cần phải giúp họ nhận ra đâu là ngụy biện và đâu là lý luận.

Thực ra, nhận dạng ngụy biện không phải là một việc làm khó khăn. Nói chung chỉ với một người bình dân, người ta có thể phân biệt một phát biểu mang tính ngụy biện với một phát biểu có luận lý. Tuy nhiên, cũng có nhiều dạng thức ngụy biện mà vẻ bề ngoài hay mới nghe qua thì rất hợp lý, nhưng thực chất là phi luận lý. Những loại ngụy biện núp dưới hình thức “khoa học” này không dễ nhận dạng nếu người đối thoại thiếu kiến thức về luận lý học hay thờ ơ với lý lẽ. Do đó, một điều quan trọng trong tranh luận là cần phải phát giác và nhận dạng những hình thức ngụy biện, và quan trọng hơn, cần phải hiểu tại sao chúng sai. Có thể phân loại ngụy biện thành nhiều nhóm khác nhau liên quan đến việc đánh lạc vấn đề, lợi dụng cảm tính, thay đổi chủ đề, nhầm lẫn trong thuật qui nạp, lý luận nhập nhằng, phi luận lý, và sai phạm trù. Trong khuôn khổ giới hạn, người viết bài này không có tham vọng trình bày tất cả những loại ngụy biện một cách chi tiết (vì việc này đã được hệ thống hóa trong nhiều sách về luận lý học ), mà chỉ muốn liệt kê ra những loại ngụy biện thường hay gặp trong báo chí và truyền thông, hầu có thể phân biệt giữa chân và giả.

Liệt kê sau đây là một loạt những ngụy biện phổ biến hay thấy ở người Việt. Những ngụy biện này có thể phân thành 7 nhóm như sau:

• Đánh tráo chủ đề

• Lợi dụng cảm tính và đám đông

• Làm lạc hướng vấn đề

• Qui nạp sai

• Nhập nhằng đánh lận con đen

• Phi logic

• Các nhầm lẫn khác

Nhóm 1. Đánh tráo chủ đề

1. Công kích cá nhân (ad hominem). Đây là một loại ngụy biện phổ biến nhất, thấp kém nhất, nguy hiểm nhất, nhưng có “công hiệu” nhất, vì nó tấn công vào cá nhân của người tranh luận, và tìm cách trốn tránh luận điểm của cá nhân đó. Hình thức ngụy biện này thường xuất hiện dưới dạng: Ông A phát biểu về một vấn đề; ông B tấn công vào cá nhân ông A, và làm cho người ta nghi ngờ luận điểm của ông A. Tuy nhiên, có thể không có mối liên hệ nào giữa cá nhân và luận điểm của ông A.

Có hai hình thức thuộc loại ngụy biện này. Thứ nhất là dưới hình thức sỉ nhục, hay chửi rủa. Khi bất đồng ý kiến, người ngụy biện chỉ việc công kích vào cá nhân của người phát biểu. Chẳng hạn như “Ông nói là những người vô thần có đạo đức, vậy mà chính ông là người từng li dị với vợ con,” hay “Ông là người làm kinh tế, không biết gì về khoa học, mà nói chuyện khoa học”. Đây là một ngụy biện, bởi vì sự thật của phát biểu không tùy thuộc vào cá nhân của người phát biểu, mà là lý luận của lời phát biểu. Cũng nằm trong loại ngụy biện này là thói dùng một đặc điểm của một vật thể nào đó để ứng dụng cho một cá nhân hay một vật thể khác. Ví dụ: “Anh học của Tây có vài chữ mà đã quay lại chửi bới đồng nghiệp à? Anh là con ông cháu cha, anh không hiểu gì về sự nghèo khổ của chúng tôi.”

2. Lợi dụng quyền lực (ad verecundiam). Đây là loại ngụy biện dùng những nhân vật nổi tiếng hay được nhiều người ái mộ để tìm sự ủng hộ cho luận điểm của mình. Chẳng hạn như “Isaac Newton là một thiên tài, và ông tin vào Thượng đế,” làm như ông Newton là người có thẩm quyền để chúng ta tin vào Thượng đế. Thẩm quyền không thuyết phục được ai; chỉ có sự thật, bằng chứng và lý luận mới quan trọng và có khả năng thuyết phục.

3. Lợi dụng nặc danh. Trong trường hợp này, người ngụy biện không nêu danh tính người có thẩm quyền, và vì không ai biết tên người có thẩm quyền nên không ai có thể kiểm chứng sự chính xác của lời phát biểu. Một loại ngụy biện khác có quan hệ với loại này là dùng lời đồn đại để làm cơ sở lập luận. Giới công an hay sử dụng ngụy biện này, ví dụ như “Một viên chức tình báo cho biết chính anh từng hoạt động cho địch.”

4. Lợi dụng tác phong. Loại ngụy biện này dùng tác phong hay cách làm việc hay một đặc tính nào đó của đối tượng để cố thuyết phục về tính hợp lí của phát biểu. Tiêu biểu cho loại ngụy biện này là những phát biểu như “Nixon thất cử vì ông ta thường hay ra mồ hôi trên trán,” hay “Tại sao anh không nghe theo lời khuyên của anh chàng ăn mặc bảnh bao đó?” Thực ra, “bảnh bao” và “mồ hôi trên trán” chẳng có dính dáng gì đến vấn đề đang bàn thảo.

5. Luận điệu trích dẫn vu vơ. Loại ngụy biện này thường hay được ứng dụng khi một người nào đó đưa vào những phát biểu không dính dáng gì đến vấn đề đang tranh luận, nhằm mục đích đánh lạc hướng vấn đề. Ví dụ: “Anh có thể nói rằng tử hình là một hình thức không có hiệu quả trong việc chống lại tội phạm, nhưng còn nạn nhân của tội phạm thì sao? Gia đình của nạn nhân sẽ nghĩ gì khi họ thấy tên sát nhân người thân của họ bị giam giữ trong nhà tù bằng đồng tiền của chính họ. Họ có nên nuôi dưỡng những tên sát nhân như thế không?”

6. Luận điệu ngược ngạo. Bằng chứng luôn luôn là gánh nặng của người phát biểu. Do đó, tìm cách chuyển gánh nặng đó cho một người khác là một thủ đoạn của những người ngụy biện. Chẳng hạn như trong câu này “Anh nói rằng ăn nhiều mỡ không liên quan đến cholesterol, nhưng anh có thể chứng minh điều đó không?” Đáng lẽ người phát biểu phải chứng minh, nhưng công việc đó lại được chuyển cho người đối thoại!

Nhóm 2. Lợi dụng cảm tính và đám đông

7. Dựa vào bạo lực (ad baculum). Ngụy biện dựa vào bạo lực thực chất là một sự đe dọa, nhằm mục đích gây áp lực cho người đối thoại phải chấp nhận một kết luận nào đó. Loại ngụy biện này thưởng được giới chính khách dùng, và có thể tóm gọn bằng một câu “chân lí thuộc về kẻ mạnh”. Sự đe dọa không hẳn chỉ xuất phát từ người phát biểu, mà có thể từ một người khác. Ví dụ như “Những ai không tin vào chính sách của Nhà nước sẽ phải trả giá đắt”, hay “Được rồi, tôi đã biết số điện thoại của anh và biết anh đang ở đâu. À, tôi có nói cho anh biết là tôi mới mua một cây súng ngắn chưa nhỉ?”

8. Lợi dụng lòng thương hại (ad misericordiam). Đây là một loại ngụy biện dựa vào lòng trắc ẩn của người đối thoại để người đối thoại chấp nhận lí lẽ của mình. Ví dụ như “Anh ấy không có giết người bằng búa. Làm ơn đừng tuyên án anh ấy có tội, anh ấy đang trải qua một giai đoạn khủng hoảng tinh thần,” hay “Tôi hi vọng anh sẽ chấp nhận đề nghị này, chúng ta đã tiêu ra ba tháng nay để bàn rồi đấy.”

9. Lợi dụng hậu quả (ad consequentiam). Ngụy biện loại này thường được biểu hiện qua cách phát biểu “A hàm ý B, B là sự thật, do đó A là sự thật”. Ví dụ: “Nếu vũ trụ được một đấng chí tôn thượng đế tạo nên, chúng ta có thể thấy những hiện tượng được tổ chức một cách thứ tự. Và hiện tượng chung quanh chúng ta quả rất thứ tự, vậy đấng chí tôn thượng đế chính là người tạo nên vũ trụ,” hay “Anh phải tin vào Đảng Cộng hòa, chứ nếu không cuộc đời này sẽ chẳng có ý nghĩa” (hay là nói một cách ngược lại: cuộc sống này chẳng có ý nghĩa gì nếu không có Đảng cộng hòa!)

10. Lạm dụng chữ nghĩa. Đây là một loại ngụy biện dựa vào dùng những chữ mang cảm tính cao để gắn một giá trị đạo đức vào một đề nghị hay một câu phát biểu.

11. Dựa vào số đông (ad numerum). Loại ngụy biện này tin rằng nếu có nhiều người ủng hộ một đề nghị nào đó, thì đề nghị đó phải đúng. Ví dụ như “Đại đa số người dân trong cộng đồng ủng hộ ông Minh, vậy phát biểu của ông Minh ắt phải đúng.”

Nhóm 3. Làm lạc hướng vấn đề

12. Lý lẽ chẻ đôi. Loại ngụy biện này thường phân định một vấn đề thành hai giá trị: trắng và đen, bạn và thù, có và không, v.v.. dù trong thực tế, có hơn hai lựa chọn. Chẳng hạn như “Hoặc là anh hợp tác với tôi hay là anh chống tôi, anh chọn hướng nào, yes hay là no?”

13. Lí lẽ ngờ nghệch (ad ignorantiam). Loại ngụy biện này, như tên gọi ám chỉ, xuất phát từ sự ngớ ngẩn. Một trong những cách nói thông thường nhất trong loại ngụy biện này mà giới ngụy biện hay dùng là nếu một điều gì đó chưa được chứng minh là sai (hay giả) thì điều đó là đúng (hay thật). Ví dụ: “Bởi vì các nhà khoa học chưa chứng minh dioxin có thể gây ra dị thai, do đó dioxin không thể gây ra dị thai,” hay kiểu lí luận của “nền kinh tế phát triển và xã hội ổn định mấy năm nay, không có lý do gì phải cần đến dân chủ”.

14. Lý luận lươn trạch(suy diễn). Loại ngụy biện này cho rằng nếu một sự kiện xảy ra, các sự kiện có hại khác sẽ xảy ra. Chẳng hạn như “Nếu chúng ta hợp pháp hóa cần sa, công chúng sẽ bắt đầu hút cần sa, và chúng ta cũng sẽ phải hợp pháp hóa á phiện. Rồi chúng ta sẽ là một quốc gia với những người ăn bám vào xã hội. Do đó, chúng ta không thể hợp pháp hóa marijuana”. Hay một đoạn ví dụ khác:” Tiếc thay một cuộc cải cách về kinh tế, quân sự , tài chánh, xã hội, nông nghiệp như vậy, đang trên đường thành công rực rỡ: bị tan vỡ, bị huỷ bỏ chỉ vì tham vọng đánh Đại việt của Vương An Thạch. Mà đau đớn biết bao, khi người phá vỡ chỉ là một thiếu phụ Việt ở tuổi ba mươi. Giá như Thạch không chủ trương Nam xâm, chỉ cần mười năm nữa, toàn bộ xã hội Trung quốc thay đổi; rồi với cái đà đó, thì Trung quốc sẽ là nước hùng mạnh vô song, e rằng cứ muôn đời mặt trời vẫn nở phương Đông chứ không ngả về Tây như hồi thế kỉ 18 cho đến nay bao giờ.”

15. Mệnh đề rời rạc. Đây là loại ngụy biện dùng hai (hay nhiều hơn hai) mệnh đề chẳng dính dáng gì với nhau để làm thành một phát biểu hay kết luận. Ví dụ: “Anh ủng hộ tự do dân chủ và quyền mang vũ khí hay không?” hay “Anh đã ngưng làm ăn trái phép chưa?” Câu hỏi sau thực ra hỏi hai vấn đề “Anh từng làm ăn trái phép?” và “Anh đã ngừng hoạt động hay chưa?”

16. Đơn giản hóa. Đây là một loại ngụy biện mà người phát biểu cố tình biến một quan niệm trừu tượng thành một điều cụ thể để bắt lấy thế thượng phong trong đối thoại (nhưng là ngụy biện). Ví dụ: “Tôi để ý thấy anh mô tả ông ta là một người quỉ quyệt. Vậy tôi hỏi anh cái “quỉ quyệt” đó nó nằm ở đâu trong bộ não? Anh không chỉ ra được cho tôi; do đó, tôi có thể nói cái quỉ quyệt không có thực.”

Nhóm 4. Qui nạp sai

17. Khái quát hóa vội vã. Loại ngụy biện này cũng khá phổ biến. Nó dùng một ví dụ hay trường hợp nhỏ và từ đó khái quát hóa cho rộng lớn . Chẳng hạn như “Ông ấy là một tay đạo đức giả. Do đó, các bạn bè của ông ấy cũng giả dối.”

18. Khái quát hóa không đúng chỗ. Đây là loại ngụy biện mà người sử dụng chúng thường áp dụng một qui luật chung cho một trạng thái hay một cá nhân. Chẳng hạn như “Người cộng sản là vô thần. Anh là người theo chủ nghĩa cộng sản, vậy anh chắc chắn là một người vô thần.”

19. Kéo dài tính tương đồng. Trong loại ngụy biện này, người dùng nó đề nghị một điều lệ chung chung, rồi áp dụng nó cho mọi trường hợp và cá nhân. Ví dụ: “Tôi tin rằng chống luật pháp bằng cách phạm luật pháp là một điều sai trái”, hay “Nhưng quan điểm đó ghê tởm lắm, vì nó ám chỉ rằng anh sẽ không ủng hộ tôi,” hay “Anh muốn nói rằng luật về mật mã cũng có tầm quan trọng tương đương với phong trào giải phóng sao? Sao anh dám nói thế?”

20. Lý lẽ quanh co. Loại ngụy biện này thường luẩn quẩn trong vài giả định và kết luận. Chẳng hạn như “Những người đồng tính luyến ái nhất định không thể nắm chính quyền. Do đó, phải tống khứ những viên chức chính phủ đồng tính luyến ái. Vì thế, những người đồng tính luyến ái sẽ làm mọi cách để dấu diếm hành tung của họ, và họ có nguy cơ bị tống tiền. Do vậy, những người đồng tính luyến ái không được giữa chức vụ gì trong chính phủ.” Tức là trong một lí giải như thế, cả hai giả thuyết và kết luận đều giống nhau.

21. Đảo ngược điều kiện. Loại ngụy biện này thường được biểu hiện qua hình thức “Nếu A xảy ra thì B sẽ xảy ra, do đó, nếu B xảy ra thì A sẽ xảy ra.” Ví dụ: “Nếu tiêu chuẩn giáo dục bị hạ thấp, tranh luận sẽ bị tồi đi. Do đó, nếu chúng ta thấy phẩm chất tranh luận suy đồi trong những năm sắp đến, thì điều đó cho thấy tiêu chuẩn giáo dục của ta sẽ kém .”

22. Lợi dụng rủi ro. Ngụy biện này thường dùng một qui luật chung và áp dụng nó cho một trường hợp riêng biệt. Ví dụ: “Luật giao thông không cho anh chạy quá 65m/h. Cho dù cha anh sắp chết anh cũng không được chạy quá tốc độ đó.”

23. Lợi dụng trường hợp riêng biệt. Ngụy biện này thường dùng một trường hợp cá biệt để đem ra ứng dụng cho một đám đông. Ví dụ: “Chúng ta cho phép bệnh nhân sắp chết dùng á phiện, chúng ta nên cho phép mọi người dùng á phiện.”

24. Kết luận lạc đề. Loại ngụy biện này thường xuất hiện khi một kết luận chẳng dính dáng gì đến lý lẽ mà người biện luận trình bày. Một ví dụ tiêu biểu cho trường hợp ngụy biện này là: “Độ nhiễm arsenic trong nước chưa cao và còn trong mức độ cho phép. Dữ kiện của Bangladesh cho thấy tình trạng nhiễm arsenic ở Ấn độ rất trầm trọng.”

25. Ngụy biện rơm. Loại ngụy biện này cố tình xuyên tạc, bóp méo quan điểm hay phát biểu của người khác, để làm luận điểm tấn công. Đây là một ngụy biện, vì nó không đương đầu với cái lí lẽ đang bàn. Chẳng hạn như: “Chúng ta nên ủng hộ chế độ cưỡng bách quân dịch. Người ta không thích tòng quân vì họ không muốn cuộc sống bị đảo lộn. Nhưng họ cần nhận thức rằng có nhiều điều quan trọng hơn tiện nghi trong cuộc sống.”

Nhóm 5. Nguyên nhân giả tạo

26. “Post hoc”. Loại ngụy biện này phát biểu rằng hai sự kiện xảy ra, một trước và một sau, có quan hệ với nhau như nguyên nhân và hậu quả. Ví dụ: “Liên Xô sụp đổ sau khi nhà nước theo chủ nghĩa vô thần. Do đó, chúng ta phải từ bỏ chủ nghĩa vô thần để khỏi bị suy sụp.”

27. Ảnh hưởng liên đới. Một sự kiện được cho là có ảnh hưởng đến một sự kiện khác, nhưng thực chất thì cả hai sự kiện đều có cùng một nguyên nhân. Đây cũng chính là một trường hợp ngụy biện dưới dạng “post hoc”. Ví dụ: “Chúng ta đang chứng kiến một tình trạng thất nghiệp rất cao, vì do thiếu nhu cầu của người tiêu thụ.” (Nhưng có thể cả hai sự kiện có nguyên nhân từ tiền lời quá cao.)

28. Ảnh hưởng không đáng kể. Đây là một loại ngụy biện mang tính phóng đại từ một ảnh hưởng rất nhỏ. Chẳng hạn như “Hút thuốc gây ra ô nhiễm môi trường ở Sydney” là một phát biểu đúng, nhưng ảnh hưởng của thuốc lá đến môi trường rất khiêm tốn khi so với ảnh hưởng của khói xe và các hãng xưởng.

29. Ảnh hưởng ngược chiều. Mối quan hệ giữa nguyên nhân và hậu quả bị đảo ngược chiều để tìm đến một kết luận mang tính ngụy biện. Ví dụ: “Ung thư gây ra do thói quen hút thuốc lá”.

30. Nguyên nhân phức tạp. Một sự kiện xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng người ngụy biện có thể đơn giản hóa thành một liên hệ đơn giản. Chẳng hạn như “Tai nạn xe cộ là do đường xá xấu” có thể đúng, nhưng tai nạn cũng có thể do người lái xe ẩu trong một điều kiện xấu.

31. Nguyên nhân sai (Non causa pro causa). Loại ngụy biện này xảy ra khi một điều nào đó được cho là nguyên nhân của một sự kiện, nhưng nó chưa thực sự được chứng minh là nguyên nhân. Ví dụ: “Tôi uống một viên aspirin và cầu nguyện thượng đế, và tôi không còn bị nhức đầu. Như vậy thượng đế đã chữa trị tôi khỏi nhức đầu.”

Nhóm 6. Phi luận lý (non sequitur) và nhần lẫn trong tam đoạn luận

32. Phi luận lý. Ngụy biện phi logic thường xảy ra trong trường hợp một lí lẽ mà kết luận được rút ra từ những tiêu đề không dính dáng gì với nhau. Chẳng hạn như “Người Ai Cập đã từng làm nhiều khai quật để xây dựng những kim tự tháp, họ chắc chắn phải rất thạo về cổ sinh vật học.”

33. Loại bỏ tiền đề. Ngụy biện loại này thường xảy ra dưới hình thức “nếu A thì B, không phải A thì không phải B.” Ví dụ: “Nếu tôi ở Sydney thì tôi đang ở New South Wales. Tôi hiện không ở Sydney, do đó, tôi không ở New South Wales”.

34. Nhét chữ vào miệng người khác. Đây là một loại ngụy biện bằng cách dùng kỹ thuật phỏng vấn. Một trường hợp cổ điển là “Ông đã ngưng đánh vợ chưa?” Tức là một câu hỏi với một giả định rằng người được hỏi từng hành hung vợ. Đây là một mẹo mà giới luật sư thường hay dùng trong thẩm vấn. “Ông dấu tiền ăn cắp đó ở đâu?” Giới chính khách cũng thích mẹo này, đại khái như “Bao giờ thì nhóm EU này sẽ không còn xâm phạm vào công việc của chúng ta?”

35. Ngụy biện tứ ngữ. (Một tiêu chuẩn của tam đoạn luận gồm có 3 chữ). Ví dụ như trong câu phát biểu “Tất cả chó là thú vật, và tất cả mèo là loài động vật có vú, do đó tất cả chó là loài động vật có vú,” có bốn chữ: chó, mèo, động vật, và động vật có vú.

36. Đứt đoạn. Hai sự vật riêng biệt được xem là có liên hệ nhau nếu chúng có chung đặc tính. Người ngụy biện lợi dụng chữ giữa của một phát biểu để đưa đến một kết luận sai. Chẳng hạn như trong câu “Tất cả người Nga là nhà cách mạng, và tất cả những người theo chủ nghĩa vô chính phủ cũng là nhà cách mạng, do đó, tất cả những người theo chủ nghĩa vô chính phủ là người Nga,” chữ chính giữa là “nhà cách mạng”. Nhưng kết luận này sai, vì dù những người theo chủ nghĩa vô chính phủ và người Nga là những người cách mạng, nhưng họ có thể là hai nhóm cách mạng khác nhau.

Nhóm 7. Các nhầm lẫn khác

37. Dẫn chứng bằng giai thoại. Một trong những ngụy biện phổ biến nhất và đơn giản nhất là dựa vào những câu chuyện có tính vụn vặt, hay giai thoại. Chẳng hạn như “Có hàng khối bằng chứng cho thấy thượng đế hiện hữu và vẫn ban phép mầu hàng ngày. Mới tuần rồi đây, tôi có đọc được một câu chuyện về một cô gái sắp chết vì ung thư, cả gia đình cô đi cầu nguyện trong nhà thờ, và chỉ vài ngày sau cô hết bệnh.” Dùng kinh nghiệm cá nhân để minh họa cho một luận điểm là một điều hoàn toàn hợp lí, nhưng dùng những giai thoại như thế sẽ chẳng chứng minh gì. Một anh bạn có thể cho rằng anh từng gặp Elvis ở một siêu thị nào đó, nhưng những người chưa gặp Elvis bao giờ thì cần nhiều bằng chứng xác thực hơn.

38. Lợi dụng cổ tích. Đây là một loại ngụy biện cho rằng những gì đúng hay tốt chỉ đơn giản vì chúng là cổ xưa, và những người theo cách ngụy biện này thường nói “hồi nào đến giờ ai cũng vậy.” Chẳng hạn như “Hàng trăm năm nay, Úc chịu dưới sự cai trị của Hoàng gia Anh, và là một nước thịnh vượng. Một thể chế tồn tại lâu dài như thế ắt phải là một thể chế tuyệt vời.”

39. Dựa vào cái mới (ad novitatem). Ngược lại với loại ngụy biện dựa vào cái cũ, ngụy biện dựa vào cái mới cho rằng một điều gì đó tốt hơn và đúng hơn đơn giản chỉ vì nó mới hơn cái khác. “Windows 2000 phải tốt hơn Windows 95, Windows 2000 mới được thiết kế lại năm ngoái.”

40. Lý lẽ của đồng tiền. Loại ngụy biện này thường dựa vào một niềm tin duy nhất rằng đồng tiền là một tiêu chuẩn của sự đúng đắn. Những người có nhiều tiến có khả năng đúng hơn những người ít tiền. Chẳng hạn như “Nhu liệu của hãng Microsoft đương nhiên là tốt hơn; nếu không thì làm sao Bill Gates có thể trở nên tỉ phú như thế”.

41. Dựa vào cái nghèo. Ngược lại với ngụy biện dựa vào sự giàu có, có một loại ngụy biện khác dựa vào sự nghèo khổ. Chẳng hạn như “Các vị sư có khả năng hiểu thấu được ý nghĩa của cuộc sống, bởi vì họ từ bỏ mọi xa hoa của cuộc sống.”

42. Điệp khúc (ad nauseam). Loại ngụy biện này cho rằng một lí lẽ càng được lặp đi lặp lại nhiều chừng nào thì nó sẽ được người ta chấp nhận là đúng. Do đó, người ngụy biện thường chỉ lặp đi lặp lại những phát biểu, bất kể đúng sai ra sao, cho đến khi người đối thoại mệt mỏi không còn muốn nghe nữa, như “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, nhà nước quản lí” của cộng sản.

43. Lạm dụng thiên nhiên. Đây là một ngụy biện rất thông thường trong giới chính trị gia, mà trong đó họ tìm cái tương đồng giữa một kết luận nào đó và một khía cạnh của thế giới tự nhiên, rồi từ đó phát biểu rằng kết luận đó là không thể tránh khỏi. Chẳng hạn như “Đặc điểm của thế giới tự nhiên là cạnh tranh; động vật đấu tranh chống nhau để làm chủ tài nguyên thiên nhiên. Chủ nghĩa tư bản, một hình thức cạnh tranh để làm chủ tư liệu, chỉ đơn giản là một phần của con người sống trong thế giới tự nhiên. Đó cũng là cách mà thế giới tự nhiên vận hành.”

Một hình thức khác của lạm dụng thiên nhiên là lí luận cho rằng bởi vì con người là sản phẩm của thế giới tự nhiên, chúng ta phải bắt chước hành động theo những gì chúng ta thấy trong thế giới tự nhiên, và làm khác đi là “phi tự nhiên”. Ví dụ: “Đồng tính luyến ái dĩ nhiên là không tự nhiên.”

44. Ngụy biện “anh cũng vậy”. Đây là một trong những ngụy biện rất phổ biến. Nó dựa vào lí lẽ rằng một hành động có thể chấp nhận được bởi vì người đối nghịch đã làm. Chẳng hạn như “Anh là một người lừa dối.” “Rồi sao? Anh cũng là một tay lừa dối vậy.”

45. Lạm dụng thống kê. Thống kê thường được giới ngụy biện sử dụng tối đa, vì theo họ thống kê có thể dùng để “chứng minh” bất cứ điều gì. Người ta có thể vặn vẹo hai con số 1 và 3 điểm để sản xuất những phát biểu như “khác nhau 2 điểm”, “cao gấp 3 lần”, hay “tăng 200%”; người ta có thể dựa vào ý kiến đồng tình của 4 người trong 5 người để cho là “80% người được thăm dò”, hay thậm chí “đa số cộng đồng” đồng ý với một luận điểm nào đó. Tức là những khái quát hoá một cách vội vã, hay dựa vào một mẫu số cực kỳ thấp, thấp đến độ nó không có nghĩa lí gì. Thực ra, thống kê không chứng minh điều gì cả. Thống kê chỉ là một phương tiện hay thuật toán dùng để loại bỏ những trường hợp khả dĩ hay không khả dĩ.

Vì có quá nhiều ngụy biện thống kê, nên vấn đề này sẽ được bàn tiếp trong một dịp khác.

Nhận xét

Có thể nói những loại ngụy biện trên đây có những đặc điểm chung là

(a) phát biểu không dựa vào lí lẽ logic;

(b) các định đề không vững để đi đến một kết luận; và

(c) đưa ra giả định không đúng. Ngụy biện, do đó, nói cho cùng, là một sản phẩm của sự lười biếng suy nghĩ.

Và hầu như trong chúng ta, ai cũng có ít nhất là một lần lười suy nghĩ. Do đó, nếu điểm qua những loại ngụy biện trên đây, chúng ta tự cảm nhận rằng trong quá khứ mình chắc cũng có lần phạm vào lỗi lầm của ngụy biện. Điều này có thể đúng, và không nên lấy làm ngạc nhiên, vì các nhà thông thái, và ngay cả giới có học về luận lý học cũng đôi khi, vì cố ý hay vô tình, ngụy biện. Giới chính trị gia và truyền thông là những người nổi tiếng về ngụy biện.

Nhưng tại sao những ngụy biện vẫn còn có mặt trên báo chí? bởi vì chúng vẫn có khách hàng. Vẫn có người, dù ít hay nhiều, tin tưởng vào ngụy biện, vì nó thuận nhĩ, trơn tru, và nhất là không trở ngại. Sờ một hòn đá trơn tru đem lại cho chúng ta một cảm giác khoan khoái dễ chịu hơn là sờ một hòn đá lởm chởm, hay ngồi trên một cái ghế ghồ ghề. Người ta thích sự trơn tru, bởi vì trơn tru là dấu hiệu của sự khoan khoái, dễ chịu, là cái khoảng thời gian giải lao, không có sự căng thẳng.

Có lẽ, ở một khía cạnh nào đó, điều này cũng không đến nỗi tệ, bởi vì những ngụy biện phản ánh sự thành công [hay có người nói sự phong phú] của ngôn ngữ trong việc tách rời giữa những gì thô thiển, gồ ghề với những gì hoàn thiện, mĩ miều. Nhưng sự trơn tru của các vật thể và ngôn ngữ ngày nay đem lại cho chúng ta một cảm giác giả tạo về thế giới thực của các vật thể. Những kẹt xe trên đường xá mới để lộ trái tim phức tạp của một thành phố. Tương tự, một sự trở ngại của internet sẽ nhắc nhở chúng ta về tình trạng hỗn mang và phức tạp của hệ thống thông tin điện tử. Sự hỗn mang và phức tạp là thực. Trơn tru, tròn trĩnh có thể là giả tạo. Những câu văn ngụy biện có thể chỉ là những lời phát biểu lém lỉnh thay vì lịch thiệp, hàm chứa mánh khóe thay vì thân thiện. Có thể nói, ngụy biện là những lối sáo ngữ liến thoắng nhằm vào mục đích lôi cuốn người nghe/đọc, thay vì cung cấp cho họ một sự thực.

Bởi vì ngụy biện là những lí lẽ mà bề ngoài có vẻ hợp lý, nên chúng có khả năng thuyết phục những người không chịu khó suy nghĩ, nhất là những người còn mang nặng cảm tính. Điều này giải thích tại sao nhiều người tiếp nhận một cách thụ động quá nhiều những điều quái gở về thế giới chung quanh, kể cả những niềm tin tôn giáo, những mê tín dị đoan, những triết lí quái đảng, những thông tin sai lạc, v.v.. Cái tác hại của việc tiếp nhận thụ động này là nó làm cho người ta trở nên nô lệ với cảm tính, và dễ dàng trở thành những tín đồ cuồng tín của những người “lãnh đạo” chính trị hay tôn giáo.

Để không trở thành những nô lệ, cần phải suy nghĩ kỷ. Suy nghĩ nghiêm túc là một quá trình hoạt động tri thức nhằm ý niệm hóa, ứng dụng, phân tích, tổng hợp, và đánh giá những thông tin được thu thập từ quan sát, kinh nghiệm, phản ánh, lý luận, hay liên lạc, như là một niềm tin cho hành động. Cần phải dựa vào những giá trị tri thức với những đặc điểm như trong sáng, chính xác, nhất quán, có liên hệ, bằng chứng tốt, lý lẽ hợp lý, có chiều sâu, và công bằng. Tức là, trước một câu phát biểu hay một đề nghị, cần phải thẩm định lại kết cấu và nguyên tố của phát biểu hay đề nghị đó. Những kết cấu và nguyên tố này là: mục đích, vấn đề, giả định, quan niệm, bối cảnh, kết luận, ngụ ý, hậu quả, phạm vi tham khảo, và quan điểm khác.

Chúng ta thường rất tự hào về những đối thoại [mà chúng ta cho là “thông minh”] giữa Trạng Quỳnh và Chúa Trịnh ngày xưa. Nhưng nói một cách công bằng và theo tiêu chuẩn của lý luận học, thì những trao đổi của Trạng Quỳnh hay tương tự chỉ là những ngụy biện ở trình độ thô sơ nhất. Nhưng có điều đáng buồn là những đối thoại kiểu Trạng Quỳnh, mà trong đó sự hơn thua nhau từng câu nói, bắt bẽ nhau từng chữ, vặn vẹo ý nghĩa của từng câu văn, v.v… lại đi vào sử sách, như thể để làm gương cho thế hệ sau này. Mà làm gương thật. Cho đến ngày nay, có người vẫn còn cho đó là một biểu tượng của sự thâm thúy, thông minh của dân tộc, là phản ánh sự phong phú của ngôn ngữ Việt, và đem ra ứng dụng trong tranh luận.

Theo dõi báo chí, chúng ta thấy những hình thức tấn công cá nhân (thay vì tấn công vào luận điểm), xuyên tạc ý tưởng, chụp mũ, suy luận theo cảm tính, mỉa mai, đơn giản hóa vấn đề, v.v… xuất hiện hầu như hàng ngày, có khi hàng giờ. Vì những tần số của những loại ngụy biện xuất hiện quá nhiều như thế, nó thành một sự rập khuôn. Theo thời gian, rập khuôn trở thành “truyền thống”. Hậu quả của cái truyền thống này là những ai ra ngoài cái khuôn sáo của ngụy biện đều có thể bị xem là phi chính thống, dẫn đến một lối suy nghĩ và phán xét kì quặc kiểu “anh/chị không thuộc nhóm của tôi, vậy thì anh/chị thuộc nhóm bên kia,”

Trong cái sự thực phức tạp, mờ mờ ảo ảo của vấn đề, có cái đẹp riêng. Không phải cái đẹp trơn tru, tròn trĩnh, nhưng là cái đẹp khắt khe của sự thật. Tương tự, một lời phát biểu nghịch lý có cái đẹp của nó, vì nó có thể đánh thức chúng ta về một thế giới phức tạp, một thế giới không nằm gọn trong đúng/sai, tốt/xấu, bạn/thù. Có lẽ đã đến lúc chúng ta nên vượt qua chính mình bằng cách cho các tế bào trí tuệ có cơ hội làm việc.

BTĐ

***************************************************

Cách nhìn tạo ra cái nhìn.

Cái nhìn tạo ra sự lựa chọn.

Sự lựa chọn tạo ra số phận.

Và số phận thay đổi khi cách nhìn thay đổi.

NHÀ CÁCH MẠNG PHAN CHU TRINH

 

Phan Chu Trinh (1872 – 1926)

Phan Chu Trinh sinh năm Nhâm Tuất (1872) niên hiệu Tự Ðức 26, tự là Tử Can, hiệu là Tây Hồ, biệt hiệu là Hy Mã, quê ở xã Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam .Thân phụ ông là Phan Văn Bình, theo nghề võ và đã tích cực chiến đấu trong hàng ngũ Cần Vương . Thân mẫu là Lê Thị Chung, con một nhà thế gia vọng tộc tại làng Phủ Lâm rất tinh thông Hán học và có nhiều đức hạnh .Thuở thiếu thời Phan Chu Trinh được hiền mẫu ân cần chăm sóc, trong khi phụ thân mãi lo công việc võ biền . Chẳng may mẹ mất sớm, vì cha phải bận với võ nghiệp, ít săn sóc đến việc học hành hành nên mãi đến năm lên 10, Phan Chu Trinh mới được vào trường học tập.Vì mối tình yêu nước sớm nẩy nở trong trí của Phan Chu Trinh nên trong lúc các bạn đồng học chăm chỉ ngốn những lời giảng dạy của thầy để nhồi vào óc đạo lý và chữ nghĩa của Thánh hiền, ông tỏ ra rất xao lãng, thờ ơ . Do đó, trong suốt ba năm liền học tập, Phan Chu Trinh chỉ học lấy lệ Năm 1885, kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi phải chạy trốn ra Quảng Trị . Các đạo Cần Vương kháng Pháp nổi lên khắp các nơi . Ðể cho Phan Chu Trinh có một nghề hợp khả năng và cũng đồng thời được đắc dụng trong buổi non sông nghiêng ngửa, thân phụ ông cho ông theo học nghề võ . Lúc bấy giờ thân phụ ông được cử làm Chuyển vận sứ đồn A Bá thuộc hạt Tam Kỳ .

Năm 1887, vì nghi kỵ, thân phụ Phan Chu Trinh bị hại, việc học tập võ nghệ của ông bị gián đoạn. Nhờ người anh cả rước thầy về cho ông tiếp tục học nghề văn . Vì nhận thấy muốn có uy tín để thực hiện chí lớn tron việc cách mạng để giành lại chủ quyền của đất nước, nên ông đổi sang học nghề nghiên bút, chớ thực ra ông không bao giờ thích cái lối học hư văn .Theo học bốn năm ở nhà . Phan Chu Trinh tỏ ra thông minh tuyệt vời, ông thường có những lý luận sâu sắc , những nhận xét tinh vi .

Năm 1889, theo thụ nghiệp với vị Ðốc học Trần Mã Sơn, Phan Chu Trinh được bổ vào ngạch học sinh .

Năm 1900, trong kỳ thi Hương, Phan Chu Trinh thi đỗ Cử Nhân, và qua năm sau 1901, ông đỗ Phó Bảng (nhằm niên hiệu Thành Thái thứ 13).

Ông được bổ làm Thừa Biện ở Huế, ít lâu sau, người anh cả của ông mất, ông xin về quê dạy học . Năm 1903, ông được bổ làm Thừa Biện ở Bộ Lễ . Trong thời gian từ 1902 đế 1905, Phan Chu Trinh có dịp học những tác phẩm có tư tưởng cách mạng của Jean-Jacques Rousseau, Montesquieu, Voltaire … Càng tiếp xúc nhiều với các quan trường, Phan Chu Trinh càng thấy rõ cảnh thối nát , hủ bại trên đường cử nghiệp .

Lúc bấy giờ lực lượng Cần Vương lần lần tan rã, thực dân Pháp bắt đầu đặt nền thống trị trên đất nước Việt Nam .Trước cảnh non sông nghiêng ngửa, nhận thấy sự bất lực và thối nát của triều đình Huế, Phan Chu Trinh xin từ quan và bắt đầu hoạt động chính trị với các ông Phan Bội Châu, Lương Ngọc Can, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp . Sau khi từ quan về hoạt động chính trị, Phan Chu Trinh đã cùng với hai bạn đồng khoa là Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng rủ nhau vào Nam vận động đồng bào các giới . Vào đến Bình Ðịnh gặp lúc quan tỉnh mở một kỳ thi cho học trò, đầu bài là Chí thành thông thánh và Lưỡng Ngọc danh sơn ba ông mạo tên là Ðào Mộng Giác nộp quyển làm bài Phan Chu Trinh làm bài thơ và hai ông Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng làm bài phú . Những bài này không theo quy tắc thông thường mà cốt để thức tỉnh nhóm sĩ phu . Quan tỉnh không dám quả quyết phải dịch sang chữ Pháp để trình viên Khâm sứ đồng thời truy tầm tác giả của hai bài văn cách mạng kia, nhưng không có kết quả Việc này đã có ảnh hưởng lớn đến đám sĩ phu thời bấy giờ . Tới Phan Thiết, Phan Chu Trinh bị bệnh phải quay trở về Huế . Sau mấy tháng dưỡng bệnh, ông ra Bắc tìm cách lên Yên Thế để gặp Hoàng Hoa Thám, nhưng chính sách bạo động của Hoàng Hoa Thám không thích hợp với chủ trương của ông, nên ông lại xuống Trung Châu Bắc Việt vận động với nhóm nho sĩ Bắc Hà . Ðâu đâu ông cũng đề xướng chủ trương tân học, cực lực đả kích các quan trường tham lam và những nhà hủ nho . Trong thời gian này ông kết nạp được một số đồng chí đáng kể . Phan Chu Trinh tán thành phong traò xuất dương du học do Phan Bội Châu khởi xướng . Lời kêu gọi của Phan Bội Châu, với sự hưởng ứng của Phan Chu Trinh gây được một phong trào xuất dương rất rầm rộ . Ðể được quan sát tại chỗ sự tiến triển của các nước, Phan Chu Trinh liền trốn sang Trung Hoa . Ông gặp Phan Bội Châu tại Hương Cảng rồi hai ông cùng sang Nhật. Ở đó được 10 tháng, ông lên đường về nước (năm 1906) . Phan Chu Trinh quyết đứng ra tranh đấu công khai với chính quyền bảo hộ Pháp . Ngày 15 tháng 8 năm Bính Ngọ (1906) , ông gởi lên Toàn Quyền Pháp ở Ðông Dương một bức thư dài 12 trang gồm mấy điểm sau đây :

- Do sự dung túng của chính quyền Bảo Hộ mà những bọn tham quan ô lại lộng hành khiến cho người Việt Nam bạc nhược suy yếu .

- Chính quyền Bảo Hộ đã dùng một chính sách bạo ngược, tàn ác đối với dânViệt Nam, không tôn trọng sinh mạng con người, muốn chém giết ai tùy ý .

- Do những cách đối xử tàn ác này, mà bọn quan lại lợi dụng quyền thế bắt nạt dân chúng, tìm cách vơ vét cho đầy túi tham, gây nên một tình trạng bi đát trong dân chúng. Bức thơ của Phan Chu Trinh đã có ảnh hưởng rộng lớn trong dân chúng . Ông bắt đầu hoạt động mạnh, hô hào tổ chức nhiều buổi diễn thuyết tại trường Ðông Kinh Nghĩa Thục . Thực dân Pháp để ý căm thù và triều đình Huế cũng rất bực tức quyết tìm cách hãm hại ông. Nhưng Phan Chu Trinh vẫn không màng đến, ông đứng ra lãnh đạo phong trào duy tân, khuyến khích đồng bào mở trường dạy học, lập các hội buôn như Ðông Kinh Nghĩa Thục, Hồng Hưng Tân, công ty Minh Tân, ông cảm hóa được rất nhiều nhân sĩ . Phan Chu Trinh lại hô hào thanh niên vận Âu phục , cắt tóc ngắn, ủng hộ các sản phẩm và hàng nội hóa để giúp cho nền kinh tế trong nước được dồi dào . Ða số thanh niên trong toàn quốc đã nhiệt liệt hưởng ứng phong trào duy tân này .

Năm 1908, tại tỉnh Quảng Nam phong trào kháng thuế nổi lên mạnh mẽ lan rộng các tỉnh miền Trung Việt. Ðầu mùa Xuân năm 1908, thực dân Pháp ra lệnh đóng cửa Ðông Kinh Nghĩa Thục . Nhân việc kháng thuế ở Quảng Nam, vốn đã không ưa Phan Chu Trinh vì ông đã nhiều lần đả kích và nguyền rủa thậm tệ chúng, nên bọn quan lại Nam triều và thực dân Pháp đổ cho ông “xui dân làm loạn” và “phá rối” liền bị hạ lệnh bắt ông … Rất nhiều nhân sĩ bị bắt, và trong dịp này, ông nghè Trần Quý Cáp bị Nam Triều lên án xử chém tại Nha Trang . Riêng Phan Chu Trinh bị bắt đem về giam tại tòa Khâm Sứ. Ðể phản đối hành động khủng bố của thực dân, Phan Chu Trinh tuyệt thực trong bảy ngày . Nhận thấy tình thế khó xử, viên Khâm Sứ Pháp phải giao trả ông về Cơ Mật Viện của tòa án Nam Triều, ông bị bọn quan lại kết án tử hình . Nhờ có hội Nhân Quyền can thiệp với chánh phủ Pháp. Chính quyền Bảo Hộ phải điều đình với Nam Triều đổi bản án “tử hình” ra “Côn lôn ngộ xá bất nguyên” (bị đày ra Côn đảo mãn kiếp không được ân xá “. Bỏ giam ở nhà lao Phủ Thừa được it’ lâu, Phan Chu Trinh bị đày đi Côn đảo . Lúc đi ngang qua cửa Thượng Tứ (Huế), ông đã ngâm bốn câu thơ bằng chữ Hán mà ông Phan Khôi đã dịch như sau Mang xiềng nhẹ bước khỏi đô môn,

Hăng hái hò reo lưỡi vẫn còn

Ðất nước hãm chìm dân tộc héo

Làm trai đâu xá thứ Côn-lôn

Trong cảnh tù đày, nhưng Phan Chu Trinh rất được chính phủ Pháp trọng đãi và kính nể. Chính viên Thống Ðốc Nam Kỳ đã ra tận Côn đảo để tìm hiểu lập trường tranh đấu của ông . Năm 1910, nhờ có hội Nhân Quyền Pháp (do sự vận động của ông Ernest Babut trong 3 năm trời) can thiệp ráo riết với chính phủ Pháp, thủ tướng Pháp lúc bấy giờ là Klobulowsky và Tổng trưởng Bộ Thuộc địa là Trouillet lập Hội đồng để xét án Phan Chu Trinh . Chánh Tham Biện tỉnh Mỹ Tho là Cousineau được cử làm chánh án . Mặc dù đã được ân xá, nhưng ông cũng bị thực dân Pháp tìm cách giữ mãi tại Mỹ Tho .Ông phản kháng và cương quyết đòi trở về Côn Ðảo . Chính phủ Pháp đành phải để ông tự do .Vì muốn tranh đấu có hiệu quả trong việc cải cách nền chính trị nước nhà và đồng thời để được học hỏi thêm, năm 1911, Phan Chu Trinh đã sang Pháp với Toàn Quyền Klobulowsky, cùng theo ông có người con trai tên là Phan Chu Dật .

Tại Ba Lê, ông gởi con vào trường học còn ông thì lại làm nghề rửa ảnh để sinh sống .Dù cho phải sống xa quê hương, ông vẫn không ngừng hoạt động tranh đấu cho đất nước. Ông viết báo Pháp phản đối việc đào lăng Tự Ðức, yêu cầu chính phủ Pháp nên cấp tốc thay đổi chính sách thuộc địa, giáo dục tinh thần tranh đấu của Việt kiều tại Pháp . Ông tìm cách liên kết với các lãnh tụ thuộc đảng cấp tiến ở Pháp . Ông không tiếc lời đả kích những nạn tham nhũng thối nát của thực dân Pháp ở Ðông Dương và chỉ trích chính sách cai trị của họ . Phái khuynh tả ở Pháp rất tán thành việc làm của Phan Chu Trinh, nhưng các quan lại ở các thuộc địa Pháp rất căm thù và oán ghét . Tiền trợ cấp của ông và tiền học bổng của con ông là Phan Chu Dật đều bị truất, đó là kết quả sự trả thù của thực dân .Hai cha con ông phải sống kham khổ và vất vả với số lương rửa ảnh của ông hàng tháng là 50 quan . Dù phải sống trong cảnh đói rét, khốn khổ đủ mọi bề, Phan Chu Trinh vẫn cương quyết tranh đấu cho lý tưởng cao cả .

Năm 1914, chiến tranh Pháp Ðức bộc phát, tại quê nhà vua Duy Tân nhân cơ hội đó gây biến, nhưng cuộc khởi nghĩa thất bại, Trần Cao Vân và Thái Phiên bị xử chém . Vua Thành Thái và Duy Tân bị thực dân Pháp đày sang đảo Réunion .Vì không chịu đi lính cho Pháp để đánh Ðức, Phan Chu Trinh bị vu cáo là làm gián điệp cho Ðức, nên ông bị bắt giam vào ngục SANTE . Nơi đây ông bị hăm dọa đủ điều, nhưng tấm kiên trung vẫn không bao giờ thay đổi . Dùng võ lực không được, người ta đã đem tiền bạc, quyền tước để mua chuộc ông , nhưng cũng vô hiệu quả . Nhờ sự can thiệp của Ðảng Xã Hội và Hội Nhân Quyền Pháp, năm 1915 chính phủ Poinceré phải ký giấy phóng thích ông. Vừa thoát khỏi cảnh giam cầm, Phan Chu Trinh lại phải khóc con . Phan Chu Dật sau 6 năm học tập đã thi đỗ bằng Tú Tài Vật Lý Học, được cha ủy thác sứ mạng về nước để hoạt động . Vì bao năm sống thiếu thốn đói lạnh, Chu Dật mang phải bệnh lao phổi . Về đến quê nhà chưa đầy một năm, Chu Dật mất .

Năm 1922, vua Khải Ðịnh sang dự cuộc đấu xảo quốc tế ở Ba Lê, Phan Chu Trinh gởi cho nhà vua một bức thư lời lẽ nghiêm khắc buộc Khải Ðịnh phải thoái vị nhường quyền lại cho quốc dân và kể bảy tội nhà vua đã làm và đáng tội chém đầu .Có đoạn ông đã viết : “… Một là vì Trinh này đối cùng bệ hạ đã đoạn tuyệt hẳn, không còn một chút quan hệ gì, chỉ đứng vào cái địa vị đối đãi mà thôi, cho nên bức thư này không phải dâng lên cho bệ hạ mà chính là gửi cho bệ hạ, hai chữ bệ hạ mà tôi dùng đây, chẳng qua là cái tiếng xưng hô đã quen trong Hán văn đó mà thôi … ngày nay Trinh này đề thư cứ gửi ngay cho ông Bửu Ðảo là cái tên húy của bệ hạ , để tỏ ý phản đối .” Bức thư của ông, sau khi được công bố, khích động được tinh thần tranh đấu của đồng bào trong và ngoài nước .

Năm 1925, chính phủ Pháp nhận thấy Phan Chu Trinh là một người ái quốc chân chính có chính sách ôn hòa, nên có ý muốn giúp đỡ ông  . Thấy cơ hội thuận tiện cho mình đem tài trí ra giúp dân giúp nước, ông xin trở về quê nhà và được chính phủ Pháp chấp nhận.

Về đến Saigon, Phan Chu Trinh có ý định ở lại trong Nam ít lâu rồi sẽ ra Trung Bắc để hoạt động. Dù tuổi già sức yếu, bệnh hoạn vì bao năm sống vất vả thiếu thốn ở Pháp, Phan Chu Trinh vẫn hăng hái tranh đấu . Ông vận động với nhà cầm quyền Pháp để xin ân xá cho Phan Bội Châu bị bắt ở Thượng Hải và sửa soạn hai bài diễn văn để đọc trước công chúng :

1. Ðạo đức và luân lý Ðông Tâỵ

2. Quân trị chủ nghĩa, dân trị chủ nghĩạ

Hai bài diễn văn trên đây đã bày tỏ được chính kiến của một nhà cách mạng chân chính, với lòng yêu nước nhiệt thành . Ngày 24-12-1925, sau khi hay tin việc vận động xin ân xá của quốc dân đã có kết quả và Toà Quyền Varenne đã ký giấy ân xá Phan Bội Châu . Phan Chu Trinh định ra Huế để được gặp người bạn đồng chí để cùng nhau tâm sự, nhưng ông bị đau không đi được . Các sinh viên trường Ðại học Hà Nội đánh điện văn mời ông ra Bắc để diễn thuyết . Chưa kịp đi thì ông được biết tin vua Khải Ðịnh mất . Phan Chu Trinh đánh điện tín cho Pasquier Khâm sứ Trung Kỳ hay ông sẽ ra để lo việc cải tổ triều chính và lập dân đảng .

Tiếc thay đại cuộc chưa thành, bệnh tình của Phan Chu Trinh mỗi ngày một thêm trầm trọng . Ngày 24 tháng 3 năm 1926 (nhằm ngày 12 tháng 2 năm Bính Dần) nhà cách mạng ái quốc Phan Chu Trinh đã trút hơi thở cuối cùng, hưởng thọ được 55 tuổi . Một Hội đồng trị sự được thành lập ngay đêm đó để lo việc an táng cho ông ngày 4-4-1926 khắp từ Nam chí Bắc đều tự động làm lễ bãi khóa và làm lễ quốc táng nhà chí sĩ Phan Chu Trinh rất trọng thể để chứng tỏ tấm lòng ngưỡng mộ và mến tiếc nhà cách mạng đã suốt đời vì dân vì nước .

PHAN CHU TRINH:ĐẠO ĐỨC VÀ LUÂN LÝ ĐÔNG TÂY

Phan Chu Trinh

Thưa các anh em đồng bào!

Anh em đồng bào thấy tôi là người tuổi tác, ở lâu năm bên Pháp về, anh em đồng bào có lòng quá yêu, nhường cho tôi bước đầu lên diễn đàn nhà hội “Việt Nam” ta đây, để tỏ ý kiến là hy vọng của tôi đối với xã hội Việt Nam ta từ ấy đến giờ, thì tôi rất lấy làm cảm tạ vô cùng.

Không nói, tưởng anh em đồng bào cũng đã biết tôi vì quyền lợi của dân tộc Việt Nam mà phải lăn lóc đến mười tám năm nay. Trong khoảng 18 năm đó (hơn 14 năm ở Pháp) thường mong mỏi được gặp mặt anh em đồng bào cố hương, đặng tỏ chút ý kiến về những sự đã được nghe thấy trong khi tôi trôi nổi nơi đất khách quê người. Không ngờ giấc mộng được thành, trở về nơi chôn nhau cắt rốn, giáp mặt anh em đông đủ thế này. Tôi mừng quá.

Thưa anh em đồng bào, nay tôi đã được gặp anh em đông đủ ở đây, tôi xin anh em cho phép tôi được giải bày đôi chút ý kiến về “Đạo đức luân lý Đông Tây” mà mong rằng anh em để ý hiểu cho. Đáng lẽ theo thời nay, không thiếu chi vấn đề rất quan trọng làm rung động các dân tộc trên toàn cầu, tôi có thể nói chuyện cùng anh em được, thế mà tôi lại không lựa đến mấy vấn đề mới mẻ ấy, chỉ chọn lấy cái vấn đề “Đạo đức và luân lý” rất tầm thường mà rất cũ kỹ thế này.

Tôi chọn lấy vấn đề này, là vì tôi tưởng rằng từ xưa đến nay bất cứ dân tộc nào, bất luận quốc gia nào, dầu vàng, dầu trắng, dầu yếu, dầu mạnh, đã đứng cạnh tranh hơn thua với các dân tộc trên thế giới thì chẳng những thuần nhờ sức mạnh thôi, mà phải nhờ cái đạo đức làm gốc nữa; nhất là dân tộc nào bị té nhào xuống, nay muốn đứng lên khỏi bị người đè lên trên thì lại cần có một đạo đức vững chặt hơn dân tộc đang giàu mạnh hơn mình.

Câu chuyện đạo đức tôi sẽ giải ra sau này không cao xa gì, mà cũng không như câu chuyện đạo đức các ông thuộc về phái thủ cựu thường đã nói. Đạo đức đây chỉ là: “Phàm đã là một dân tộc sinh tồn trên hoàn vũ, đã có một lịch sử chính đáng, thì phải giữ gìn những sự vẻ vang trong lịch sử của dân tộc mình”, nghĩa là giữ lấy những đức hay tính tốt mấy trăm nghìn năm ông cha để lại, khiến cho nuớc nào dân tộc nào đối với mình cũng đem lòng kính trọng. Nói tóm lại là một cái tính chất của một dân tộc đã trải lâu năm kết tinh lại như hòn ngọc mài không mòn, như sắt nguội đánh không bể thì mới gọi là đạo đức được.

***

Thưa các anh em đồng bào!

Tôi lâu nay lưu lạc, bây giờ trở về mới liếc mắt trông qua vài hiện trạng của mước nhà ta, tôi rất lấy làm buồn lắm. Than ôi! Cái đạo đức cũ đã mất từ bao giờ không khác gì trái cây khô, mà đạo đức mới cũng chưa hình thành gì cả. Thử xem các ông cựu học thì bo bo nói rằng phải buộc bọn thiếu niên tân tiến theo đạo đức cũ. Nhưng chán thay, các ông chỉ nói thế thôi, xét ra thì những lễ, nghĩa, liêm, sỉ các ông bỏ mất không biết gì đến rồi, mà đạo đức cũ ông cha ngày xưa để lại cũng theo dòng nước chảy xuôi, Đó là nói các ông không biết giữ gìn đó thôi, chớ như đem ngay cái luân lý cũ kỹ mấy nghìn năm trước mà so sánh với luân lý của thế giới ngày nay thì cũng trái ngược lắm rồi. Còn các bạn thiếu niên thấy ông lù khù như thế lại càng làm giàu thêm cái tính kiêu căng, học được chút ít đã vội tưởng mình hơn các cụ già rồi, không giữ gìn tính nết, thành ra cách ăn ở Tây không ra Tây, mà Nam cũng không ra Nam. Điều này không chỉ tôi nói ra đây mà thôi, chính người Pháp ở thuộc địa lâu ngày viết sách chê đến đã nhiều.

Anh em ta đây tất cũng thấy người ta thường nhóm năm nhóm bảy với nhau rằng cái tính của người Tây kiêu ngạo hay khinh người, nhưng ta hãy tự hỏi ta điều đó, ta xem cách ta ăn ở có đáng cho người ta kính trọng không? Sự đó không thiếu gì là gương cũ ta có thể kể ra được. Đã mấy mươi năm nay, nhờ cái phong trào của thế giới xô đẩy mà trong nước ta cũng có đảng Thủ cựu, đảng Duy tân, đảng Hòa bình, đảng Kịch liệt làm ồn ào cả lên mà rút cục lại chẳng thành hiệu quả gì. Đến khi đổ vỡ ra thì thấy toàn những đầu trâu mặt ngựa cả, chỉ bêu xấu cho cái danh giá của dân tộc mình, khiến cho người ta trông vào thấy thế càng khinh dễ thêm, càng vày đạp thêm.

Ông Khổng nói rằng: “Tài giả bồi chi, khuynh giả phúc chi” nghĩa là mình tốt thì trời đất giúp thêm cho, mà mình đã nghiêng đổ thì trời đất lại xô đạp thêm. Ông Mạnh cũng nói rằng: “Nhân tất tự vũ nhi hậu nhân vũ” nghĩ là mình có tự khinh mình thì người ta mới khinh mình. Vậy không trách mình thì còn trách ai! Bữa nay tôi chọn cái vấn đề này mà nói chuyện cùng anh em đồng bào, chính là vì cái chính ý đó.

Xưa nay ta học chỉ đọc ngoài miệng thôi, ít khi chịu tách bạch cho phân minh từng nghĩa nên nhiều khi hiểu lầm. Như chữ đạo đức và luân lý ta thường cho là một nghĩa chớ không biết rằng đạo đức là đạo đức, luân lý là luân lý. Đạo đức gồm cả luân lý mà luân lý chỉ là một phần trong đạo đức mà thôi. Đã là người thì cần có nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, cần, kiệm. Nhân là có lòng thương người, nghĩa là làm việc phải, lễ là ăn ở cho có lễ độ, trí để làm việc cho đúng, tín là nói với ai cũng giữ lời cho người ta tin mình mới làm được việc, cần là làm việc siêng năng, kiệm là ăn ở dành dụm trong lúc no để phòng lúc đói, lúc có để phòng lúc không v.v.. Người có đạo đức là người ở trong đạo làm người vậy. Đạo đức như thế thi không có mới có cũ, có đông có tây nào nữa, nghĩa là nhất thiết đời nào, người nào cũng giữ được cái đạo đức ấy mới là trọn vẹn. Dầu nhà bác học xướng ra học thuyết nào khác nữa, dầu chính thể khác nhau hoặc dân chủ, hoặc quân chủ, hắc cộng sản nữa, cũng không tài nào vượt qua khỏi chân lý của đạo đức nghĩa là đạo đức thì không bao giờ thay đổi được.

Luân lý thì không thế. Luân lý có thể thay đổi được luôn. Luân lý thì mỗi người mỗi khác. Thí dụ như nước ta về thời nhà Đinh lập được năm bà Hoàng Hậu mà đến các đời sau như Lê, Lý, Trần, Tây Sơn, Nguyễn, thì chỉ lập có một hoàng hậu mà thôi; như đời Trần thì người trong họ được lấy nhau mà tục ấy đời sau lại cấm. Đời nhà Trần khi nào trong nước có giặc thì vua triệu những bậc phụ lão trong nước vào điện để bàn bạc, mà đến đời sau thì chỉ một lũ vua tôi làm chuyên chế với nhau mà thôi.

Lại thí dụ như xứ này hễ cha mẹ chết thì đem ăn thịt hoặc đốt đi, mới gọi là hiếu, mà xứ khia thì phải làm đám táng có kèn trống linh đình mới phải đạo làm con. Xem những cớ đó thì đủ biết rằng luân lý có phải là thứ thiên niên bất dịch đâu mà kỳ thật có thể tùy thời mà thay đổi vậy. Người ta có thể thay đổi luân lý mà không thể thay đổi được đạo đức. Ấy luân lý và đạo đức khác nhau là thế. Nói cho rõ hơn là luân lý như cái áo tùy người lớn nhỏ mà thay đổi, nhưng cũng không mất hình cái áo đi, chí như đạo đức là như cơm, như nước, như đồ bổ dưỡng, cần cho mọi người dẫu muốn thay đổi cũng không thay đổi được, nếu thay đổi được là đạo đức giả.

Tôi giải rõ hai chữ luân lý và đạo đức khác nhau như thế là cốt ý sẽ bàn về sự thay đổi luân lý của nước ta và đề phòng khi anh em đông vào nghe đến “thay đổi luân lý” khỏi lấy làm giật mình. Trước khi tôi chưa giải rõ nghĩa hai chữ luân lý đạo đức, nếu tôi nói: “Ngày nay ta phải bỏ quân chủ lập dân chủ mới họp thời” thì chắc cũng có mấy ông hiểu lầm hai chữ luân lý là đạo đức đều ứng lên mà la rằng: “Bỏ quân chủ thì nền đạo đức cũ của nhà Nam ta cũng đổ nát theo còn gì!” Nhưng bây giờ thì anh em cũng không đến nỗi hiểu lầm như thế nữa.

Vậy tôi xin bàn qua hai chữ luân lý Đông Tây:

Luân lý của người Âu Tây dạy cho con trẻ phải thờ cha kính mẹ, thương yêu bà con họ hàng, tưởng cũng còn hơn cái luân lý của ta dạy bằng “Tam Tự Kinh” và “Tam Thiên Tự”. Luân lý của họ cũng không khác gì mình, duy theo pháp luật thì con trai con gái họ đến 21 tuổi là tuổi trưởng thành, thì có thể lìa cha mẹ mà độc lập được, nghĩa là “đến tuổi có nghĩa vụ mà trách nhiệm đối với luân lý quốc gia tất nhiên phải nhẹ gánh gia đình đi”. Người mình thấy luân lý của người ta khác mình và có lẽ lại sơ lược hơn mình thì cho là mọi rợ, chớ biết đâu khi xưa họ cũng như mình. Song từ khi cái tư tưởng quốc gia của họ đã tiến lên thì cái tư tưởng gia đình lần lần nhẹ bớt đi, ấy cũng là lẽ tiến hóa tự nhiên … Cũng như ngày nay cái phong trào xã hội bên châu Âu mạnh quá, khiến cho lắm nhà triết học đã nghĩ đến cách làm thế nào phá tan cái vòng gia đình chật hẹp kia, cho mọi người trong nước được bình đẳng, nghĩa là kẻ giàu người nghèo đều được giáo dục và sinh hoạt như nhau, không đến nỗi như ngày nay xa nhau một trời một vực, phá cái thành “phân cách” chặn ngang các hạng người như thế, là cốt giữ gìn trật tự trong xã hội và ai ai cũng được bình đẳng như nhau.

Nói về quốc gia luân lý châu Âu

Quốc gia luân lý châu Âu phát đạt từ hồi trung cổ nghĩa là từ thế kỷ thứ XVI nền quân chủ đang thịnh. Vua của họ hồi ấy cũng như vua của ta, nghĩa là tự thánh tự thần làm chuyên chế quá cho nên mới nảy ra nhiều nhà đại triết học thuyết minh vua là gì, nước là gì, nói ra có giới hạn, rất phân minh, khiến cho ai nấy đều hiểu quốc gia có quan hệ mà nhẹ bớt gia đình.

Thứ hai là từ thời có dân tộc ở châu Âu đều có tính háo chiến cho nên thường lấy sự thắng trận làm vinh, thua trận mà làm nhục đánh nhau lung tung. Vì tính háo chiến đó, cho nên dân các nước bên châu Âu về thời đó, đều có một nền quốc gia luân lý rất bền chặt vững vàng.

Ấy, quốc gia luân lý của họ mà thành là vì hai cớ đó.

Đến bây giờ thì thời cuộc thịnh như đã suy, từ khi bốn năm đại chiến như vừa rồi, nước thua dân bị lầm than thì đã đành, mà nước được dân cũng lắm nỗi khốn thành ra trăm việc đều hư nát mà nào có ích cho ai! Vì thế nên mấy nhà đại chính trị, đại triết học, đại giáo dục đều biết rằng cái thời đại quốc gia đã qua, không thể duy trì được nữa đành phải bỏ mà tiến lên thời đại xã hội vậy. Tuy nước nào cũng có một đảng thủ cựu phản đối kịch liệt, nhưng cái phong trào xã hội bây giờ cuồn cuộn như nước nguồn đang đổ, thì làm sao ngăn lại được nữa. Cuộc đại thắng của xã hội luân lý sau này cũng là một việc dĩ nhiên.

Ấy là bước tiến lên, bỏ quốc gia luân lý mà bước lên xã hội luân lý, cũng như khi bỏ gia đình luân lý mà tiến lên quốc gia luân lý vậy.

***

Xã hội không phải là cái luân lý cường quyền của chính phủ đối với dân, cũng không phải là sức mạnh của nước nọ đối với nước kia, mà chính là trong nước thì lấy người này đối với người kia, suy rộng ra thế giới thì lấy loài người đối với loài người.

Trong buổi quốc gia luân lý bên Âu châu đang thịnh, có câu nói rằng: Một người đối với một người thì có công lý, còn một dân tộc đối với một dân tộc thì không có công lý, ngày nay lòng người xu hướng về xã hội luân lý thì lại có câu nói trái lại rằng: Một người đối với một người đã có công lý thì mấy trăm nghìn, mấy ức triệc người nhập lại thành một nước, tài nào lại không có công lý.

Đó là tôi tỏ ra rằng chủ nghĩa xã hội luân lý hiện nay bên châu Âu đã mở mang như thế. Muốn cho dễ hiểu câu “trong nước người này với người kia” nghĩa là: người có giúp cho người không, người mạnh giúp cho người yếu như là: bên nước họ mấy nhà giàu bỏ tiền lập nhà thương, trường học cho con nhà nghèo; những kẻ đi đường thấy người yếu bị đè nén thì hết sức bênh vực v.v… Nói tóm lại xã hội luân lý là sự suy tự lòng công đức mà công đức là suy ở tư đức mà ra.

Vì sinh kế, vì lợi quyền, người bên Âu châu họ cũng tranh giành nhau dữ dội lắm, song giành nhau cũng ở trong vòng pháp luật mà thôi. Chí như công đức là giúp đỡ lẫn nhau, kính trọng quyền lợi cho nhau thì họ vẫn không bỏ. Tôi nói như thế chắc anh em nghĩ cho tôi bên Tây lâu rồi nên tán tụng như thế chăng. Xin thưa bên Âu châu họ cũng xấu chán, dân đức của họ cũng chưa đến nỗi hoàn toàn, song dân nào cho dù có 30% hoặc 50% biết giữ luân lý thì tưởng cũng đủ gọi là họ có rồi. Phong tục họ có xấu mặc lòng, nhưng trong nước họ còn có đảng Thượng lưu biết lo đời, như mấy nhà đại chính trị, đại triết học, đại văn hào, đại giáo dục, đứng lên hô hào nào làm sách, nào viết kịch, nào làm báo, nào diễn thuyết. Cốt phá bỏ những chứng hư tật xấu của người đời, rồi bọn thiếu niên xã hội, bọn thiếu niên dân chủ cũng tán thành ó ré theo để lo cứu chữa những đồi phong ác tục trong nước. Chẳng những họ lo ở trong nước họ mà thôi, họ còn lo đến cả thế giới nữa.

Lấy một việc đó mà so với người mình quanh năm trọn tháng chỉ lo cho cái xác thịt, cái tuổi già mà vẫn không xong thì cũng đủ xấu hổ rồi; huống hồ là nói đến việc xã hội nhân quần, họ hơn ta xa như thế thì làm sao ta không kính trọng họ cho được?

Bây giờ tôi xin đem cái luân lý của ta so sánh với luân lý của Tây-Âu.

Trên tôi đã nói luân lý của ta có năm mà thuộc về gia dình hết ba, nghĩa là cha con, anh em, vợ chồng. Nếu nói theo trí tưởng luân lý từ xưa để lại mà làm cho đúng thì tưởng cũng không còn chỗ nào chỉ trích được. Như ông Khổng nói: “Cha con có thân, vợ chồng có biệt, anh em có thứ lớp” nếu ta theo thế mà diễn dịch ra, dẫu gia đình luân lý của ta hẹp hòi, không được rộng rãi chăng nữa, thì đáng lẽ phải tốt lắm mới là phải, chớ đâu có tồi bại thế này! Cái nền luân lý ở Á Đông, nhất là ở nước ta ngày nay đổ nát như thế là bởi các nhà vua chuyên chế làm sai hết cả đạo Khổng mà ra.

Chẳng những vua quan chuyên chế mà thôi, họ còn lập mưu khép cả kẻ làm cha, kẻ làm chồng vào cái cạm độc ác ấy nữa để cho tiện việc chuyên chế của bọn họ. Một bọn hủ nho mắc cạn còn vẽ rắn thêm chân vào, đem những tư tưởng rất nông nỗi truyền bá ra để trói buộc dân gian. Như là: “Quân thần chí nghĩa bất khả đào ư thiên địa chi gian”, nghĩa là mình sinh ra xứ này phải đội ông vua lên đầu. Tư cách ông vua thế nào, các ông không cần biết đến. Hễ có cái huy hiệu là ông vua thì các ông đội lên thôi! Các ông đã tôn vua lên, tất nhiên các ông phải tôn cha lên mà nói: “Thiên hạ vô bất thị để phụ mẫu” nghĩa là trong trời đất không có cha mẹ nào quấy. Ôi hủ nho! Hủ nho! Cũng vì mấy câu tà thuyết của các ngươi mà gia đình luân lý của nước nhà ta ngày nay trụy lạc đến thế này.

Tôi xin kể ra đây một chuyện rất tầm thường, mắt ta thường thấy, nhưng tưởng ít ai chủ ý đến. Chuyện ấy là chuyện bài ca và mấy bức tranh Nhị Thập Tứ Hiếu lòe loẹt trên nóc nhà người Nam ta ngày nay, những bức tranh gai mắt ấy, những câu ca rười tai ấy tả ra câu chuyện rất vô lý dị đoan bày rõ một cái án tội nhân của đạo đức Khổng Mạnh. Kẻ tốt quá, người xấu quá đã không nhằm vào đâu, mà những việc tả ra đó y như là quỷ thuật, không phải là sự ăn ở thật của loài người. Các anh em nghĩ thử bụi tre mùa đông lá đã rụng khô hết, khóc thế nào mà mọc được măng; nằm trên giá thế nào mà cá nhảy lên được? Những chuyện hoang đàng ấy tự là Quách Thủ Chính đời Minh làm ra chớ không phải đã lâu. Nhiều người mắc mưu của Thủ Chính đem các bức tranh ấy treo vào vách thay mặt cho đạo Nho, thế mà không ai dám chê bai đến. Luân lý gia đình như thế thì làm sao mà càng ngày càng không lụn bại cho được. Ta thử nghĩ xem gia đình của ta bây giờ thì cha mẹ coi con như của, nói rằng của mình đã sinh ra, mình muốn thế nào thì phải thế. Đại khái cha mẹ không muốn lo việc đời, thì cũng không muốn cho con lo việc đời, cha mẹ không muốn đi xa nên cũng không muốn cho con đi xa, cha mẹ muốn lòn cúi các ông lớn này, ông lớn nọ để con làm các sở cho vẻ vang thì cũng bắt con như thế, thật không còn gì là cho con một chút tự do. Ấy là tôi nói mấy nhà giàu, còn như các nhà nghèo thì dạy con thì tát, thì chửi, thì đánh thì nói rằng thương con cho roi cho vọt, mà không biết rằng làm như thế là nuôi cho con một cái tính phục tùng nô lệ. Khi còn ở trong gia đình thì thở cái không khí chuyên chế của gia đình, khi đến trường học thì thở cái không khí trong trường học (tính mình hay thích giao con cho một ông thầy dữ đòn) thì làm sao khi bước chân ra ngoài xã hội khỏi quen tính nô lệ, chịu lòn cúi người. Cái tính nô lệ của người mình ngày nay chính là mang từ lúc trong gia đình chuyên chế mà ra vậy.

Trong luật ta cho cha mẹ và chồng có quyền nhiều. Đạo cha con xem ra thì chỉ còn thấy những kẻ tay lấm chân bùn còn biết cắm cúi lo làm để nuôi cha nuôi mẹ, chí như bọn thượng lưu trung lưu thì ta không còn thấy chữ hiếu nữa.

Bọn ấy thường nhiều mượn những lốt lễ nghĩa rất kỳ khôi của bọn tà nho mang vào để che miệng thế gian, chớ không có một chút gì gọi là hiếu là thuận cả. Nào là nằm đường, nào là chống gậy, nào là khóc mả, nào là ở dơ, nhưng kỳ trung có thương xót, có yếu đuối gì đâu, chỉ đem một trò giả dối diễn ra trước mặt mọi người mà thôi vậy. Chẳng những bọn ấy giả dối trong khi cha mẹ họ tử hậu mà trong lúc sinh tiền họ cũng không ăn ở thật lòng.

Về đạo vợ chồng thì ta vẫn nói là “Phu xướng phụ tùy” là “Thiếu phụ dĩ thuận vi chính” hoặc “xuất giá tùng phu” song ta rút cuộc lại nhà nào thuận hòa tức là vợ chồng nhà ấy có đạo đức có tính cách ngang nhau mới được thế. Nếu nhà nào vợ khôn hơn chồng thì vợ làm chủ. Xem đó thì cũng đủ biết rằng cái sự gầy dựng ra không theo tính tự nhiên của loài người thì dẫu có quyền chuyên chế mạnh đến đâu cũng không buộc người ta theo được.

***

Bàn đến quốc gia luân lý thì tôi xin thưa rằng, nước ta tuyệt nhiên không có. Tôi xin nói tạm rằng quốc gia luân lý của ta từ xưa đến nay chỉ ở trong vòng chật hẹp của vua và tôi. Không nói đến “dân và nước” vì dân không được bàn đến việc nước!

Vua là gì? Vua là người cầm quyền chính trong nước, là người đầu sỏ trong bộ lạc ấy hoặc là người anh hùng thấy dân đồ thán ra đánh đổ cường quyền, khôi phục lấy đất nước của ông cha để lại rồi tự đặt lên làm chúa tể cả muôn người; hoặc người gian hùng nhân thời ly loạn dùng mưu quỷ chước thần đánh đổ con cháu một dòng vua rồi tự đặt mình lên cái địa vị ấy; hoặc người cùng một nước đánh nhau đặng cầm quyền chuyên chế; hoặc người nước ngoài lấy sức mạnh đến đánh đặng cầm lấy chìa khóa quyền lợi. Nói tóm lại vua là người lấy quyền người làm quyền mình, lấy công quyền làm quyền tư, lấy đất người làm đất mình, lấy đất công làm đất tư vậy.

Tôi là gì? Tôi là người tùng phục vua (vua chư hầu) hoặc là ngươi làm nô lệ cho vua, hoặc là người làm công cho vua. Đem mình ra đầu tên mũi đạn đổi lấy một mảnh giấy vàng, một dấu ấn đỏ; dang đầu ra giữa trận mưa dầu nắng lửa để đổi lấy chung rượu lạt, tiếng ban khen. Nói tóm lại, tôi là người tôi mọi, bán rẻ vừa hồn lẫn xác cho vua vậy.

Quốc gia luân lý của ta từ xưa đến nay chỉ gồm có thế, cho nên dân trong nước không biết quyền dân là gì, nghĩa vụ là gì. Vua của ta ngày xưa là thế, tôi của ta ngày xưa là thế, sử sách của ta gọi nước là thế! Cho nên dân không biết vua và nước có có cái giới hạn gì khác nhau không. Vì thế cho nên dân chỉ biết tôn quân mà không biết nghĩa ái quốc, gặp vua tử tế làm nhiều công bình thì dân thương, dân liều chết ra đánh giặc giúp vua; gặp vua tàn bạo làm nhiều điều độc ác thì dân ghét, muốn rửa hờn mở cửa thành cho giặc vào. Thí dụ như hồi nước Pháp đánh Bắc Kỳ chỉ có 90 tên lính mà trong 24 giờ thì hạ được bốn thành, mà lính Nam không ai bắn trả lại một phát súng. Hồi ông Nguyễn Huệ kéo quân ở Huế ra Thăng Long, Nguyễn Chính có quân đóng ở đó, song chưa đánh đã thua, khiến vua Chiêu Thống phải chạy, đi đường bị dân bóc lột. Ông Mạnh có nói rằng: “Vua coi dân như cỏ rác, thì dân coi vua như người đi đường”, đã coi như người đi đường thì còn luân lý gì. Việc gì mà chẳng bóc lột.

Xem như thế thì xưa nay nước ta không có quốc gia luân lý, chỉ có một cái luật vua tôi bắt buộc dân phải theo. Vua với dân không có luân lý gì dính nhau, chẳng qua vua và tôi tớ của vua hiệp nhau lấy sức mạnh để đè nén dân mà thôi vậy.

Trừ ra đời nhà Trần thì vua với dân gần nhau lắm. Con vua cũng đi chơi với con dân, những phụ lão đều dự bàn việc nước, và những vua đã truyền ngôi cho Hoàng Thái Tử rồi thì thường đi khắp nhân gian xem xét phong tục, chính trị để sửa sang cho hiệp với lòng ước vọng của dân; cho nên dân mến đức mà cảm phục, mấy lần tử chiến với giặc Mông Cổ, mấy phen hiệp sức để giúp vua mới thắng trận một cách vẻ vang như thế.

Ngày nay đọc một đoạn vinh dự sử của nhà Trần đều lấy làm vui; ta đọc đến khúc bi thảm sử của nhà Lê, nhà Nguyễn thì đều lấy làm buồn, nhưng có mấy khi ta chịu xét đến cái gốc rễ của lẽ thắng bại đâu.

Người nào có học chữ Pháp một chút thì cũng biết rằng trong sách ấu học hoặc sách tiểu học, bắt đầu đều dạy: phải thương nhà, thương người đồng loại; thế mà ngày nay không có ai dám mở miệng ra nói một tiếng “thương nước” thì nghĩ có đáng chán không! Hơn sáu mươi năm nay ở dưới quyền một nước bảo hộ rất văn minh, rất tự do mà cái mầm tự do không nẩy ra được là bởi tự đâu?

Không phải cái độc chuyên chế từ xưa đã thâm căn cố đế trong óc người nước ta rồi đấy ư? Tiếng thương nước đã có luật Gia Long cấm. Những kẻ học trò và dân gian không được nói đến việc nước, lo việc nước.

Thương nước thì phải tù tội (!) cho nên những nhà thế phiệt giữ mình cho đến nỗi uốn nắn con từ trong nhà, lấy sự lo việc đời, sự thương nước làm sợ. Sợ quá! Hình như nói đến sự đó thì phải bị khinh, bị nhục như kẻ cắp kẻ trộm vậy. Rất đỗi bây giờ người Nam đã ở dưới chính trị Pháp là giống người cho sự thương nước làm tính tự nhiên của loài người mà cũng không ai dám nói tới; xem chừng còn lo sợ hơn khi còn ở dưới quyền chuyên chế nữa. Có người cho lời tôi nói là chuyện chiêm bao, cãi lại rằng: ở bên Pháp người ta dạy thương nước như thế, chớ bên này thì người ta không dạy như thế đâu. Hễ ai nói đến thương nước thì trong sổ kín của sở mật thám đã ghi tên vào rồi; họ cho là phản Tây làm loạn, như thế bảo người Nam không sợ sao được?

Việc đó tôi cũng đã biết chán, tôi xin thưa rằng cái lỗi ấy bởi ông cha ta để lại. Cái “dây xiềng sắt” ấy chính tay ông cha ta đã làm ra để buộc ta. Người ta nhân lấy đó mà cột mình, nào có phải người ta bày đặt ra hay là mang ở bên Pháp qua mà cột mình đâu! Họ làm như thế vì họ thấy mình không trả lời được. Nay mình trả lời như thế này thì họ cấm sao được: “Một nòi dân cùng một giọt máu xẻ ra, cùng một thứ tiếng nói, ở trong miếng đất mà ông cha nó đã đổ máu, đổ mồ hôi, đổ nước mắt để vỡ vạt ra, thành ra một nước lưu truyền từ bốn nghìn năm đến giờ, thì cho phép được hưởng quyền lợi trong miếng đất ấy, được sống ở đó chết chôn đó, giàu nhờ đó, nghèo nương đó, làm gì thì làm không ai cấm đoán được. Loài dân ấy không đến nỗi như dân Do Thái ở châu Âu, không đến nỗi như bọn hắc nô ở Mỹ châu đi tới đâu cũng bị chết chóc, thì cũng không khi nào chịu quên ơn miếng đất mà chúng nó thường gọi là “Tổ Quốc” của chúng nó bao giờ. Một loài như thế mà bảo chúng đừng thương “Tổ Quốc” thì bảo chúng thương ai?”. Nếu ta trả lời hẳn hoi như thế thì dầu gặp kẻ tàn bạo thế nào cũng không thể bỏ ta được. Thế thì sao ta không dám nói thương nước?

Cái thương nước tôi nói đây không phải là xúi dân “tay không” nổi lên, hoặc đi lạy nước này cầu nước khác để phá hoại trong nước đâu! Tôi xin thưa: Nước ta đã hư hèn bị mắc trong tay người ta rồi, thì bây giờ ta phải đem lòng thương nước, bênh vực lẫn nhau, mà giúp cho nhau để cứu chuộc lại cái danh giá cùng lợi quyền của ta về sau. Hễ người ta làm việc gì bất công thì mình phải hiệp sức nhau lại mà chống, còn làm việc gì phải chăng thì mình cũng phải nhìn nhận, chớ có thấy chính quyền mình mất rồi mà đem lòng căm tức không kể đến việc hay của người ta. Thế thì lòng thương nước của dân Việt Nam có làm gì hại đến quyền lợi người Pháp không? Tôi xin thưa rằng: không! Dân Việt Nam thấy người nào làm hại cho nước nó thì nó ghét, ấy là lẽ tự nhiên.

Theo ý tôi tưởng, chẳng qua dân Việt Nam mình hèn hạ nên người ta mới đè nén, nếu dân Việt Nam biết thương nước Việt Nam nhờ thì người ta tất cũng phải kiếm đường xúi giục cho người mình càng biết thương nước hơn, vì có biết thương nước mới biết chọn nước nào làm lợi, nước nào làm hại cho nó. Thương nước cho phải đường mới gọi là thương nước, nếu thương không phải đường thì đã không giúp gì cho ai mà lại còn làm hại sinh linh nữa. Nay ta nói thương nước, nhưng thương bằng lỗ miệng, nằm ỳ ra đó kêu người đến thì có khác gì đem đầu đi làm đầy tớ với anh khác. Tôi dám tưởng nếu người Pháp họ không cho ta thương nước, để ta nằm ỳ mãi ra đó thì đã không lợi gì mà lại khiến cho ta chán nản, không tội gì trung thành một cách vô ích với họ nữa, thế thì sự thương nước cũng có lợi cho người Pháp.

Tôi nói đây thật chưa hết nhưng đã dài lắm rồi, vậy xin anh em cho phép tôi tóm lại đoạn đã nói ở trên.

“Từ nay dân Việt Nam ta phải biết thương nước là tính tự nhiên trời đã phú cho, không thù nghịch gì với người Pháp. Phải có quốc gia luân lý in sâu vào óc thì sự ước ao tự do độc lập của dân tộc ta sau này mới thành tựu được. Tôi ở Pháp về mà nói như thế chắc anh em lấy làm lạ, vì nay người bên Âu châu đã đào sâu chôn chặt cái ái quốc chủ nghĩa rồi, nay tôi lại đem về tuyên bố trong dân gian hóa ra trái ngược với phong trào bên ấy lắm ru? Xin thưa rằng không phải.

Chúng ta phải biết rằng: “Một loài dân trong một nước cũng như bọn học trò trong trường học, phải có thứ lớp, phải tuần tự mà tiến tới, phải qua lớp dưới mới lên lớp trên, không bao giờ nhảy lớp được, nghĩa là phải do gia đình luân lý tiến lên quốc gia luân lý, rồi do quốc gia mà tiến lên xã hội vậy.” Thế thì chúng ta cũng phải bước qua cái nền quốc gia luân lý trong đôi ba mươi năm đã, rồi mới có thể mong tiến lên xã hội luân lý được.

***

Xã hội luân lý thật trong nước ta tuyệt nhiên không ai biết đến, so với quốc gia luân lý thì người mình còn dốt nát hơn nhiều. Một tiếng bè bạn không thể thay cho xã hội luân lý được, cho nên không cần cắt nghĩa làm gì.

Tuy trong sách Nho có câu: “Sửa nhà trị nước rồi mới yên thiên hạ”. Hai chữ “thiên hạ” đó tức là xã hội. Ngày nay những kẻ học ra làm quan cũng võ vẽ nhắc đến hai chữ đó nhưng chỉ làm trò cười cho kẻ thức giả đấy thôi. Cái chủ ý bình thiên hạ mất đi đã từ lâu rồi.

Cái chủ nghĩa xã hội bên Âu châu rất thịnh hành như thế, thế mà người bên ta điềm nhiên như kẻ ngủ không biết gì là gì. Thương hại thay! Người nước ta không hiểu cái nghĩa vụ loài người ăn ở với loài người đã đành, đến cái nghĩa vụ mỗi người trong nước cũng chưa hiểu gì cả. Bên Pháp mỗi khi người có quyền thế hoặc chính phủ lấy sức mạnh mà đè nén quyền lợi riêng của một người hay của một hội nào, thì người ta hoặc kêu nài, hoặc chống cự, hoặc thị oai, vận động kỳ cho đến được công bình mới nghe.

Vì sao mà người ta làm được như thế? Là vì người ta có đoàn thể, có công đức biết giữ lợi chung vậy. Họ nghĩ rằng nếu nay để cho người có quyền lực đè nén người này thì mai ắt cũng lấy quyền lực ấy đè nén mình, cho nên phải hiệp nhau lại phòng ngừa trước. Người ta có ăn học xét kỹ thấy xa như thế, còn nước mình thì sao? Người mình thì phải ai tai nấy, ai chết mặc ai! Đi đường gặp người bị nạn, gặp người yếu bị kẻ mạnh bắt nạt cũng ngơ mắt đi qua, hình như người bị nạn khốn ấy không liên quan đến mình.

“Đã biết sống thì phải bênh vực nhau” ông cha mình ngày xưa cũng đã hiểu đến. Cho nên mới có câu: “Không ai bẻ đũa cả nắm” và “Nhiều tay làm nên bộp.” Thế thì dân tộc Việt Nam này hồi cổ sơ cũng biết đoàn thể, biết công ích, cũng có góp gió làm bão, giụm cây làm rừng, không đến nỗi trơ trọi lơ láo, sợ sệt, ù lỳ như ngày nay.

Dân không biết đoàn thể, không trọng công ích là bởi bốn trăm năm trở về đây, bọn học trò trong nước mắc ham quyền tước, ham bã vinh hoa của các triều vua mà sinh ra giả dối nịnh hót, chỉ biết có vua mà chẳng biết có dân. Bọn ấy muốn giữ túi tham mình được đầy mãi, địa vị mình được giữ mãi, bèn kiếm cách thiết pháp luật, phá tan tành đoàn thể của quốc dân.

Dầu trôi nổi, dầu cực khổ thế nào mặc lòng, miễn là có kẻ mang đai đội mũ ngất ngưỡng ngồi trên, có kẻ áo rộng khăn đen lúc nhúc lạy dưới, trăm nghìn năm như thế cũng xong! Dân khôn mà chi! Dân càng nô lệ, ngôi vua càng lâu dài, bọn quan lại càng phú quý! Chẳng những thế mà thôi, “một người làm quan một nhà có phước”, dầu tham, dầu nhũng, dầu vơ vét, dầu rút tỉa của dân thế nào cũng không ai phẩm bình; dầu lấy lúa của dân mua vườn sắm ruộng, xây nhà làm cửa cũng không ai chê bai. Người ngoài thì khen đắc thời, người nhà thì dựa hơi quan, khiến những kẻ ham mồi phú quý không đua chen vào đám quan trường sao được. Quan đời xưa đời nay của ta là thế đấy! Luân lý của bọn thượng lưu, tôi chỉ mượn hai chữ thượng lưu nói cho anh em dễ hiểu mà thôi – ở nước ta là thế đấy!

Ngày xưa thì bọn ấy là bọn Nho học đã đỗ được cái bằng cử nhân, tiến sĩ, ngày nay thì bọn ấy là bọn Tây học đã được cái chức ký lục thông ngôn; có khi bồi bếp dựa vào thân thế của chủ cũng ra làm quan nữa. Những bọn quan lại đã nói ở trên này chỉ còn một tiếng chỉ đúng hơn là lũ ăn cướp có giấy phép vậy.

Những kẻ ở vườn thấy quan sang, quan quyền cũng bén mùi làm quan. Nào lo cho quan, nào lót cho lại, nào chạy ngược, nào chạy xuôi, dầu cố ruộng, dầu bán trâu cũng vui lòng, chỉ cầu được lấy chức xã trưởng hoặc cai tổng, đặng ngồi trên, đặng ăn trước, đặng hống hách thì mới thôi. Những kẻ như thế mà không ai khen chê, không ai khinh bỉ, thật cũng lạ thay! Thương ôi! Làng có một năm dân mà người này đối với kẻ kia đều ngó theo sức mạnh, không có một chút gì gọi là đạo đức là luân lý cả. Đó là nói người trong một làng đối với nhau, chí như đối với dân kiều cư ký ngụ thì lại càng hà khắc hơn nữa. Ôi! Một dân tộc như thế thì tư tưởng cách mạng nảy nở trong óc chúng làm sao được!

Xã hội chủ nghĩa trong nước Việt Nam ta không có là cũng vì thế (xã hội chủ nghĩa ở đây Phan Chu Trinh dùng theo nghĩa tinh thần và ý thức xã hội, khác với cụm từ XHCN của đảng CSVN-HVCD).

Nay muốn một ngày kia nuớc Việt Nam được độc lập thì trước hết dân Việt Nam phải có đoàn thể đã. Mà muốn có đoàn thể thì có chi hay hơn là truyền bá xã hội chủ nghĩa trong dân Việt Nam này.

Nói về đạo đức Âu châu và đạo đức Á Đông

Mới xem ngoài mặt thì ta đều cho dân Âu châu là một dân tộc háo thắng, độc ác, dữ tợn; nhưng không, ta lầm đấy, ta ở lâu mới thấy họ có nền đạo đức cao hơn ta nhiều. Nền đạo đức của họ cao hơn ta là nhờ họ đã thâm những tư tưởng tự do truyền bá từ đời Hy Lạp, La Mã trở xuống. Họ cũng trải qua một hồi chuyên chế nhưng dân khí họ không như dân khí ta. Dân khí của họ rất phấn phát, nguời của họ rất anh hùng. Càng chuyên chế bao nhiêu càng nẩy ra những nhà hiền triết làm ra sách để truyền bá tư tưởng trọng dân bấy nhiêu. Dẫu hành hình khổ sở cũng không làm họ khiếp sợ, cho nên tên tuổi của họ mới sống tượng đồng bia đá đến ngày nay. Anh em đây ai đã đi qua Paris một lần tất cũng đã xem thấy những cái hình đồng mấy nhà triết học chống lại với đạo Gia Tô vậy.

Nói đại khái thì về thế kỷ XVII như ông Jean Jacques Rousseau làm ra “Dân ước” (Contrat social), ông La Fontaine làm ra “Ngụ ngôn” (Fables), ông Montesquieu làm ra “Pháp ý” (L’Esprit des lois), ông Pascal, ông Voltaire v.v… đều là những tay kiếm hết cách mở cái chìa khóa chuyên chế để giúp đồng bào ra chỗ tự do. Tôi kể bấy nhiêu ông đó là chỉ tỏ rằng trong đời chuyên chế mà vẫn còn có người ra lo việc đời như thế, chí như đời bây giờ được tự do ngôn luận, được tự do xuất bản, được tự do diễn thuyết thì người ra lo việc nước, việc đời bên họ biết là bao nhiêu.

Đem so với Á Đông đời xưa duy có mấy ông trong đời Xuân Thu, Chiến Quốc bên nước Tàu như là ông Khổng, ông Mạnh, ông Mặc, ông Lão, ông Trang có thể ngang được với mấy ông kia, còn từ Tần trở về sau thì cả Á Đông cũng không có người như thế nữa, chớ đừng nói đến nước Việt Nam ta. Trong nước ta bây giờ có ông nào gọi là nhà đạo đức không? Nói xa hơn nữa thì trong triều nhà Lê có ông nào gọi là nhà đạo đức như mấy ông tôi đã kể không? Thế mà đời nào cũng có người được triều đình khen, được làm miễu thờ.

Rút lại, những tôi tớ nhà vua đã tôn lên thì không ai dám đè xuống, mà những kẻ vua đã đè xuống thì không ai dám tôn lên. Làm như thế thì trách nào những nhà đạo đức nước ta không chóng mất sao được? Người có tư tưởng tự do chẳng những ai cũng cho làm lạ, mà như vua thấy thế cũng sợ hại đến quyền chuyên chế của mình nên lập mưu đập chết đi. Ở trong một dân tộc như thế thì những đứa nịnh hót không càng ngày càng nhiều sao được? Ông Montesquieu có nói: “Dân sống dưới quyền chuyên chế của nhà vua thì chẳng biết gì là đạo đức cả, chỉ lấy thế vị lớn nhỏ làm danh dự mà thôi; duy dân chủ mới thật còn có đạo đức.”

Ấy, chúng ta muốn nước ta có nhà chân đạo đức thì nên nhân dịp này phá tan dây xích chuyên chế đã ràng buộc ta hơn nghìn năm nay và thu nhập tư tưởng tự do của Âu châu để làm một phương thuốc cho người nước ta vậy. Được như thế thì nhà đạo đức mới có thể xuất hiện trong đất nước này. Tôi không muốn thí dụ nhiều, tôi chỉ xin kể chuyện ông Trần Quý Cáp trong năm 1908 thì anh em sẽ biết chế động quân chủ ở nước ta có hại cho nhà có luân lý đạo đức là thế nào.

Ông Trần là người rất thảo thuận, học hành rộng, tính nết tốt, làm giáo thọ ở Nha Trang, chỉ theo việc bổn phận mình là ông thầy, khuyên dân mở thêm trường học mà bị tên Phạm Ngọc Quát bố chính ở tỉnh ấy, nhân loạn bắt ông, trong 24 giờ thì chặt đầu. Cái thảm trạng ấy há không phải ở quyền chuyên chế mà ra sao?

Đạo đức lớn ta không có đã đành, nay xin hỏi đạo đức nhỏ, tư đức của mỗi người, ta có hay không? Thưa rằng: Không! Một xứ đã bị chuyên chế thì tính chất gì thuộc về đạo đức cũng không thể nào sinh sản được.

Tôi thường thấy người mình, kẻ nào khôn hơn chút đỉnh, giao thiệp với người kém hơn chút đỉnh thuần chỉ nói dối. Đứa “ăn cắp có giấy” làm minh bạch đã xong mà đứa ăn cắp chưa cấp bằng cũng đều một mực như thế cả. Tôi xem thấy lắm người danh dự không bằng ai, học thức không hơn ai, mhắm lại mình chưa khỏi hai chữ “đầy tớ người” mà khi ra đối với người đồng bào đồng chủng đã có ý kiêu căng, bảo ta là thầy đây! Ta là ông đây! Chớ không có tự nghĩ cho rằng: Thầy đây, ông đây đã làm được điều gì ích lợi cho bọn “dân Việt Nam” tay lấm chân bùn kia chưa? Tôi cũng đã từng thấy nhiều người viết báo than thở rằng đạo đức luân lý nước nhà trụy lạc, nhưng nói như nước chảy lá môn chẳng có hiệu quả gì. Vì sao vậy? Là vì các ông nói mà các ông ít chịu thực hành thì người ta không dám theo các ông cũng phải (chữ in đậm do HVCD nhấn mạnh). Huống chi luân lý các ông giảng đó tự tệ tục của chính thể chuyên chế tạo nên, thành ra, không chính đáng, không hợp thời thì người ta không thèm nghe cũng không thấy gì làm lạ vậy.

Bây giờ ta đem đạo đức luân lý Âu châu về có gì chống với đạo Khổng Mạnh chăng?

Từ nãy đến giờ tôi chỉ trích luân lý của ta, khen ngợi luân lý Âu Tây, chắc anh em nghe lạ tai, cho tôi là người bội đạo Khổng Mạnh chăng? Xin thưa rằng từ khi tôi hiểu chút ít đạo đức của Khổng Mạnh thì tôi rất sùng bái lắm. Vẫn biết đạo Khổng Mạnh hay thật nhưng bây giờ ta biết kiếm nơi đâu? Qua Tàu đem về chăng? Kiếm trong các sách sử Việt Nam này chăng? Tưởng thắp đuốc tìm cũng không thấy nữa, là vì nước Nam, nước Tàu bỏ mất đạo ấy đã lâu rồi.

Đạo Khổng Mạnh không phải là cách chuyên chế của các nhà vua mà anh em đã mộng tưởng đâu. Đạo Khổng Mạnh dạy “quân dân tịnh trọng” (vua dân đều trọng) và rất bình đẳng; vua và dân đều cần đạo đức luân lý, nghĩa là dân phải kính trọng vua như cha mẹ mà vua cũng suy lòng đó mà yêu dấu dân như con đỏ vậy.

Trong sách Đại Học thầy Tăng Sâm dẫn lời đức Khổng rằng: “Tự thiên tử dĩ chí ư thứ dân nhất thị giai sĩ tu thân vi bổn”: Từ vua cho đến dân đều phải lấy việc sửa mình làm gốc. Sửa mình là việc lớn mà đức Khổng Tử buộc dân và vua đều phải như thế, chẳng là bình đẳng lắm ru? Cái chính thể ấy bên Âu châu thực hành đã lâu rồi, nghĩa là cái chính thể quân dân cộng trị mà Tàu dịch ra là quân chủ lập hiến vậy.

Hiện nay có nước Anh, nước Bỉ và nước Nhật đang theo chính thể ấy. Dân trí hai nước trên đã tiến tới nhiều, cho nên quyền vua cũng đã tiến giảm bớt nhưng dân cũng thương vua mà vua vẫn yêu dân. Nước Nhật thì có kém thua nhưng đã theo chính thể lập hiến thì trước sau rồi cũng tới nơi vậy. Đến đời ông Mạnh, các vua chư hầu chuyên chế thái quá thì ông lại xướng lên cái chủ nghĩa dân chủ. Như ông nói rằng: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Nghĩa là dân quý hơn hết, đất cát thứ nhì, vua là khinh. Ngày nay bên Đức, bên Pháp, bên Nga tuy chính thể của họ có khác nhau chút đỉnh nhưng cũng đều thực hành cái chủ nghĩa dân chủ cả. Thế thì cái văn minh Âu châu bây giờ có trái gì với đạo Khổng Mạnh đâu. Đức Khổng đã nói rằng: Vua phải thương dân, dân phải thương vua, song nếu vua không thương dân, dân phải làm sao? Tiếc thay! Ngài không dạy đến. Ông Mạnh cũng nói rằng: Dân quý mà vua khinh, nhưng ngày nay dân hỏi vua, vua bảo rằng vua quý mà dân khinh thì dân phải làm sao? Ông cũng không hề nói đến. Vậy cho nên từ khi Khổng Mạnh đã qua rồi thì dân Tàu cũng thế mà dân ta cũng thế, hễ họ vua nào hơn thì lấy được nước, họ vua nào thua thì mất nước; vua công bình thì dân theo, vua tàn bạo thì dân giết, thành ra đời nào bền lắm thì là mấy chục năm, thay đổi tranh giành gây ra lắm cuộc trị loạn làm cho giết hại lẫn nhau; cha giết con, con giết cha, anh giết em, em giết anh, vua giết tôi, tôi giết vua không còn gì là đạo lý luân thường nữa.

Đạo Khổng Mạnh đã mất rồi, nay ta muốn nước ta có một nền đạo đức luân lý vững vàng, thì có gì hay bằng ta hết sức đem cái chủ nghĩa dân chủ Âu châu về. Chủ nghĩa dân chủ chính là một vị thuốc rất thần diệu để chữa bệnh chuyên chế của nước ta vậy. Đem văn minh Âu châu về tức là đem đạo Khổng Mạnh về. Đạo Khổng Mạnh là đạo trung dung thường dùng như cơm nước thường ngày; như kính trọng cha mẹ; như thương người đồng loại, chớ không phải mê tín như các đạo khác. Thế thì đem văn minh Âu châu về đã không hại gì mà lại còn làm cho rỡ ràng đạo Khổng Mạnh ra.

Tôi nhắc lại một lần nữa rằng: “Đem văn minh đây là cái chân văn minh Âu Tây hòa hợp với chân Nho giáo ở Á Đông,” chớ không phải là tự do độc lập ở đầu lưỡi ở mấy anh Tây học lem nhem mà cũng không phải là quốc hồn quốc túy ngoài môi của các nhà Hán học dở mùa đâu.

Cứ theo lời tôi đã nói thì anh em đồng bào cũng hiểu rằng: vì học đạo Khổng Mạnh một cách lầm lạc như thế cho nên hơn nghìn năm nay hết thảy những nước theo đạo tà nho đều yếu hèn và phải mất một cách nhục nhã. Như nước Cao Ly, hễ Mãn Châu tới thì theo Mãn Châu, Mông Cổ tới thì theo Mông Cổ, đến khi Nhật Bản tới thì Nhật Bản lấy. Như nước Tàu thì nhà Tống mất bởi nhà Nguyên (Mông Cổ), nhà Minh mất bởi nhà Thanh (Mãn Châu). Chao ôi! Nước Tàu bị Mãn Thanh, Mông Cổ lấy nước, Cao Ly bị Nhật Bản lấy không phải là tội nơi những kẻ tà nho hủ bại của nước Tàu, nước Cao Ly đấy ư?

Một nước bao nhiêu triệu dân mà chỉ giao phó quyền chính cho một ông vua thì chẳng là ngu xuẩn lắm ư? Gặp được ông vua thông minh còn e lo chưa hết bổn phận thay, huống là gắp phải anh vua u mê làm ròng những sự độc ác, cấm dân có ăn học không được lo việc nước (chữ in đậm do HVCD nhấn mạnh), thì dân khốn khổ biết bao, và còn ai dám ra mà gánh vác. Một nhà không ai lo chủ trương, một nước không ai lo chủ trương, thì nhà nước ấy làm sao không tan không mất được.

Nước Tàu mà mất ấy, nước Cao Ly mà mất ấy cũng là lẽ tự nhiên, Nói đến nước ta lại càng đau đớn lắm nữa. Vua Lê Thánh Tông đem luật nhà Minh về chưa đầy 50 năm thì bị nhà Mạc đánh đổ. Nhà Trịnh lên khôi phục cũng chỉ có tiếng khôi phục đấy thôi, vua Lê cũng bị giết lên giết xuống, còn quân thần gì đâu, còn luân lý gì đâu! Đến vua Gia Long nhà Nguyễn thỉnh luật Càn Long về lại càng chuyên chế hơn nữa. Chưa đầy 80 năm đã bị mất nước một cách hèn hạ.

Mất nước một cách hèn hạ nhục nhã như thế há không phải tại vua tôi nhà Lê nhà Nguyễn đấy ư?

Mới đây Cao Ly đã thâu nạp được văn minh Âu Mỹ nên năm 1919 mới có cuộc độc lập vận động. Nước Tàu cũng thế, xướng ra việc bài ngoại vận động làm cho Anh Pháp đều phải nể mặt không dám hung hăng như ngày xưa. Xem như thế thì đủ biết rằng cái tư tưởng quốc gia đã nảy ra trong đầu người Tàu, người Cao Ly rồi vậy.

Người nước ta thì sao? Người nước ta vẫn còn say sưa trong giấc ngủ nghìn năm, chưa có chút gì gọi là giật mình mở mắt cả. Bọn già thì lo làm quan để kiếm tiền nuôi vợ con, bọn trẻ thì lo làm thầy đặng kiếm gạo nuôi miệng, ngoài cái lo xác thịt ra thì không có một tư tưởng gì khác. Lại thêm một bọn ra vênh mặt múa may tự xưng là ái quốc ái chủng, nhưng hỏi đến họ cách khuếch lợi, trừ hại, tự cường, tự lập thì họ ập ạ như người mơ ngủ, chỉ ngồi ngong ngóng mơ nước ngoài tràn vào mà thôi.

Dân tộc Nhật Bản được giàu mạnh như ngày nay là chỉ theo cái văn minh hình thức của Âu châu hay có sửa đổi gì luân lý không?

Người nước ta thường tự xưng là đồng loại, đồng đạo, đồng văn với Nhật Bản; thấy họ tiến thì nức nở khen chớ không khi nào chịu xét vì sao mà họ được tiến tới như thế? Họ chỉ đóng tàu đúc súng mà được giàu mạnh hay là họ còn trau dồi đạo đức, sửa đổi luân lý mới được như ngày nay? Ai có đọc đến lịch sử Nhật Bản mới biết họ cũng bồi đắp nền đạo đức của họ lắm. Từ lúc Minh Trị duy tân cho đến 24 năm sau hạ chiếu lập hiến trong nước Nhật biết bao nhiêu người lo khuynh Mạc Phủ lo lập hiến pháp, biết bao nhiêu kẻ đổ máu rát cổ mới gây dựng nên một nước tân tiến rất giàu rất mạnh như bây giờ. Tôi rất lấy làm lạ cho những người đã qua Nhật Bản về! Không biết họ qua bển làm gì!? Người ta có câu: “Gần mực thì đen gần đèn thì sáng”. Sao những kẻ sang Nhật sao không đem cái tốt về cho dân Việt Nam nhờ, mà chỉ làm giàu thêm cái tính nô lệ như thế? Rất đỗi những việc hèn hạ một người dân tầm thường không làm, mà những kẻ ấy cũng làm được hết thảy! Hay là đạo đức luân lý đã chết trong lương tâm của người mình rồi, cho nên không hấp thụ được đạo đức luân lý của người chăng? Hay là người mình như kẻ đã hư phổi rồi, cho nên một nơi có thanh khí như nước Nhật mà cũng không thở nổi chăng? Lấy lịch sử mà nói thì dân Việt Nam không phải là một dân tộc hèn hạ, mà cũng không phải là một dân tộc không thông minh, thế thì vì lẽ nào ở dưới quyền bảo hộ hơn 60 năm mà vẫn còn mê mê muội muội, bít mắt vinh tay không chịu xem xét, không chịu học hỏi lấy cái hay cái khéo của người?

Có người nói rằng tại Pháp họ đè nén mình không cho mình học làm súng ống, làm máy bay, tàu ngầm, nên dân mình mới ngô nghê như thế! Những người nói câu ấy là những người không học lịch sử Pháp hoặc có tính yêu mình thái quá, nên chỉ biết trách người mà không biết tự trách mình. Sao không nhớ khi Pháp sang, sợ mình theo Tàu, cho người mình sang Pháp học mà mình vẫn khư khư không chịu sang bên đấy ư? Người Pháp cho mình 2.000 khẩu súng, 5 chiến thuyền mà mình không dám thuê lấy một người Pháp trông nom, để lính mình làm xằng bậy mà hư hỏng hết đấy ư? Tôi nói thế không phải là khen người Pháp có lòng tốt, nhưng chỉ lối ngoại giao của người ta khôn khéo là thế, mà mình dở dang là thế, cho anh em đồng bào biết đấy thôi. Phải chi lúc đó ta biết nhân dịp sang nước người học tập lấy vài khéo của người ta, thì bây giờ so sánh tuy không kịp nước Nhật nhưng so với Phi Luật Tân, với Xiêm La cũng không đến nỗi xa lắc như thế này.

Ngày xưa nhắm mắt lại, một là văn minh Tàu, hai là văn minh Tàu, bị độc khoa cử làm mờ ám trí không đã đành, đến ngày nay đã hé mắt ra thấy người Tàu vận động nhiều việc rất to tát như gửi du học sinh khắp hoàn cầu, như bỏ quân chủ, lập dân chủ, mà cũng an nhiên bất động, nhất thiết chẳng biết gì là gì. Chẳng những thế mà thôi, lại còn mấy anh sang Tàu về nói láo, nói linh, chê người nọ, hạch người kia mà tự mình xem ra cũng không có bản lĩnh gì cho người ta đủ kính đủ phục. Có anh bạo gan chê cả Tôn Văn là người đại biểu văn minh cho nước Tàu đời nay, mà không biết rằng anh ta đem cái sự nghiệp của anh ta, cái tài năng của anh ta mà so sánh có bằng mảy may của Tôn Văn không? Những tính chất của người Tàu các anh không hề học đến, mà các anh khéo đem về một cái láu lĩnh và một cái bao tử trống mà thôi. Thế mà biết hồn luân lý đạp đức của người mình bị độc khoa cử giết chết, chỉ còn để nguyên lại một cái tính nô lệ thôi. Đạo đức mất trước, nước mất sau thật cũng không phải là lời nói ngoa vậy.

Có một vài người anh hùng không chịu đi xem xét, mê tín lịch sử đời xưa, trọng chủ nghĩ trung quân, chủ nghĩa phục thù, tìm mưu kiếm kế phỉnh phờ cho dân dậy lên, nhưng than ôi! Một con dao, một đoạn tre thì có làm gì. Cái nỗi thảm hại, đưa đầu ra cho người bắn, đem thịt ra cho người bằm nghĩ cũng đáng thuơng, nhưng công việc làm nào có ích gì! Chẳng qua làm cho dân đức của ta trụy lạc, khiến những bọn nô lệ kia, bọn vô sỉ kia lấy đó mà dọa nạt, mà hà hiếp dân lành thôi.

***

Luân lý của ta mất thì ta đem luân lý Âu châu về dùng hẳn có được không?

Có người hỏi luân lý của ta mất thì ta đem luân lý Âu châu về dùng hẳn có được không? Tôi xin trả lời rằng: không. Một nước luân lý cũ đã mất là nước không có cơ sở, nay bảo đem luân lý mới về thì biết đặt vào đâu?

Vẫn biết phép chắp cây của người Tây tài tình thật, nhưng nay đem một cây tươi tốt như cây luân lý ở các nước bên Âu Tây kia a mà chắp với một cây đã cằn cộc như cây luân lý ở nước Việt Nam ta thì tưởng không tài nào sinh tươi, quả tốt được. Muốn cho sự kết quả về sau được tốt đẹp, tưởng trước khi chắp cây cũng nên bồi bổ cho hai bên có sức lực bằng nhau đã. Tôi diễn thuyết hôm nay là cố mong anh em nên cứu chữa lấy cây luân lý cũ của ta, rồi đem chắp nối với cây luân lý của Âu châu vậy.

Luân lý của Âu châu có tốt trọn không? Ta muốn theo thì phải làm thế nào?

Nói rằng luân lý Âu châu tốt hơn thì tốt nhiều. Nói rằng luân lý Âu châu trọn tốt thì không dám nói rằng trọn được. Là vì: Dân tộc nào cũng thế, cắt nghĩa theo luân lý đạo đức thì dễ, nhưng làm theo luân lý đạo đức thì khó, không sao trọn vẹn được. Bên Âu châu họ cũng có nhiều cái dở, như nam nữ tự do thái quá, ly ly, hợp hợp, rất thường, thành ra đường sinh sản kém lần mà dân số không thêm; như giàu nghèo cách biệt thái quá, người ngồi không, kẻ cắm đầu làm, thành ra kẻ lao động, người tư bản xung đột nhau mà trong nước không yên. Mê tín quốc gia chủ nghĩa về đời trung cổ thái quá yêu nước mình, ghét nước người, cho nên phải mang họa chiến tranh mãi mãi. Trọng trí dục hơn đức dục, chuộng ngoại giao hơn thành thật, cho nên thường sinh ra xâu xé nhau mà mất sự thái bình. Ấy là kể sơ lược, chớ kể hết tưởng cũng còn nhiều lắm. Bệnh họ tuy nhiều nhưng họ đã có thầy có thuốc chữa ngay, nghĩa là có những nhà triết học, những nhà giáo dục lo ra trừ tệ, canh cải sửa sang cho nền đạo đức luân lý mỗi ngày mỗi cao lớn, tốt đẹp thêm, chớ không phải như mước ta tốt khoe, xấu che làm cho một ngày thêm một xấu. Vậy nay ta qua thâu cái luân lý Âu Tây để đem về truyền bá cho dân Việt Nam, thì ta phải nên chủ ý lắm, lừa lọc lắm mới được, những điều gì đáng đem về thì ta hãy đem.

***

Thưa các anh chị em đồng bào!

Tôi nói từ nãy đến giờ thật cũng nhiều rồi. Vậy xin anh em cho tôi nói tắt lại rằng: Ta đã biết nước ta mất cũng vì luân lý, dân ta hèn cũng vì mất đạo đức luân lý, bị người khinh bỉ dày xéo cũng vì mất đạo đức luân lý, thì ta phải cố sức sửa đổi luân lý, bồi đắp đạo đức của ta.

Anh em ta hãy gắng sức mà làm đi.

(Cử tọa đều vỗ tay. Cụ Phan uống hết tách nước, đứng lên nói thêm mấy câu):

Thưa anh em,

Tôi cũng biết rằng muốn khôi phục lại nền đạo đức của một nước mà trăm việc đều đổ nát như thế này, không phải là việc dễ. Nhưng nay ta bảo rằng khó, không khôi phục lại nền đạo đức cũ thì biết bao giờ mới mở mặt được với người. Tôi nói đạo đức cũ không phải nói con phải làm tôi mọi cho cha, vợ phải làm tôi mọi cho chồng, tôi phải làm tôi mọi cho vua đâu, mà chính là cái đạo đức trung dung của Khổng Mạnh, đem dùng vào đời nào, nước nào cũng được, không cổ, không kim, không đông, không tây, như tôi đã nói vậy. Đạo ấy ở trong câu: Sĩ khả sát, bất khả nhục (giết người học trò được, mà làm nhục thì không được), phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất, thử chi vị đại trượng phu (giàu sang không mê được lòng mình, nghèo hèn không đổi được chí mình, sức mạnh không buộc mình cúi đầu, được thế mới gọi là đại trượng phu) …

Nếu ta giữ được một ít đạo đức của ta, thâu thái một ít đạo đức của Âu châu đem điều hòa lại, rồi khuếch trương luân lý ta ra cho có quốc gia luân lý, nghĩa là khiến dân Việt Nam ai ai cũng đều biết nghĩa vụ đối với nước Việt Nam. Được như thế thì chẳng những được nước Việt Nam sau này được giàu mạnh, mà còn trong thế giới này bất kỳ dân nào muốn đến ăn chung ở đậu trên miếng đất này cũng không dám đem lòng khinh dễ ta như ngày nay nữa.

Phan Chu Trinh

[Bài diễn thuyết của cụ Phan Chu Trinh diễn tại nhà hội Việt Nam ở Sài gòn, đêm 19.11.1925]

CẢM NGHĨ CỦA MỘT NIÊN TRƯỞNG TRONG QLVNCH VỀ SỰ VIỆC “ĐỔI LỜI BÀI QUỐC CA…”

Để có nhiều tiếng nói trong cộng đồng chúng ta (tiểu bang Washington) chúng tôi lần lượt đưa lên những bài nói chuyện của nhóm chủ trương Bia Miệng và một số người có quan tâm đến những sinh hoạt cộng đồng . Chúng tôi kính mời quý vị nghe cảm nghĩ của ông Đặng Phùng Diễm về sự việc “Đổi lời Quốc ca VNCH để hát trong đêm vinh danh cờ VNCH tại nhà hàng Tea Palace”.

AUDIO XIN BẤM VÀO ĐỂ NGHE.



BÓNG ĐÈ,ĐẢNG ĐÈ HAY TÀU CỘNG ĐÈ ?

TS. Phan Van Song

November 1, 20100 Bình Luận

Đáp ứng lời mời gọi của một anh bạn trong nước, yêu cầu mình ở hải ngoại đọc và bình luận tập truyện Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu, đang là một best-seller trong nước.

Bóng Đè, tên tập truyện gồm 8 truyện ngắn của nhà văn nữ Đỗ Hoàng Diệu. Bóng đè là truyện thứ nhứt, được mang tên tập truyện, dài 33 trang, tác giả viết theo lối văn tự thuật của một phụ nữ vừa lấy chồng. Cô yêu chồng tha thiết, yêu chồng đam mê, yêu chồng tràn trề dục vọng, yêu và hút nhụy chồng mỗi đêm, vồ chồng, cào cấu chồng như “hổ cái”để rồi … mỗi buổi sáng cô nhìn chồng mà “tội nghiệp” (tr. 6). Người đàn bà đầy sức sống ấy cùng chồng về quê cúng giỗ cha chồng. Gia đình nhà chồng theo xưa, bàn thờ lớn dài, nhiều bát nhang cùng những bức trướng chữ Tàu khuất sau tấm màn đỏ. Hằng năm, gia đình nầy phải lo 16 lượt giỗ, nhưng khi làm cỏ mồ mả, cô mới khám phá ra chỉ có 11 mộ bia thôi, và cô cũng được biết gia tộc này có những cái chết oan ức, khủng khiếp: một bà cô em của ông bố hận tình trầm mình tự tử, không ai tìm thấy thi hài; hai ông chú đi biệt tích; hai ông khác, chỉ còn mấy đốt xương bằng đầu đũa được chôn chung một mộ; đặc biệt, ông nội bị đấu tố chết và ai đó đã ăn mất cái xác, chỉ còn sót vài sợi tóc bê bết máu vương trên chiếc cọc.

Tối đến, vì nhà thiếu phòng ngủ, hai vợ chồng phải nằm ngủ trên bộ ván dày – rất xưa, trải qua nhiều đời – kê trước bàn thờ, rồi trong đêm đó, cô vợ bị bóng đè! Bóng chẳng những đè mà còn hãm hiếp cô nàng. Bóng ấy thoạt đầu mơ hồ, lần lần hiện rõ hình một lão già Tàu tay dài chạm gối, đúng như lời người chồng từng hãnh diện kể về nguồn gốc dòng họ mình. Điều đặc biệt là cả nhà đều biết, anh chồng biết, bà mẹ chồng biết, cả cô em chồng cũng biết.

Câu chuyện chỉ có thế, nhưng nhiều ẩn dụ:

Cô vợ đầy sức sống kia phải chăng là nhơn dân Việt nam, dân chúng Việt nam, lấy anh chồng mà cô muốn, cô thèm khát … Sau chiến thắng Pháp và đánh cho Mỹ cút – theo như lời cộng sản rêu rao – dân chúng Việt nam có một số nào đó thèm khát hoặc bị bắt buộc phải lấy anh Đảng Cộng sản, một anh chồng đến “tội nghiệp “? Vì lấy chồng nên phải cúng giỗ tổ tông nhà chồng: 16 lần giỗ, sao lắm thế? Lễ Đảng cũng nhiều lắm! và các lễ cuối cùng nhục nhã là làm đại lễ 1000 Thăng Long để dâng đất cho dân Tàu (cả Trung Cộng lẫn Đài Loan).

Và lịch sử cũng như con đường đi của Đảng Cộng sản Việt nam chập chùng, không sao đếm hết chuyện chết người oan ức: người thì tự tử, kẻ đi mất tíchvà bị thủ tiêu, và bao trăm ngàn người chết vì đấu tố, có kẻ còn bị ăn thịt; anthropophagie? Ăn thịt người? Đảng Cộng sản là Đảng đã từng đấu tố và giết hại đồng bào mình, như vậy, không phải Đảng ăn thịt người thì là gì? Đảng Cộng Sản Việt nam anthropophage? Đúng quá! (tr.8)

Đêm về, cô vợ ngủ bị bóng đè: thoạt đầu mơ hồ, không rõ ràng (tr. 12/13), nhưng chắc chắn là cô bị hãm hiếp. Lần bị hiếp kế tiếp bởi một bóng đen hiện ra rõ ràng hơn (tr. 20/21) có: “tia nhìn xéo sắc lạnh, hàm răng hơi nhô đanh ác đầy quen thuộc”. Rồi lần sau nữa, bóng hiện nguyên hình một lão già Tàu (tr. 23):”… Đôi mắt liếc xéo của những người đàn ông dòng dõi đế vương Trung Hoa “; (tr. 30): “… Nó mang trong mình dáng hình của một lão già Tàu nào đó đầy quyền uy…”. Lão già Tàu đầy quyền uy, Đảng Cộng sản Tàu?

Phải hiểu rõ ràng cô vợ nhơn dân Việt nam đang bị anh Tàu Đảng Cộng sản Trung quốc đè mà anh chồng Đảng Cộng sản Việt nam bất lực đồng lõa chứng kiến. Vì anh chồng biết, vì anh chồng nhìn thấy (tr.19): “… chồng tôi còn thức, hai tròng trắng ươn ướt trừng trừng”; (tr. 32): “… Anh mở mắt, anh chứng kiến, anh vờ như không có chuyện gì … “.

Bà mẹ chồng cũng biết, bà mẹ chồng là hình ảnh các cựu đảng viên Đảng Cộng sản Việt nam thức tỉnh, đốt nhang, như bàn tán, như la ó muốn xua đuổi mà vô hiệu, đành thở dài: (tr. 21):”… Mẹ chồng tôi phẩy lia phẩy lịa nắm nhang khắp bàn thờ như điên dại …”. Phải chăng những cựu cán bộ về hưu, phục viên, phát nhang gần như điên dại để cảnh giác anh chồng Đảng Cộng Sản Việt nam. Tuy nhiên, giống như bà mẹ chồng, phần nào vẫn còn đồng lõa vì quá tuân thủ nền nếp gia đình (nền nếp của chủ nghĩa Cộng sản quốc tế). Còn thế hệ trẻ, cô Thắm, cô em chồng, cũng đồng lõa, (tr. 8): “Chị cúi đầu xuống đi …”. Tóm lại, cô Thắm thế hệ Cộng sản Việt nam mới, sợ cô vợ nhơn dân Việt nam đặt lại vấn đề (thà mất nước không mất Đảng).

Còn nạn nhơn, nhơn dân VN, cô vợ?

Cô vợ, cũng như nhơn dân Việt nam? bị Syndrome de Stockhom, cô vừa gớm, vừa sợ, nhưng lại vừa ghiền, ghiền được hãm hiếp (tr. 34): “… Tôi biết mình bị hãm hiếp trước bàn thờ tổ tiên nhà chồng, trước mặt chồng, nhưng tôi lại bồn chồn, mong nhớ, thậm chí khát thèm cái cảm giác ấy …”. Phải chăng những hiện tượng tình nguyện sắp hàng đi lấy chồng Trung hoa-Đài loan, Trung Cộng, là những syndromes de Stockhom? …

Phải, anh chồng Đảng Cộng sản Việt nam không bảo vệ cô vợ Nhơn dân Việt nam. Cô bị hãm hiếp rồi cô ghiền cảm giác bị hãm hiếp; mất Trường sa, mất Hoàng sa có sao đâu?! Mất vài trăm dặm vuông miền rừng núi, có sao đâu?! Mất một số lãnh hải, vài ngư phủ bị bắt, bị bắn, có sao đâu?! Tàu với Ta môi hở răng lạnh mà, vả lại, Trung quốc đã từng hết lòng bảo vệ Việt nam ta chống Mỹ cứu nước, cơ mà?!. Bà mẹ chồng, các cựu đảng viên mở mồm la lối, phản đối, đốt nhang xua đuổi nhưng chẳng đi đến đâu? Thế hệ trẻ, cô Thắm phải giữ truyền thống giỗ cho ra giỗ, cố giữ lấy lề.

Chỉ còn tý hy vọng: Mười ngón tay kỳ diệu của nạn nhơn, (tr. 36): “Bàn tay diệu kỳ không trọng lượng và cũng không chấp nhận, không đồng loã, không thoả hiệp mọi chuyện “… ngòi bút … ; … ly hôn … “Bàn tay mảnh dẻ cầm bút, bất lực với tự do đã nắm được ở đầu ngón tay nhưng bị trọng lượng thân thể buộc trói”. Phải chỉ có những bàn tay cầm bút, những văn nghệ sĩ, … những nhà đấu tranh dân chủ, Lê thị Công Nhân, Nguyễn văn Đài … những bloggers Điếu cày, Anh Ba, Mẹ Nấm… những Dương Thu Hương , những Hà Sĩ Phu, những Nguyễn Thanh Giang dám cầm bút, dám lên tiếng, viết nói… đứng lên, nhưng “bất lực với tự do đã nắm được ở những đầu ngón tay lại bị trọng lượng thân thể buộc trói “.

Chừng nào thân thể không còn trói buộc bàn tay nữa? Hỡi những bàn tay cầm bút, hỡi những bàn tay cầm búa, những bàn tay cầm liềm, những bàn tay kéo xe, những bàn tay mẫu tử săn sóc con thơ; đừng nuôi con chóng lớn để chúng phải làm cô dâu bị hiếp!

Chừng nào còn anh chồng Đảng Cộng sản Việt nam thì cô vợ nhơn dân Việt nam vẫn bị anh Tàu già Cộng sản Trung quốc hãm hiếp dài dài. Phải, (tr. 36) (bàn tay): “Nó đã thúc bách tôi ly hôn với Thụ (ông chồng). Vì nếu không “Chúng tôi (nhơn dân Việt nam) không biết chọn lựa (hay không được quyền chọn lựa), vì cơ thể chúng tôi (Nhà nước CHXHCN Việt nam) bị đòi hỏi những nhục cảm mà bóng tối (Đảng Cộng sản Trung quốc) ban phát … “(tr. 38).

Chừng ấy sẽ có ánh sáng (Cách mạng Dân chủ? Đa nguyên, đa đảng? Nhân quyền? Công lý? Pháp trị? …).

“Tôi đưa bàn tay mình ra sáng “. Đúng!: Phải đưa bàn tay của chúng ta ra ánh sáng. Và “Một bàn tay không béo gầy, không trọng lượng, chỉ có làn da mỏng tanh nhưng biết níu giữ TỰ DO cho dù thân thể buộc trói. Nắng tắt, mà bàn tay vẫn óng ánh diệu kỳ “(tr. 38).

Mong thay!

TS. Phan Văn Song

ĐỔI LỜI BÀI QUỐC CA VNCH TRONG ĐÊM VINH DANH CỜ VNCH Ở RENTON/WA LÀ MỘT XÚC PHẠM

Kính thưa quý độc giả,thính giả!

Bia Miệng có cuộc nói chuyện với anh Khúc Thừa Nhân ,anh là một người có kinh nghiệm trong sinh hoạt chính trị,sở dĩ có cuộc nói chuyện này vì chúng tôi muốn có một trung thực ,tiếng nói của anh Nhân là tiếng noi không phải người trong nhóm chủ trương Bia Miệng.Hơn thế nữa chúng tôi được biết anh Khúc Thừa Nhân là người rất thận trọng khi phát biểu,những gì anh biết rỏ mới dám nói,không biết hoặc biết sơ sơ thì không nói . Có hai vân đề trong cuộc nói chuyện này là.

1/ Sự kiện một vị Thượng Tọa ,ông Thích Tuệ Minh đã sửa đổi lời bài Quốc ca VNCH để hát trong đêm vinh danh cờ tại nhà hàng Tea Palace ở Renton tiểu bang Washington ngày 22 tháng 10 năm 2010 vừa qua.

2/ Về vấn đề các danh từ của văn bản mà các giới chức Mỹ vinh danh cờ VNCH như: Resolution (nghị quyết),Recognition(công nhận),Proclamation( tuyên bố,tuyên cáo…)

Kính mời quý vị bấm vào để nghe audio.


CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ CỦA PHAN CHÂU TRINH

Mai Thái Lĩnh

Mặc dù Phan Châu Trinh tự nhận mình là một “nhà hoạt động chính trị ở Vương quốc An Nam” (1), nhưng trong số các trước tác của ông, người ta lại chưa tìm thấy một tác phẩm nào trình bày một cách thật rõ ràng mục tiêu và phương hướng chính trị của ông. Chính chỗ thiếu sót đó đã khiến cho một số nhà nghiên cứu hiện nay tìm cách giải thích tư tưởng của ông theo chiều hướng “cải lương”: chỉ đánh giá cao ông như một nhà giáo dục, nhà văn hóa lớn (thậm chí một nhà cách mạng văn hóa) mà vô tình hay cố ý bỏ quên vai trò của ông với tư cách là một nhà hoạt động chính trị.

Tuy nhiên, nếu xem xét thật kỹ lưỡng các tác phẩm của ông để lại, chúng ta có thể tìm thấy những nét phác họa của một cương lĩnh chính trị được ẩn giấu trong bản thảo của một bài thơ.

Bài thơ dài 500 câu có tên là “Tỉnh quốc hồn ca II”, được sáng tác vào khoảng năm 1922, nhưng mãi đến đầu thập niên 1980 mới được công bố. Ở phần cuối của bài thơ, có một đoạn được đặt trong dấu ngoặc kép gồm 16 câu thơ, qua đó tác giả vạch ra một “dự án chính trị” hoàn toàn gắn kết một cách logic với những điều ông đã trình bày qua nhiều tác phẩm văn thơ hay bài phát biểu khác.(2) Bằng cách đối chiếu ngôn ngữ của Phan Châu Trinh với những khái niệm chính trị của ngày nay, tôi sẽ cố gắng giải mã bản cương lĩnh chính trị vắn tắt ấy, nhằm làm sáng tỏ mục tiêu, phương hướng chính trị mà nhà dân chủ hàng đầu của nước ta đã vạch ra vào đầu thế kỷ 20 – dựa trên kinh nghiệm của bản thân và thực tế của nền dân chủ Pháp.

Có thể điểm qua những nét lớn của dự án chính trị ấy như sau:

Mục tiêu trước mắt là đòi tự trị:

“Chánh tự trị bắt đầu hứa trước,

Định hạn kỳ phỏng ước mấy năm.

Chủ trương đã có chỉ nam,

Trăm điều tự khỏi lỗi lầm sai ngoa.”

Để có thể hiểu “chánh tự trị” là gì, chúng ta phải đọc lại một tác phẩm có tên là “Pháp-Việt Liên hiệp hậu chi tân Việt Nam” (Nước Việt Nam mới sau khi Pháp-Việt đã liên hiệp, có thể gọi tắt là Tân Việt Nam). Đây là một bản thảo chưa hoàn tất, được sáng tác trong quãng thời gian 1910-1911 nhưng chưa hề được công bố trước thập niên 1990. Một trong những lý do khiến Phan Châu Trinh không hoàn tất và công bố tác phẩm này có thể là do tác giả không muốn làm sứt mẻ uy tín của nhà yêu nước Phan Bội Châu – biểu tượng của cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam vào thời đó.

Trong tác phẩm này, Phan Châu Trinh viết: “Nay đem trong cả nước giả chia làm hai đảng: một là đảng cách mệnh, hai là đảng tự trị. Người phát khởi đảng cách mệnh là Phan Bội Châu, người phát khởi đảng tự trị là Phan Châu Trinh”. (3) Ở một chỗ khác, ông viết: “Nay thử đem trong nước giả chia làm hai đảng: một là đảng chủ trương chủ nghĩa bài Pháp độc lập, hai là đảng chủ trương chủ nghĩa cậy Pháp tự trị; nhưng tóm lại lúc bấy giờ thật chưa thành hình thức đảng phái”. (4)

Căn cứ vào các đoạn văn trên, chúng ta thấy rõ điểm khác biệt căn bản về mục tiêu chính trị và phương pháp đấu tranh giữa hai nhà yêu nước lớn của nước ta hồi đầu thế kỷ 20. Trong khi Phan Bội Châu chủ trương “bài Pháp” (đuổi Pháp) để giành độc lập thì Phan Châu Trinh lại chủ trương “ỷ Pháp” (dựa vào Pháp) để đòi tự trị. Nói cách khác, Phan Bội Châu coi giành độc lập, đánh đuổi thực dân Pháp là mục tiêu tiên quyết, phải giải quyết rốt ráo mục tiêu này trước khi giải quyết các vấn đề khác; còn Phan Châu Trinh lại chủ trương giành độc lập bằng hai giai đoạn: trước tiên đòi thiết lập chế độ tự trị, giai đoạn sau mới tính đến việc giành độc lập hoàn toàn. Có thể tóm tắt chủ trương của Phan Châu Trinh là “ỷ Pháp cầu tự trị” (dựa vào Pháp để đòi tự trị). <>

Thiết lập chế độ đại nghị:

Đòi tự trị đồng nghĩa với việc đòi quyền điều hành việc nước. Vấn đề cốt lõi của quy chế tự trị là thiết lập một chế độ đại nghị mà thiết chế trung tâm là một Nghị viện:

“Có Viện thay mặt quốc dân,

Có quan trách nhậm đại thần phụng công.”

“Viện thay mặt quốc dân” chính là Nghị viện hay Quốc hội do nhân dân bầu ra. Đây là cơ quan quyền lực cao nhất trong một quốc gia theo chế độ đại nghị (parliamentary system, régime parlementaire).

Nhưng nói “quan trách nhậm đại thần” (quan trách nhiệm đại thần) là có ý nghĩa gì?

Trong lá thư ngỏ gửi Vua Khải Định ngày 14/07/1922 (“Thư thất điều”), có một đoạn văn có thể giúp ta hiểu thêm về điểm này. Giải thích về vai trò của các ông vua trong các chế độ quân chủ lập hiến hoặc Tổng thống (Giám quốc) trong các chế độ cộng hòa ở châu Âu thời đó, Phan Châu Trinh viết:

“Còn theo các học thuyết Âu châu mà nói, sao gọi là nước? là hiệp dân lại mà thành nước; sao gọi là triều đình? là những người được uỷ quyền cho, phải thuận theo ý muốn của dân mà làm những việc lợi dân ích quốc.

Ông Vua hay là ông Giám quốc, chẳng qua là người thay mặt cho một nước, cũng như một người tổng lý thay mặt cho một hiệu công ty mà thôi.

Ai đã chịu cái trách nhậm (trách nhiệm) ấy, đã được hưởng cái lợi quyền, thì phải làm cho hết cái bổn phận mình đối với dân, đối với nước; nếu không thế, thì cũng phải bị phạt, bị tội như mọi người vậy.

Ấy, tự do, bình đẳng là nghĩa thế, mà các nước văn minh thì nay phải đặt quan Nội các Tổng trưởng (tức là Tể tướng) để thay quyền vua hay Giám quốc để chịu lỗi với dân là thế.” (5)

Qua đoạn văn này, ta có thể hiểu: ở các nước Âu châu thời đó, Vua hay Giám quốc (tức Tổng thống) tuy là nguyên thủ quốc gia, nhưng chỉ giữ vai trò tượng trưng cho chủ quyền quốc gia, chứ không có quyền hành lớn như Tổng thống ở Hoa Kỳ. Để giữ cho Vua hay Tổng thống khỏi dính líu đến công việc điều hành cụ thể và như thế có thể dễ dàng phạm sai lầm và bị bãi chức, người ta giao việc điều hành Chính phủ cho một người khác, nhằm “thay quyền vua hay Giám quốc để chịu lỗi với dân”. Nhân vật đó chính là “quan Nội các tổng trưởng”, tức là Thủ tướng. (6) Trong câu thơ nói trên, “quan trách nhiệm đại thần” chính là để chỉ chức vụ Thủ tướng.

Từ điển Đào Duy Anh giải thích “phụng công” là “chuyên lấy việc công làm trọng”. Hai câu thơ trên hàm ý: Nghị viện hay Quốc hội (Viện) thay mặt nhân dân cả nước (quốc dân), còn Thủ tướng (quan trách nhiệm đại thần) là người chịu trách nhiệm trước Nghị viện, và cho dù là người thuộc đảng phái nào, khi được cử nắm trọng trách đứng đầu cơ quan hành pháp, người này cũng phải lấy cái chung làm trọng (phụng công), không thể chỉ phục vụ cho lợi ích riêng của cá nhân, dòng họ, phe phái hay đảng chính trị của mình.

Mô hình của một chính phủ dân chủ trong đó Thủ tướng (người đứng đầu bộ máy hành pháp) do Nghị viện bầu ra và chịu trách nhiệm trước Nghị viện chính là mô hình được gọi tên là chính phủ chịu trách nhiệm (responsible government): chính phủ phải được sự tín nhiệm của Nghị viện và chịu trách nhiệm trước Nghị viện. Trong trường hợp bị Nghị viện bất tín nhiệm thông qua một cuộc biểu quyết bất tín nhiệm (vote of non-confidence) hoặc Thủ tướng không giành được đủ số phiếu trong một cuộc biểu quyết tín nhiệm (vote of confidence), chỉ có hai giải pháp: hoặc Thủ tướng từ chức, hoặc Thủ tướng giải tán Nghị viện để tiến hành bầu lại một Nghị viện khác.

Mô hình đó chính là thể chế chính trị của nước Anh quân chủ lập hiến, và cũng là thế chế chính trị của nước Pháp dưới thời Đệ Tam Cộng hòa (Troisième République) – thời mà Phan Châu Trinh sống lưu vong tại Pháp. Vào thời đó, Tổng thống Pháp do Nghị viện bầu (chứ không phải do toàn dân bầu) và không trực tiếp tham gia vào bộ máy hành pháp như dưới thời Đệ Ngũ Cộng hòa (Cinquième République). (7)

Xây dựng chế độ pháp trị:

Phan Châu Trinh chủ trương áp dụng luật của nước Pháp thay cho luật pháp cũ (mô phỏng theo luật pháp của Trung Quốc):

“Pháp luật dựa Lang sa làm chủ,

Lợi quyền cùng nghĩa vụ cho cân.”

Tại sao pháp luật phải dựa vào Lang sa (tức nước Pháp)? (8) Trong bản kiến nghị đề ngày 04/06/1911 nói “về các điều luật và về việc thành lập toà án bổ sung”, ông viết: “Ở Đông Dương, cái tổn hại tồi tệ nhất là ở chỗ quyền hành chính và quyền tư pháp ở trong cùng một tay; vì vậy dù quan có làm hại dân, dân cũng không dám nói gì; nếu có ai dám chống lại thì tội vạ sẽ đến ngay: nhẹ thì phạt tiền hoặc khổ sai, nặng thì bị đi đày hay bị chém; đó là nguyên do sự ta thán của dân”. Do đó, ông đề nghị: “cho cải tổ lại luật pháp, lập các toà án bổ sung và phân quyền: các quan chức ngạch hành chính lo việc cai trị, quan chức ngạch tư pháp coi xử việc pháp luật. Làm như vậy, những thiệt hại mà dân chúng phải gánh chịu sẽ ngày càng bớt đi”. (9)

Trong bài trả lời phỏng vấn dành cho nhà báo E. Dejean de la Bâtie vào hạ tuần tháng 6 năm 1925, so sánh luật pháp của nước Pháp với luật pháp của Nam triều (nhà Nguyễn), ông nhận xét như sau: “Luật pháp của Pháp cho tất cả mọi người, bởi vì với nó, người ta biết phải làm gì. Nó giống như một đường xe lửa, chỉ cần đi tránh ra ngoài đường ray thì sẽ khỏi bị tàu cán phải. Nhưng ở Trung Kỳ thì chính quyền Pháp nấp đằng sau một thứ chính quyền An Nam giả hiệu. Nó hành động không trách nhiệm. Tôi lấy lại ví dụ của tôi: thay vì một đường sắt, thì người ta đã cho chúng ta một chiếc ô tô, có thể không cần biết luật lệ đi đường, đuổi theo và cán chết chúng ta tuỳ thích”. (10)

Như vậy, sở dĩ ông muốn dựa vào luật pháp của nước Pháp để xây dựng luật pháp của nước ta là nhằm để xác định một cách cân phân giữa nghĩa vụ và quyền lợi, tạo ra một hành lang pháp lý minh bạch, khiến cho người dân yên tâm, không còn phải chịu đựng một thứ luật pháp co giãn một cách tùy tiện, tùy hứng và tùy ý thích của những kẻ nắm quyền lực.

Trong một bài nói chuyện tại Sài Gòn vào năm 1925, Phan Châu Trinh đã công khai tán dương chế độ pháp trị – mà ông gọi là dân trị, và nói rõ sự khác biệt giữa pháp trị với nhân trị như sau:

“Nhân trị nghĩa là cái phép luật (pháp luật) thi hành rộng rãi hay là nghiêm nhặt tuỳ theo cái lòng vui, buồn, thương, ghét của một ông Vua mà thôi, còn phép luật (pháp luật) tuy có cũng như không”. (11)Trong khi đó: “dân trị tức là pháp trị. Quyền hạn và bổn phận của mỗi người trong nước, bất kỳ người làm việc nhà nước hay là người thường, đều có pháp luật chỉ định rõ ràng, không khác gì là đã có đường gạch sẵn, cứ trong đường ấy mà đi, tự do muốn bước tới bao nhiêu cũng được, không ai ngăn trở cả. Chỉ trừ khi nào xâm lấn đến quyền hạn của người khác thì không được mà thôi”. (12)

Nói tóm lại, chủ trương của Phan Châu Trinh là xây dựng một chế độ pháp trị, cai trị dựa trên luật pháp minh bạch chứ không dựa trên ý chí tùy tiện của cá nhân, phe nhóm hay đảng phái chính trị nào.

Thực hiện các quyền tự do căn bản:

Mục đích của chế độ tự trị là để nhân dân được làm chủ về mặt chính trị (được vào vòng chánh trị), tức là thực hiện các quyền tự do của công dân, trong đó đáng chú ý nhất là ba quyền tự do căn bản: tự do hội họp và lập hội (hội hè), tự do tư tưởng (suy nghĩ), tự do ngôn luận và báo chí (nói năng):

“Để ta được vào vòng chánh trị,

Từ hội hè, suy nghĩ, nói năng. “

Nói cách khác, song song với việc quyền lực chính trị được trao lại cho dân (nhân dân trực tiếp bầu ra cơ quan quyền lực cao nhất) là một quá trình hình thành một xã hội dân sự trong đó người dân được thực thi các quyền tự do căn bản nhất – những quyền tự do làm đầu mối dẫn đến tất cả các quyền tự do khác, mà ngày nay ta thường gọi chung là quyền con người (nhân quyền). Trong tư duy chính trị của Phan Châu Trinh, chúng ta thấy dân chủ luôn gắn liền với tự do, không hề có chút manh mối nào của thứ tư duy ngụy biện một mặt thì nói đến dân chủ nhưng mặt khác lại cố phủ nhận các giá trị chung của nhân quyền.

Từ chế độ quân chủ đi đến chế độ dân chủ là cả một bước nhảy vọt về chất, là một sự thay đổi đối với tập quán đã ăn sâu cả ngàn năm, là đi từ thân phận nô lệ của thần dân đến địa vị của công dân – người làm chủ xã hội. Cho nên dân ta phải đi từng bước, tiệm tiến và phải nhờ đến kinh nghiệm dân chủ của nước Pháp:

“Cũng nên hạn chế có ngằn,

Dắt tay ta để lần lần cho theo”.

Vào thời điểm Phan Châu Trinh viết những dòng thơ này (năm 1922), hầu hết các nước châu Á – kể cả Nhật Bản, vẫn chưa có được một nền dân chủ đúng nghĩa, và ngay cả ở các nước Âu-Mỹ, chế độ dân chủ cũng chưa phát triển thành thục và xác lập được vị trí vững chắc như ngày nay. Trong khi đó, hầu hết các lãnh tụ chính trị và các nhà tư tưởng của các quốc gia Á, Phi, Mỹ la-tinh lại chỉ chú ý đến chủ nghĩa dân tộc, cao lắm cũng chỉ nói đến chế độ dân chủ, rất ít người thật sự quan tâm đến các quyền tự do căn bản của người dân. Điều đáng ngạc nhiên là nhà yêu nước đất Quảng Nam mặc dù xuất thân là một nhà Nho, lại có thể tiếp thu một cách sâu sắc chủ nghĩa tự do (liberalism, libéralisme), không chỉ nhấn mạnh đến thể chế dân chủ (Nghị viện đại diện cho dân, Thủ tướng chịu trách nhiệm trước Nghị viện), lại còn quan tâm đến các quyền tự do căn bản của người dân. Nhưng nếu nhìn lại toàn bộ quá trình hoạt động và phương pháp đấu tranh của ông (khai dân trí, chấn dân khí, tổ chức các hiệp hội, vận động quần chúng đấu tranh bằng phương pháp bất bạo động), thì chúng ta thấy điều này hoàn toàn hợp logic.

Mặc dù không phải là một nhà lý luận chính trị, không có điều kiện nghiên cứu sâu về các khái niệm chính trị học, nhưng qua hoạt động thực tiễn, Phan Châu Trinh đã tìm ra một đường lối xây dựng dân chủ từ bên dưới, xây dựng cái mà ngày nay chúng ta gọi là xã hội dân sự, để từng bước nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí, nhằm đạt được mục tiêu cao nhất là chuyển quyền làm chủ chính trị từ nhà vua sang tay nhân dân.

Xã hội dân sự chính là nền tảng vững chắc của một chế độ đại nghị; ngược lại thiết lập chế độ đại nghị chính là tạo ra những thiết chế dân chủ nhằm bảo đảm một cách đầy đủ các quyền tự do căn bản của nhân dân. Dân chủ gắn liền với mở rộng tự do và mở rộng tự do là để củng cố chế độ dân chủ. Đó chính là điều kiện bảo đảm cho một nền dân chủ có thực chất, không chỉ là dân chủ hình thức và không chỉ thu hẹp trong phạm vi của một thiểu số có đặc quyền, đặc lợi.

Về thời hạn thực hiện chế độ tự trị

Theo Phan Châu Trinh, không cần đòi hỏi nhanh hay chậm, mục tiêu chính là để người dân nước ta có thể tập dần dân chủ cho đến khi đạt được chế độ dân chủ thật sự, thay thế chế độ quân chủ bằng chế độ dân chủ:

“Niên hạn chẳng kì kèo lâu chóng,

Cốt cho ta hiệu phỏng tinh thần.

Quyền vua đổi lấy quyền dân,

Chánh cang trước phải vài phần khai minh”.

Việc mô phỏng (hiệu phỏng) tinh thần dân chủ của nước Pháp là nhằm đạt được sự thay đổi về quyền lực tối cao: quyền tối cao từ chỗ thuộc về nhà vua hay hoàng tộc sẽ chuyển sang tay nhân dân. Và để đạt cho được mục đích này, trước tiên cần phải làm sáng tỏ (khai minh) vài phần của chính cương (chánh cang). Theo Từ điển Đào Duy Anh, “chính cương” là “mối giềng về chính trị”. Đó là một từ thường được dùng ở nước ta vào thời đó, tương đương với cụm từ programme politique trong tiếng Pháp hay political platform trong tiếng Anh, thường được dịch là cương lĩnh chính trị.

Điều đáng lưu ý là trong bản cương lĩnh chính trị này, Phan Châu Trinh vẫn không đặt vấn đề vai trò của nguyên thủ quốc gia (nhà Vua hay Tổng thống).

Có thể giải thích bằng hai giả thuyết:

Một là: Phan Châu Trinh vẫn mở ngỏ cho con đường quân chủ lập hiến: nếu Vương triều nhà Nguyễn đồng ý đi theo con đường lập hiến thì Vua sẽ đóng vai trò nguyên thủ quốc gia. Nhà Vua lập hiến hay Tổng thống theo kiểu nước Pháp thời đó tuy là nguyên thủ quốc gia nhưng vẫn chỉ giữ vai trò tượng trưng, quyền hành rất hạn chế; quyền lập pháp phải được giao cho Nghị viện, và quyền hành pháp được giao cho một Thủ tướng chịu trách nhiệm trước Nghị viện.

Giả thuyết thứ hai liên quan đến đề nghị tiếp theo của ông về một liên minh chính trị mà ông gọi là Liên hiệp Pháp-Việt. Trong khuôn khổ của một chế độ tự trị (dominion), nguyên thủ quốc gia có thể chính là nguyên thủ của chính quốc – tức là Tổng thống Pháp, như trường hợp Vua hay Nữ hoàng Anh đóng vai trò nguyên thủ quốc gia của một số nước như Canada, Úc hay New Zealand, v.v.

Xây dựng liên minh chính trị giữa hai nước Pháp và Việt Nam:

Phan Châu Trinh có ý định thay mặt cho nhân dân Việt Nam để đề nghị với nước Pháp dự án chính trị này. Do đó, ở phần trước của đoạn thơ 16 câu nói trên (13), ông thay mặt cho nhân dân Việt Nam bày tỏ đề nghị với nhân dân Pháp:

“Nay trộm phép tỏ tình đại biểu,

Cả tiếng kêu mấy triệu Lang sa;

Hỡi xin mở lượng hải hà,

Ra tay tế độ con nhà An nam”.

Nhưng để thực hiện đúng theo trình tự pháp lý, dự án chính trị này phải được chính thức thông qua hai “sam” (14) (tức hai Viện của Nghị viện Pháp) và chuyển lên cho Giám quốc (Tổng thống Pháp) phê chuẩn:

“Xin trên dưới hai “sam” hiệp mặt,

Định phương châm cho chắc một bề.

Dâng lên Giám quốc thủ phê,

Hỡi xin kể thử vấn đề như sau:”

Có thể coi bản cương lĩnh này là một dự án chính trị mà ông định đề nghị với nhân dân và Nhà nước Pháp. Tất nhiên, để có thể trở thành một dự án có khả năng thực thi, ông phải tìm cách truyền bá trong nhân dân để được mọi người chấp nhận, và nhất là phải thuyết phục được phái bạo động – mà người đứng đầu là Phan Bội Châu.

Theo tác giả của dự án chính trị, nếu Nhà nước Pháp chấp nhận dự án này thì phía Việt Nam sẵn sàng chấp nhận một Liên hiệp Pháp-Việt, trong đó Việt Nam coi nước Pháp là “thầy” và Liên hiệp này sẽ là một liên hiệp bền vững giữa hai quốc gia Á và Âu:

“Được như thế thỏa tình ao ước,

Nghĩa thầy trò sau trước yếm âu.

Lợi quyền chung chạ dài lâu,

Trắng vàng một họ, Á Âu một nhà”.

(15) Như Phan Châu Trinh đã nhấn mạnh trong một lá thư gửi cho một du học sinh, khái niệm “thầy-trò” mà ông sử dụng có nghĩa là thầy dạy và học trò, hoàn toàn không có nghĩa là “thầy-tớ” (chủ-tớ). Ông hoàn toàn không chấp nhận quan hệ chủ-nô. Trong khi coi nước Pháp là quốc gia dân chủ đi trước cần học hỏi kinh nghiệm, ông hoàn toàn bác bỏ chế độ thực dân coi thuộc địa như một thân phận nô lệ.

Một liên hiệp chính trị như vậy sẽ giúp cho cả hai nước vượt qua được hận thù trong quá khứ để xây dựng hòa bình:

“Một tung hô Lang sa vạn tuế,

Hai tung hô vạn tuế Việt nam.

Sao cho hai nước đồng tâm,

Bỏ ca trường hận chép ngâm thái bình.”

Sở dĩ Phan Châu Trinh tin vào con đường này là vì ông tin vào chế độ dân chủ ở Pháp, vào những người Pháp có tư tưởng cởi mở ở Đông Dương và ngay tại chính quốc, chứ ông không tin vào “giặc Pháp” (tức thực dân Pháp, colonialistes) như một số người thường xuyên tạc. Trong thâm tâm, ông vẫn tin tưởng vào phong trào cánh tả ở Pháp – chủ yếu là cánh tả ôn hòa, mà tiêu biểu là Đảng Cấp tiến (Parti radical) và nhất là Đảng S.F.I.O. – tiền thân của Đảng Xã hội (Parti socialiste) ngày nay.

Mặc dù là một nhà nho, là người dân của một nước bị đô hộ, Phan Châu Trinh không hề có tư tưởng bài ngoại. Ông phân biệt rất rõ: nhân dân Pháp tại chính quốc hoàn toàn khác với thực dân Pháp mà người ta thường thấy ở thuộc địa:

“Nghĩa đồng bào, tự do bác ái,

Lòng Lang sa rộng rãi biết bao;

Các anh thuộc địa lòng nào?

Làm hùm làm hổ khác nhau lạ lùng!”

(16) Lòng tin đó không chỉ là kết quả suy ra từ lý luận, mà còn là bài học được rút ra từ thực tế. Chính là nhờ những người Pháp có đầu óc cấp tiến tại Đông Dương như ký giả Babut, đại úy Roux, hoặc các chính khách cánh tả tại Pháp như Francis Pressensé, Marius Moutet, v.v… mà ông đã hai lần thoát khỏi cảnh tù ngục. Lòng tin đó hoàn toàn dựa trên kinh nghiệm thực tiễn của một nhà hoạt động chính trị đã từng bị tù tội chứ không phải chỉ là lòng tin ngây thơ hay xốc nổi.

Như thế, ta thấy Liên hiệp Pháp-Việt mà Phan Châu Trinh đề ra là một giải pháp “giành độc lập bằng con đường bất bạo động”, một giải pháp đấu tranh chính trị dựa vào sức dân là chính, chứ không phải là đường lối xin xỏ dân chủ, cầu xin độc lập hay “xin giặc Pháp rủ lòng thương”, như nhận định sai lầm và xuyên tạc của một số người có ác ý.

* * *

Mặc dù bản cương lĩnh chính trị này đã bị bỏ quên trong một thời gian dài, nhưng ngày nay khi đọc lại, chúng ta không khỏi ngạc nhiên vì tính chất thời sự của nó. Tạm gác vấn đề “Liên hiệp Pháp – Việt” để dành lại cho một dịp khác, trong bài viết này tôi tập trung chủ yếu vào những mục tiêu thuộc lĩnh vực “nội trị”. Đối chiếu với tình hình thực tế hiện nay, chúng ta dễ dàng nhận thấy một điều: mặc dù đã bước sang thế kỷ 21, chưa có mục tiêu nào trở thành hiện thực trên đất nước của chúng ta.

Chỉ nói riêng về ba quyền tự do căn bản (tự do tư tưởng, tự do ngôn luận và báo chí, tự do hội họp và lập hội), cho đến nay Đảng Cộng sản vẫn bằng cách này hay cách khác tìm cách hạn chế đến mức tối đa, không cho phép người dân thực thi. Mặc dù về mặt hình thức, Việt Nam đã có Quốc hội và Thủ tướng, nhưng Quốc hội không do dân bầu ra mà do Đảng cử trước, dân bầu sau. Trong thực tế, người dân chỉ được bầu phiếu tín nhiệm hay chọn lựa trong số những người mà Đảng đã chọn lựa trước – thông qua một hình thức phản dân chủ được mệnh danh là hiệp thương. Quá trình hiệp thương này được điều hành bởi Ủy ban Mặt trận Tổ quốc – một tổ chức không do dân bầu ra nhưng lại được trao quyền chọn lựa, sàng lọc danh sách ứng cử viên. Kết quả của quá trình đó là một Quốc hội không đại diện cho dân mà chỉ nhân danh nhân dân để đại diện cho Đảng. Thủ tướng đáng lẽ là người do Quốc hội bầu ra và chịu trách nhiệm trước Quốc hội, trong thực tế lại do Đảng cử ra và chịu trách nhiệm trước Đảng.

Bộ Chính trị – cơ quan quyền lực cao nhất trong nước, hành xử hoàn toàn ngoài phạm vi của pháp luật, bởi lẽ cho đến nay không có bộ luật nào tại Việt Nam quy định quyền hạn, trách nhiệm của Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Và cũng vì thế, không một người dân nào, không một tổ chức chính trị hay xã hội nào có quyền kiện Bộ Chính trị.

Quyền uy của Bộ Chính trị chẳng khác nào quyền uy của một Thiên tử dựa trên Thiên Mệnh (Mạng Trời), nhân dân không được quyền bàn đến. Điều trớ trêu là mỗi khi bị chất vấn trước Quốc hội, Thủ tướng hay Phó Thủ tướng chỉ cần nêu lý do “đây là đường lối của Đảng, là chủ trương của Bộ Chính trị”, lập tức tất cả các đại biểu Quốc hội đều im tiếng, chẳng khác nào các quan lại của thời Trung cổ phải chắp tay bái lạy trước phán quyết sau cùng của đấng quân vương – cho dù đó là phán quyết tùy tiện, bốc đồng.

Gần đây, một số cán bộ hưu trí (trong đó có ông cựu Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc) do bức xúc trước tình hình các cấp lãnh đạo của Đảng chà đạp lên luật pháp, đã đề xuất việc hình thành luật về Đảng. Mặc dù những người đề xuất giải pháp này tỏ ra có thiện chí, nhưng xem ra về phía người dân, không mấy ai tin tưởng vào tính khả thi và hiệu quả của nó. Thử hỏi cơ quan nào sẽ soạn luật về Đảng và sau đó, cơ quan nào có đủ khả năng kiểm tra, giám sát và xử lý các vi phạm? Do đó, có thể coi đây là một sáng kiến mang tính lãng mạn và không tưởng. Ý nghĩa của giải pháp này thực ra là “Đảng tự đặt ra luật cho chính mình, tự kiểm tra và tự xử lý chính mình”. Và cũng tựa như lời thề trước Trời Đất của các đấng “thiên tử” đời xưa, một khi họ nuốt lời, người dân chẳng còn cách nào khác hơn là ngửa mặt lên trời mà thốt lên hai tiếng: “Trời ơi!”.

Có thể nói sau khi đã lật đổ chế độ quân chủ của nhà Nguyễn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lén lút tái lập một cơ quan quyền lực tương tự như Hội đồng Cơ mật (Privy Council) của thời quân chủ – một cơ quan quyền lực không do dân bầu ra và hoạt động hoàn toàn bí mật, vượt khỏi tầm kiểm soát của nhân dân. Chính cơ quan này (Bộ Chính trị) đã vô hiệu hóa cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất (tức là Quốc hội) và đôi khi biến Thủ tướng và Chính phủ trở thành hữu danh vô thực. Trong tình hình “người có trách nhiệm lại không có quyền, người có quyền lại không có trách nhiệm” thì nói đến “Nhà nước pháp quyền” chẳng qua cũng chỉ là dùng lời lẽ đường mật để lừa gạt một đứa trẻ con. Hiến pháp hay luật pháp còn có ý nghĩa gì khi một số người nắm quyền lực trong thực tế lại lọt ra ngoài vòng luật pháp, đứng trên pháp luật?

Điều đáng nói là toàn bộ nội dung của cương lĩnh chính trị mà Phan Châu Trinh trình bày qua 16 câu thơ nói trên mặc dù đã được viết cách đây gần một thế kỷ, nhưng nội dung của nó không hề lỗi thời mà ngược lại, có thể được coi là quá mới mẻ, quá táo bạo đối với phần lớn các nước Á, Phi và Mỹ Latinh hiện nay. Lý do căn bản là sự trỗi dậy của phong trào giải phóng dân tộc và độc lập dân tộc trong suốt thế kỷ 20 đã dẫn đến kết quả hầu hết các nước thuộc địa và lệ thuộc đều được giải phóng, nhưng độc lập dân tộc đã không đem lại tự do cho mỗi công dân và cũng không đem lại được những chế độ dân chủ đích thực. Tại các quốc gia mới hình thành, sự phấn khởi tự hào do nền độc lập đem lại đã nhanh chóng tan biến dưới các chế độ độc tài bị che đậy bằng nhiều thủ đoạn cưỡng bức và đàn áp tinh vi. Các toàn quyền, thống đốc da trắng ra đi nhường chỗ cho các “toàn quyền, thống đốc người bản địa” luôn miệng nói dân chủ nhưng quyết tâm giành lấy địa vị ăn trên ngồi trốc, nhân danh dân tộc và dựa vào thành tích chống thực dân như một lý lẽ biện minh cho việc họ có độc quyền nắm quyền lực chính trị, chẳng khác gì các triều đại quân chủ ngày xưa căn cứ vào Mạng Trời hay công lao dựng nước, giữ nước để giành quyền thừa kế cho dòng họ, con cháu của mình. Thuyết Thiên Mệnh và các nghi thức cổ truyền bị phá bỏ để nhường chỗ cho những nghi thức mới hiện đại hơn, nhưng bản chất độc tài, chuyên chế thì không có gì thay đổi, thậm chí trên một số mặt còn tệ hại hơn so với các chế độ quân chủ truyền thống.

Chính trong hoàn cảnh đó, bản Cương lĩnh chính trị của Phan Châu Trinh trở thành bài học sống động đối với những người còn ưu tư với vận mệnh của đất nước. Hơn bao giờ hết, chúng ta nhận thức được tính cấp bách của công cuộc duy tân cần phải tiến hành trong những thập niên đầu thế kỷ 21 này. Công cuộc duy tân đó phải bắt đầu bằng việc cải cách hệ thống chính trị theo hướng dân chủ tự do, bởi vì Nhà nước và hệ thống chính trị hiện nay chính là khâu yếu nhất, là sản phẩm lạc hậu, cổ hủ mà Đảng Cộng sản đã áp đặt lên xã hội ta, làm trì trệ sự phát triển về mọi mặt. Không thay đổi được hệ thống chính trị đó thì cho dù có áp dụng những biện pháp khoa học – kỹ thuật tiên tiến, những phương pháp quản lý kinh tế hiện đại, đất nước ta cũng không có hy vọng cất cánh hay hóa rồng được. Không thay đổi được hệ thống chính trị đó thì tất cả những chỉ tiêu phát triển cho dù có giành được cũng chỉ nhằm phục vụ cho một thiểu số tham nhũng, thối nát, ăn bám, chứ không phải nhằm để phục vụ cho quảng đại quần chúng nhân dân. Nói cách khác, một nước Cộng hòa cho dù có độc lập nhưng không có tự do thì nhân dân không thể có hạnh phúc. Và hơn thế nữa, như thực tế của những thập niên vừa qua đã chứng minh: không có tự do, dân chủ thì khả năng bảo vệ độc lập, bảo vệ chủ quyền của quốc gia cũng trở nên mong manh, yếu ớt.

Suy cho cùng, nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí là để đạt đến tự do, dân chủ. Chỉ có chế độ dân chủ mới đem lại cho dân tộc ta cái chìa khóa để bước vào thời đại mới một cách vững vàng. Chỉ có chế độ dân chủ mới có thể huy động được một cách trọn vẹn tài trí và sức lực của nhân dân vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền dân tộc và tiến hành thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa Việt Nam vào hàng ngũ các quốc gia văn minh trên thế giới.

Mai Thái Lĩnh

Đà Lạt, 14/07/2010 – 25/10/2010

Chú thích:

(1) Theo Giáo sư Huỳnh Lý thì bài thơ này đã được công bố vào năm 1925 trên tờ Việt Nam hồn, một tờ báo của kiều bào tại Pháp, nhưng chứng cứ về điều này vẫn chưa được công bố. Xem Tuyển tập Phan Châu Trinh (Tuyển tập), sđd, tr. 334.

(2) 16 câu thơ đó (477-492) được đăng ở trang 368 trong Tuyển tập.

(3) Tuyển tập, tr. 581

(4) Tuyển tập, tr. 594.

(5) “Thư thất điều”, Tuyển tập, sđd, tr. 651-652

(6) Ở nhiều nước châu Âu, Thủ tướng được gọi là “Bộ trưởng thứ nhất” (premier ministre, prime minister), đứng đầu Nội các (cabinet).

(7) Từ năm 1962, nước Pháp đã chuyển sang một mô hình mới trong đó quyền lực của Tổng thống được tăng cường, thường được gọi là mô hình hỗn hợp (régime mixte, hybrid system) hay bán-tổng thống (régime semi-présidentiel, semi-presidential system).

(8) Vào thời đó, người Việt hay gọi nước Pháp là Pháp-lang-sa, phiên âm của chữ France

(9) Lê Thị Kinh, sđd, tập I, quyển 3, tr. 37-38

(10) Lê Thị Kinh, sđd, tập II, tr. 537

(11) Tuyển tập, tr. 977

(12) Tuyển tập, tr. 985

(13) Tuyển tập, tr. 367

(14) Trong tiếng Pháp, Hạ viện được gọi là “Chambre des députés” (Viện dân biểu) hay “Assemblée Nationale” (Quốc hội). Hai “sam” ám chỉ hai Viện của Nghị viện Pháp (Parlement français): Viện dân biểu hay Quốc hội (tức Hạ viện) và Viện nguyên lão (Sénat, tức Thượng viện). Trong bản thảo, tác giả ghi “cham”, viết tắt của chữ “chambre”

(15) Tuyển tập, tr. 370

(16) Tuyển tập, tr. 350

Tài liệu tham khảo chính:

- TS Nguyễn Văn Dương, Tuyển tập Phan Châu Trinh, bản in lần thứ hai, Nxb Văn hóa – Thông tin, 2006, 1262 trang.

- Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Minh), Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, tập 1, Nxb Đà Nẵng, 2001.

- Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Minh), Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, tập 2, Nxb Đà Nẵng, 2003, 809 trang.

© Thông Luận 2010

NHỮNG CON BÒ SỬA VIỆT NAM

LTS: Chúng tôi trang trọng gởi đến quý độc giả bài viết dưới đây ,có tựa “những con bò sửa Việt Nam” ,một bài viết có cái nhìn chính xác về tình trạng những người tỵ nạn Cộng sản giờ đây về lại xứ sở nơi mà cách đây 35 năm ,kẻ cầm quyền đã khinh bỉ,coi họ như rác rưởi…. Trong bài viết này chúng ta cũng nhìn thấy được quan điểm của chính phủ Mỹ đối với những người Quốc gia,những người được họ gọi là đồng minh…Thật chua xót,đọc để chất vấn lương tâm mình,một con người tỵ nạn đúng nghĩa có nên trở về Việt Nam làm tay sai cho quân thù để quân thù rảnh tay đàn áp đồng bào( có nhiều hình thức làm tay sai về nhiều lảnh vực: kinh tế,xã hội….).

Không ai thấm thía cảnh nước mất nhà tan như dân tộc Việt,một tết Mậu Thân,một mùa hè đỏ lửa…. Hàng tiệu người cùng màu da với mình đã chết…không ai thấm thía và oán hận như người dân Mỹ trong sự kiện ngày 11 tháng 9,hai tòa nhà thương mại ở Nữu Ước bị thiêu rụi,hàng ngàn người chết.

Kính thưa quý độc giả !

Thế mà có những kẻ làm chính trị xôi thịt ,những kẻ bán rẻ lương tâm vì danh ảo và một ít tiền lẻ…Bám đuôi những tài phiệt tay sai và, những kẻ lớp già thiếu ý thức ủng hộ cho lớp kế thừa làm những con rối,cung nghinh giới lảnh đạo của Mỹ,những tế bào nô lệ đã phát triễn trong những bộ óc nô dịch hóa đang hoành hành ở trong cộng đồng người Việt tỵ nạn. O bế ,mặc cả để trao đổi ,ngay cả lá cờ Việt Nam Cộng Hòa ,một tài sản duy nhất được mang theo của người tỵ nạn cũng được đem ra đổi chác . Những đầu óc nô dịch không làm được gì lợi ích cho công cuộc tranh đấu chống Cộng,ngược lại không những cản trở mà còn làm ô nhục giống nòi Lạc Việt . Một sự kiện xảy ra hồi năm 2009,một sự kiện làm nhục người Việt tỵ nạn,mạt sát người Quốc Gia ,sự kiện này là ông Thống Đốc tiểu bang California Arnold Schwarzenegger thuộc đảng Cộng Hòa,thị trưởng San Francisco Gavin Newsom thuộc đảng dân chủ (ông này vừa đắc cử phó thống đốc tiểu bang California vào tháng 11 năm 20010 vừa qua),và phó chủ tịch Thượng Viện California Leland Y.Yee(dân chủ)đã gởi thư và tuyên cáo cho tòa Tổng lảnh sự VC Lê Quốc Hùng để công nhận ngày 2 tháng 9 là ngày Quốc khánh Việt nam và cũng là ngày truyền thống của cộng đồng người Mỹ gốc việt. Tưởng cũng nên nhắc lại là các ông này đã từng vinh danh cờ Việt nam Cộng Hòa . Chúng ta đã học được bài học ở chính quyền Mỹ khi “Đồng Minh tháo chạy”. Thật đớn đau nhất là sự đớn đau khi những tế bào nô dịch đã phát triễn trong tầng lớp kế tiếp của cha ông thuộc VNCH,tiểu bang Washington đã lộ rỏ nhất ( BM đã đưa ra). Vinh danh cờ vàng ba sọc đỏ hay hạ nhục??? Chúng mời quý độc giả đọc bài viết dưới đây,có lẻ những thấm thía còn mãi .Sau bài viết này 1 tuần chúng tôi sẽ post những youtube cuộc nói chuyện của hai ông Ngô Kỷ và Đỗ Vinh để quý độc giả tường tận vấn đề CÁC NGÀI DÂN CỬ MỸ HẠ NHỤC CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN. Hãy gột rửa óc nô dịch thì may đâu công cuộc tranh đấu cho Việt nam có Tự Do,Dân Chủ mới thành công.

NHÓM CHỦ TRƯƠNG BIA MIỆNG LÊN ÁN VIỆC LÀM CỦA CÁC ÔNG DÂN CỬ :THỐNG ĐỐC CALIFORNIA,THỊ TRƯỞNG SANFRANCISCO VÀ PHÓ CHỦ TỊCH THƯỢNG VIỆN CALIFORNIA VỀ VIỆC GỞI THƯ VÀ TUYÊN CÁO CHO TỔNG LẢNH SỰ VC LÊ QUỐC HÙNG VỚI NỘI DUNG XỈ NHỤC NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN CỘNG SẢN.

B.M

Những con bò sữa VN-

Cách đây 32 năm, trên chiến hạm chỉ huy Blue Ridge, thuộc Hạm Đội thứ 7, các ký giả ngoại quốc đã thấy hàng ngàn những chiếc thuyền nhấp nhô như lá tre trôi trên biển. Nguời ta thấy những chiếc thuyền đủ loại, đủ cỡ của những nguời Việt Nam dầu tiên bỏ chạy Cộng Sản. Họ là ai, số phận họ sẽ ra sao sau này? Chẳng ai trong số những ký giả trên và ngay cả những người ngồi trên những chiếc thuyền dó có thể tiên đoán được điều gì?

Người ta nhận thấy có nhiều ký giả Mỹ và một số những nhân vật trong chính quyền Mỹ trên chiến hạm Blue Ridge. Chẳng hạn như Frank Snepp, tác giả các cuốn sách: Decent Interval và An Insider Account of Saigon, David Halberstam với The best and the Brightest và một số người khác như H.R. Haldeman, Stanley Karnow.

Karnow nhìn David Halberstam như chế nhạo nói:

-Này anh, công cuộc di tản này hẳn có sự đóng góp công sức của những người như anh?

Halberstam dáp:

-Anh nói không sai, nhưng điều đó chứng tỏ sức mạnh của người Mỹ chúng ta nằm ở chỗ nào? Ðâu có phải chỉ có sức mạnh của B52? Anh đồng ý chứ? Và hôm nay, chúng ta là những nhân chứng duy nhất và cuối cùng chứng kiến cảnh tháo chạy này. Và tôi nghĩ rằng đó là trách nhiệm của tôi và anh ở đây.

Karnow:

Phần tôi, sẽ không bao giờ quên được câu chuyện ngày hôm nay. Tôi cảm thấy xấu hổ cho nước Mỹ.

Trên ca bin chỉ huy trưởng của chiến hạm, người ta nghe tiếng đối đáp của ông chỉ huy trưởng với Henry Kissinger. H. Kissinger hỏi viên chỉ huy trưởng:

-Ông có biết bây giờ là mấy giờ ở Hoa Thịnh Đốn không? Trong một giờ nữa mà ông Đại Sứ Martin không có mặt trên chiến hạm của ông thì kể như cuộc triệt thoái của người Mỹ là một thất bại?

-Thưa ông Kissinger, tôi được biết, ông Đại Sứ còn nán lại dể cứu vớt những người Việt Nam cuối cùng cần phải được cứu vớt.

Kissinger cáu kỉnh quát trong ống nghe:

-Anh nói với ông ta là lệnh của tôi, ông ta phải lập tức rời VN. Tôi không cần biết phải cứu ai. Sao cái bọn ‘chó chết’ dó không chết phứt đi cho rồi.

Stanley Karnow nghe được cuộc điện đàm đã đưa ra nhận xét: Ông Kissinger và Lê Đức Thọ nói cùng một thứ ngôn ngữ. Ông Thọ cũng gọi bọn người đang lố nhố trốn chạy dưới kia là những đống rác rưởi mà chúng tôi cần tống ra biển. Cả người Mỹ và kẻ thù của họ đều coi VN như một thứ rác rưởi cần phải tống khứ đi cho rồi.

Chẳng bao lâu sau, dại sứ Martin đã có mặt trên chiến hạm và ông đã nhận được một công diện của H. Kissinger đánh đi như sau: “Người Mỹ đến Việt Nam như thế nào thì khi rút đi cũng như vậy. Ðó là thành công của ông, của chúng ta. Congratulations! “

Ngay sau đó, Đại Sứ Martin nhận được từ dưới bong tầu chỉ huy, một cựu tướng VN muốn xin gặp. Ông Martin đã từ chối và nói với viên sĩ quan tùy tùng nhắn lại:

“Nói với ông ta, ở đây không phải Sài Gòn mà là nước Mỹ trên biển. Hiện nay, chúng tôi coi ông ấy như một người ‘ vô tổ quốc’. Phải cởi bỏ lon chậu và không được tuyên bố điều gì.”

Người tùy tùng tuân lệnh và nói thêm rằng, ông cựu tướng đó dơ hai tay lên trời với cử chỉ tuyệt vọng, ngửa mặt lên trời và kêu lên rằng:

“Ta thề có trời đất, một ngày nào đó, ta sẽ trở về.”

Lúc này, có lẽ chữ bỏ chạy là đúng nghĩa nhất. Chỉ biết bỏ chạy đã. Số phận họ ra sao không ai dám nghĩ tới, ngay cả đối với kẻ lạc quan nhất. Và đã có hon 100.000 ngàn người trong số 250.000 ngàn người như thế đã được vớt đi định cư từ các chiến hạm của hạm đội 7.

Cuộc ra đi thật bi tráng và tuyệt vọng dến tức tưởi!

Số phận họ có khác gì những con thuyền lênh đênh trên biển cả như những lá tre? Vâng những lá tre trên một đại dương mà lẽ sống chết đang chờ đợi họ. Bằng mọi giá, họ đã ra đi mà nếu nay ngồi nghĩ lại, nhiều người không mường tượng nổi, họ dã có thể làm một điều như vậy. Những cái “sô” vớt người trên biển trong tuần lễ cuối cùng của tháng Tư và đầu tháng Năm của người Mỹ cũng nói lên được điều này: Người Mỹ có thể làm được tất cả mọi việc một cách quy mô, hoành tráng, ngay cả việc trốn chạy.

Ðó là những thuyền nhân Việt Nam đầu tiên chạy trốn làn gió chướng từ trong dất liền đã thổi giạt họ ra biển…

Hãy cứ tưởng tượng, trong số 250 ngàn người đó, ít ra cũng đến phân nửa ở tuổi vị thành niên, Cái hình ảnh người lếch thếch, lang thang với từng đoàn người người nối đuôi nhau chạy trốn. Và nếu cần nói một điều gì về lúc đó, về tâm trạng những người bỏ chạy thì có thể tóm tắt trong một câu: Tất cả đều hoang mang và không có một chút hy vọng gì về tương lai cả.

Và cứ như thế, các con số thuyền nhân trốn khỏi Việt Nam càng gia tăng theo nhịp độ của những chính sách của Hà nội như “đi vùng kinh tế mới”, “học tập cải tạo”, “đánh tư sản, mại bản”, và cuối cùng “đi bán chính thức” nhằm vào giới Hoa Kiều. Cứ mỗi một đợt chính sách lại thêm số người trốn ra đi khỏi nước. Tổng cộng dã có gần hai triệu người trốn đi như thế. Đấy là còn chưa kể những người để lại xác trên biển cả. Con số này chẳng ai biết là bao nhiêu? Và cũng chẳng ai có thì giờ tìm hiểu làm gì. Người chết thì đã chết. Phải vậy không? Tiếc nuối rồi cũng nguôi ngoai để lo sinh kế, miếng ăn trước đã.

Tất cả những chính sách vừa kể trên của nhà cầm quyền CS là nhằm đánh vào những thành phần phản động, ngụy quân, ngụy quyền, tay sai Mỹ Ngụy. Và đối với nhà cầm quyền lúc ấy, chỉ có hai cách để làm ‘vệ sinh miền Nam ’ là: Tống xuất bọn rác rưởi ra biển hoặc cho đi tù cải tạo.

Nhưng chính thức thì có thể quả quyết rằng, nhà nước không cưỡng bức một ai phải bỏ xứ ra đi, và cũng không giữ một ai muốn ra nước ngoài sinh sống. Và cuối cùng để giữ thể diện hoặcđể trao đổi trong thương thuyết, nhà nước Cộng Sản đã đồng ý với Liên Hiệp Quốc theo một chương trình “ra đi trong vòng trật tự” (Orderly Departure Program). Thảm cảnh thuyền nhân trên biển vì thế đã giảm mức độ.

Tất cả câu chuyện, những thảm cảnh trên biển cả nay đảo ngược trở thành cái mà Michel Tauriac trong Hồ sơ đen của Cộng sản (Le dossier noir du Communisme ) tóm tắt đầy đủ ý nghia tóm gọn trong một câu “Những con bò sữa thuyền nhân”.

Gió đã đổi chiều, gió chướng đã thổi họ ra biển, nay ngọn gió nào đã đưa họ về? Hình ảnh thật biểu tượng và gợi hình. Thật vậy, tất cả những con bò sữa thuyền nhân đã ra đi với hai bàn tay trắng để lại tiền bạc, nhà cửa ruộng vườn. Họ đã vắt được bao nhiêu sữa ở những con bò đó? Vắt lúc ra đi và nhất là vắt lúc trở về. Việc ra đi theo diện người Hoa, đi bán chính thức hay việc quản lý nhà cửa đất đai, tài sản nằm trong tay Bộ nội vụ. Công việc bộ này là đảm trách và tổ chức nhằm “nhổ sạch lông” những bọn người lưu vong này. Kẻ rỗi hơi ngồi tính nhẩm chuyện nhổ sạch lông này đem lại cho nhà nước ít nhất là 25 tấn vàng. Nhưng 25 tấn vàng vẫn là chuyện nhỏ. Vẫn là chuyện vắt đi. Vắt lại mới là quan trọng.

Và để gợi những thuyền nhân thì có nhiều tên gọi tùy theo thời kỳ: lúc đầu là bọn bán nước, bọn tay sai. Cho mãi đến năm 1990, cũng còn có người gọi Việt kiều là những tên Việt gian. Nói chung họ coi đó là thành phần rác rưởi của chế độ cu, muốn thải loại, muốn tống đi cho rảnh mặt. Và gọi một cách vô tội vạ nhất là người nước ngoài. Nghia là có sự phân biệt đối xử giữa người trong nước và ngoài nước. Sau này chữ được dùng hon cả là Việt Kiều.

Xin nhắc lại vụ án tàu Việt Nam Thương tín để chúng ta hiểu rõ Cộng Sản hon. Trên báo Quân Ðội Nhân Dân, số ra ngày 3/7/77, trang ba viết như sau:

“Luật lệ trừng phạt những kẻ phản cách mạng đã được ban hành ngày 19/11/76.” Khoản 9 của điều luật đã ấn định rõ như sau: “Tội chạy trốn theo hàng ngu địch hay trốn ra ngoại quốc vì những mục tiêu phản cách mạng sẽ bị phạt từ 3 đến 12 năm tù. Trong những trường hợp đặc biệt và nghiêm trọng tổ chức tội phạm sẽ bị kết án chung thân hay Tử hình.” Số phận những người đi tàu Thương tín và di tản, nhất là giới trẻ đã bị phát tán đi Lào Cay, Thái Nguyên, Yên Bái…

Về phía những người Việt Hải ngoại, xin được nhắc mọi người đến những hoài niệm của những năm đầu ở Hải ngoại để cho thấy tâm trạng chúng ta lúc bấy giờ như thế nào? Những nhà văn đã thay chúng ta nói lên những tâm trạng đó. Có thể là bài viết của Nguyễn Ðình Toàn: Sài Gòn, niềm nhớ không không tên, kỷ niệm 30/04. Và nỗi ray rứt trong tập tho mỏng của Cao Tần nói lên đủ.

Vài câu tho góp nhặt đó đây để cùng nhớ lại:

Thù quê hương như tên hề ốm nặng

Hôn tang thương sau mặt nạ tươi cười

Ôi trong ví mỗi người dân mất nước

Còn một oan hồn mặt mui ngu ngo

Thù hận bọn làm nước ông nghèo xí

Hận gấp nghìn lần khi chúng đánh ông vang

Nếu mai mốt bỗng đổi đời phen nữa

Ông anh hùng ông cứu được quê hương

Ông sẽ mở ra nghìn lò cải tạo

Lùa cả nước vào học tập yêu thương

Và trong số Văn Học Nghệ Thuật, số 1, có bài phỏng vấn người nhạc si tài danh với câu trả lời: “Buồn lắm. Nhớ Việt Nam quá. Thương quá Việt Nam .” nói theo kiểu Phạm Thế Mỹ. Và cứ thế. Ai là người tuôn ra những câu tho ở thị trấn giữa đàng những ngày tháng tư đen:

Xin cúi đầu mình xuống

Khóc quê hương, trói trong tay bạo cường.

Xin cúi đầu một phút

Nhớ anh em, sống trong ngục, trong tù

Nuôi cho sâu hận thù

Mong và chờ, về Việt Nam ước mo

Một ngày bảy lăm, đứng ở cuối đường

Loài quỷ dữ xua con ra đại dương

Đời hai lần ta bỏ que, bỏ nước

Phải nuôi ngày sau về ôm tổ quốc …

Ta phải về, ta chiếm lại quê huong

Ta phải về xây lại đời ta

Ta chống Cộng, ta không trốn Cộng

Ta và cả trăm ngàn đồng hương

Mai nay rồi, ta về VN mến yêu.

Thời ấy nay còn đâu.

Rồi cứ như thế sau thời kỳ mở cửa mà số lượng người Việt về nước cũng như kiều hối đã bắt buộc mọi người phải thay đổi lại thế nhìn, thế bắn. Không ai có thể từ chối được những món quà, không phải 10 đô la trong ngày lễ Noel mà là 3 tỉ đô la. 3 tỉ đô la tình nghia hàn gắn những vết sứt sẹo, những lời nói mà bình thường chỉ được coi như kẻ thù.

Gió đã đổi chiều, nên ngôn ngữ cũng đã đổi theo. Những chiếc thảm đỏ đã trải dài từ phi trường Tân Son Nhứt đến Nội Bài, chạy thẳng vào Bắc bộ Phủ. Thật là trớ trêu đến nực cười. Lúc ra đi trốn chui, trổn nhủi, lúc trở về thảm đỏ dưới chân.

Những thành phần rác rưởi ta vừa nói ở trên, những con bò sữa đã vắt cạn chẳng bao lâu sau trở thành rác quý mà người ta có thể chế biến thành những sản phẩm, những vật liệu để xây dựng một nước Việt Nam hùng mạnh. Ðã chẳng ai ngờ điều đó đã xảy ra. Rác rưởi cứ thể đổi hình, đổi dạng mà tính ra tiền bằng những sản phẩm mới.

Những anh thuyền chài có thể ra đi vỏn vẹn chiếc quần đùi nay chễm trệ ngồi Mercedes. Những mệnh phụ nói tiếng Mỹ oe oé. Kể gì đến những hiện tượng nhỏ nhoi đó. Ðã có rất nhiều thay đổi tràn đầy hy vọng như thế đối với giới người Việt di tản, nhất là noi người trẻ. Họ không còn là cô nữ sinh cười e lệ, hỏi không dám mở lời. Ngày nay họ là những chuyên viên hàng đầu của xã hội Mỹ. Có những người trong bọn họ đã làm ra số vốn bạc tỷ. Có người trong bọn họ, cùng với bạn đầu tư nửa tỷ đô la tại noi mà trước đây được coi là thánh địa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, Củ Chi với những địa đạo, noi tự hào về cuộc chiến thần thánh trong tương lai trở thành biểu tượng “thung lũng của ngành tin học”.

Và cái kim chỉ đường cho người Việt tương lai là hãy nhìn vào giới trẻ đang lên. Họ chiếm đa phần. Tương lai thuộc về họ, đời sống thuộc về họ, cộng đồng VN là họ. Không phải do một thiểu số những người lớn tuổi. Những người bỏ nước ra đi đã chỉ nhớ cái phần đầu câu chuyện mà quên phần cuối. Những câu truyện do người lớn kể ngày càng nhạt phèo như nước ốc. Phải chăng thời của họ đã hết? Họ bám víu vào những bèo bọt mà chính họ cũng chẳng còn thiết tha gì. Nhưng nếu không bám víu vào đó thì họ còn gì là họ?

Phải chăng cuộc ra đi bất hạnh nay đã trở thành đại hạnh cho chính mình, cho con cháu mình, cho cái noi mình đi tới và cả cái noi mà từ đó mình đã ra đi?

Hãy nhìn vào những con số để nhận ra câu chuyện thần thoại về người Việt di tản. Năm 1987, mới chỉ có 8 ngàn người về thăm quê hương, đến năm 1993 thì con số tăng lên 160 ngàn người, đến năm 2002 là 380 ngàn người. Con số tự nó nói lên điều gì rồi và người ta bắt đầu vỡ lẽ ra. Bên cạnh đó, kiều hối đem lại một sốn tiền tươi là 2 tỷ 6 đôla trong năm 2003. Hãy làm một so sánh cho rõ. Năm 2003, Việt Năm xuất khẩu được 20 tỉ đôla, trừ vốn liếng cho sản xuất, lời ròng của 20 tỷ vị tất đã được 5 tỷ?

Có một điều, nhiều người vô tình quên là năm nay có 2 triệu lượt khách đến Việt Nam. Cứ giả dụ, mỗi người khách tiêu 2000 đô la đầu người. Số tiền thu được sẽ là bao nhiêu? Trong số 300.000 người Việt về thăm quê hương, cứ cho là vừa tiêu xài, vừa cho bà con họ hàng, ở từ hai tuần đến một tháng, mỗi người đổ đồng chi tiêu 4000 đô la cho một chuyến về thăm quê hương, cán cân ngân sách cũng như nền kinh tế Việt Nam đã được kích cầu lên không nhỏ.

Tiềm năng thật lớn. Tương lai cũng đầy hứa hẹn. Ðó là nền kinh tế sống nhờ trên những kỹ nghệ không khói. 10 năm nữa, dự đoán số khách du lịch là 10 triệu người mỗi năm như Thái Lan hiện nay, với các đường bay thẳng Sàigòn-Mỹ, Sàigòn-Âu Châu. Chuyện đã xảy ra và chắc sẽ xảy ra. Lúc đó, tiền đổ vào qua du lịch không phải là nhỏ nên hiện nay trên hầu hết 60 tỉnh thành của VN đều có khu du lịch đủ kiểu.

Điều đáng nói hon nữa là nay có một số Việt Kiều về nước kinh doanh đầu tư với gần 100 dự án được chấp nhận với số vốn đầu tư con số xấp xỉ một tỉ đô la. Những Việt kiều như Nguyễn Chánh Khê với phát minh chế tạo thành công Carbon Nanotube (áp dụng vào việc sản xuất mực in và các sản phẩm công nghệ cao khác) không phải là hiếm. Dự án khu khách sạn Sofitel Vinpearl Resort–Spa, 5 sao, tại đảo Hòn Tre nay đã thành sự thực. Nha Trang đã khánh thành khu Vinpearl Resort vào cuối năm với số tiền đầu tư là 500 tỉ đồng. Phần lớn các số tiền đầu tư này tập trung vào linh vực công nghiệp, tin học, lắp ráp, du lịch.

Cũng vì thế, nhà nước đã chẳng tiếc lời gọi Việt Kiều là những người con của đất nước. Những lời lẽ trân trọng mật ngọt đã hẳn là không thiếu.

Gió chướng đã không còn nữa. Gió đã đổi chiều, ngôn ngữ đổi chiều, giọng lưỡi đổi giọng. Không còn có chữ nghĩa làm đau lòng nhau nữa. Trên tất cả các sách báo, trên các trang nhà, không còn có thể tìm thấy bất cứ thứ chữ nào nói xa nói gần đến chế độ miền Nam trước đây nữa. (1) Những chữ như bọn ngụy quân, ngụy quyền và bọn tay sai đã không tìm thấy trong tự điển của bộ chính trị nữa. Ngược lại không thiếu những chữ mật ngọt như “Tổ quốc Việt Nam , quê hương thân thiết luôn giang rộng vòng tay chào đón những người con xa xứ.” “Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt nam định cư ở nước ngoài giữ gìn quan hệ gắn bó với quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước”.

Luật quốc tịch điều hai thì viết rõ ràng thế này: “Người Việt Nam ở nước ngoài là công dân Việt Nam . Người Việt nam ở nước ngoài là bộ phần không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam .”

Nhà nước lại còn trích dẫn câu nói của ông Hồ mà không ai tự hỏi xem ông nói lúc nào và bao giờ: “Tổ quốc và chính phủ cũng luôn luôn nhớ thương đồng bào, như bố mẹ thương nhớ những người con đi vắng.” (Hồ Chí Minh nói với kiều bào ở Thái lan về nước năm 1960.)

Từ Sài Gòn ra biển đông (30/4/1975)

Hình như người ta đã quên cái cảnh bồng bế xô đẩy nhau lên máy bay và bằng bất cứ giá nào phải đi bằng được. 32 năm sau, câu chuyện kể về thuyền nhân chỉ còn là di vãng mà cả bên này bên kia, nhiều người đã quên hoặc cố tình quên.

Thật ra không hẳn là như vậy. Nhà nước chính quyền hoan hỉ nhận những đồng tiền đô la từ mọi noi gửi về cũng như người Việt mang tiền về nước. Mang tiền về thì được chứ đừng mang chữ về. Chữ hiểu theo nghia rất rộng là sách báo, tư tưởng, âm nhạc, nghệ thuật. Từ khi có nhà nước Cộng Sản đến nay, chữ vẫn là độc quyền tuyệt đối nằm trong tay đảng. Nó nằm trong một hệ thống khép kín: Chủ nghia hay ý thức hệ bạo lực khủng bố và một chính quyền toàn trị. (Ideology, terror and totalitarian government).

Chẳng lạ gì, trước khi về VN, người ta thường khuyên có một diều duy nhất: anh muốn làm gì thì làm: chẳng hạn cờ bạc, choi bời đủ kiểu, tắm đủ kiểu, phòng trà đủ kiểu, âm nhạc đủ kiểu, cà phê đủ kiểu, gái đủ kiểu, sex đủ kiểu, ngủ trưa đủ kiểu, ngủ tối đủ kiểu, ăn đủ kiểu, vừa ăn vừa choi đủ kiểu, đi điếm đủ kiểu, hối lộ đủ kiểu, lưu manh lường gạt đủ kiểu, gian trá đủ kiểu, buôn bán mánh mung đủ kiểu, làm giầu đủ kiểu, đầu co đủ kiểu, công an đủ kiểu, phường khóm đủ kiểu, công ty đủ kiểu, co quan đủ kiểu, chính quyền địa phương đủ kiểu, chính quyền trung ương đủ kiểu, luật pháp đủ kiểu, thằng ăn cắp xử thằng ăn cướp đủ kiểu và cuối cùng xã hội lọan đủ kiểu.

Ta có quyền đủ kiểu hết, miễn là đừng đụng đến chính trị. Vì trên hết, vẫn có một nhà nước toàn trị ở trên tất cả những đủ kiểu đó. Trước khi lên máy bay về nước, còn dặn với theo: nhớ nhé đừng đụng đến chính trị.

Mặc dầu vậy, ngày nay, có nhiều bà con Việt Kiều tính về ở hẳn VN. Có người trong đám này về Việt Nam dưỡng già với xe hoi SUV. Trong vòng 10 năm nữa, khi xa lộ đông tây hoàn thành, khi 6 tuyến xe điện ngầm xây dựng xong, đường hầm Hải Vân nối liền Nam Bắc hoàn tất thành phố Sàigòn sẽ thay mặt đổi tên chẳng còn ai nhận ra nó nữa.

Nay ở Sàigòn, đã có những khu nhà “Làng Việt Kiều”. Người ta dự trù có 4 khu như thế, với những biệt thự sang trọng, đủ tiện nghi như ở Mỹ , Canada . Người ta thấy những Việt Kiều lái những chiếc xe SUV, hay ngồi nhâm nhi ly rượu cocktail bên bờ sông Sàigòn. Những căn nhà có những bãi cỏ xanh, mái nhà mầu cam kiểu California , có những hàng dừa cọ, những hồ boi với những hàng chữ tiếng Anh: “Welcome!” Ðây là, chẳng phải ai khác, mà là những người di tản, những rác rưởi 32 năm về trước chạy trốn Cộng Sản, hoặc đã bị đi tù, đi cải tạo.

Gió chướng đẩy họ ra đi, nay gió nào đẩy họ về?

Chẳng hạn, anh chàng Võ Quy, kèm theo cái tên Larry. Và vô số những tên như thế Catherine, Julie, Elizabeth, Brigitte, Linda…. Nay Võ Quy đã gần 70 tuổi, trước đây là một si quan không quân, quân đội VNCH. Anh ta ta đã rời bỏ vùng Southern Califronia cách đây 6 năm cùng với vợ, Linda, còn có tên cúng com là Ngọc để về ở đây. Anh ta khoe căn nhà với vẻ hãnh diện không cần dấu diếm với đồ dùng toàn bằng Inox (thép không rỉ), phòng tắm lớn có vòi tắm hoi, thiết trí theo kiểu Jacuzzi của Ý. Sàn nhà mầu hồng bóng lộn.

Anh còn chỉ cho thấy và nói thêm: “Không phải cẩm thạch đâu nhé, đá hoa cương thứ thiệt đấy. Thiệt là quá rẻ, còn rẻ hon ở Hoa Kỳ rất nhiều.” (2)

Thiệt là Việt Kiều.

Một anh khác tên Hoàng Tiến, chả bù cho lúc ra đi lếch thếch, lang thang, nay anh trở thành chủ nhà thầu đang có những kế hoạch xây cất nhà cho Việt Kiều với những dự án “thành phố xanh” (Green city).

Cái điều oái ăm đến quái gở là khi ở Mỹ, người ta bằng mọi cách nhắc nhớ đến Sài goon, tìm cách đặt tên Little Saigon, Phở Bắc, bánh mì Tân Ðịnh, bánh cuốn Ðakao, Restaurant Hoài Hương, Phở Hà Nội, Brodard restaurant, phở Nguyễn Huệ để nhớ về miền Nam thân yêu. Nay ở Việt Nam thì người ta lại muốn đặt tên cho những khu thương xá là “tiểu Cali ” , “tiểu Fairfax ” để nhớ đến. Và cứ như thế, sẽ có một số người Việt gốc Mỹ sống riêng biệt trong những tiểu quốc, Mỹ Hóa của họ bên cạnh những người Việt bản xứ.

Khi ở Mỹ thì họ nhớ Việt Nam , khi ở Việt Nam họ lại tiếc lối sống Mỹ. Họ trở thành người ngoại quốc trước mắt những người đồng bào của họ. Họ tưởng về quê thật, nhưng lại mang tâm trạng một thứ chủ nhân, cách biệt với dân bản xứ. Và điều rõ rệt là Hoàng Tiến đã bực tức về một căn nhà hàng xóm đã vứt những bao rác ra đường ngay cổng nhà anh ta, đã mở nhạc Karaoké tùy tiện ầm i cả lên. Anh bực tức nói: Như thế không phải lối sống Mỹ, không biết tôn trọng luật pháp. Như thế là thiếu văn minh.

Khi ở Mỹ thì anh muốn bảo tồn văn hoá Việt, không muốn trở thành một mẩu trong Melting pot hay Sálát Mỹ. Anh bắt con đi học tiếng Việt. Về Việt Nam , mở mồm là anh chỉ xổ tiếng Mỹ. Cái mâu thuẫn như thế rất là Việt Nam . Trong tương lai, Hoàng Tiến sẽ còn phải bực tức nhiều về những điều trái tai gai mắt: chẳng hạn một anh cán bộ phường cứ xồng xộc vào nhà chẳng điện thoại trước.

Riêng Nguyễn Anh, năm nay mới 35 tuổi về Việt Nam làm việc cho một công ty nước ngoài. Ra đi từ nhỏ, kể như không biết gì về Việt Nam , anh cũng không có ý ở hẳn VN.. Nhưng anh cũng có một vài nỗi khổ vặt khác. Nguyễn Anh sửng sờ khi làm một việc gì giúp người khác không nhận được một tiếng thanh kiu, thanh kiếc gì hết. Anh cũng khó chịu khi mọi người chen lấn không xếp hang khi trả tiền. Nhất là các cô thiếu nữ trông khả ái, dịu hiền, nhưng cũng huých tay chân như ai. Gần như mạnh ai nấy làm, mạnh ai nấy sống chen lấn chụp giựt.

Nguyễn Anh có hoi buồn về con người Việt Nam vốn có tâm hồn, vốn thương người mà một tai nạn xe cộ xảy ra đến chết người mà mọi người dửng dưng. Quả thực, tuy là người Việt Nam , nhưng anh lại không hiểu gì về người mình.

Lại nói đến giải trí, Nguyễn Anh không hiểu được là người Việt Nam “Xem thể thao” chứ không choi thể thao. Mấy triệu người thức đêm, bỏ công an việc làm, bỏ học để dán mắt vào đài truyền hình theo dõi một trận đá banh. Thật là vô lý vì hại sức khỏe. Chỉ có 22 cầu thủ thực sự choi thể thao, còn cả nước chỉ ngồi xem thể thao, chưa kể còn cá độ. Hình như cái gì ở Việt Nam cũng có thể trở thành cờ bạc.

Lại một điều nữa, Nguyễn Anh không hiểu được.

Nguyễn Anh thì chỉ thích đi đánh golf. Nhưng muốn choi ngon, Nguyễn Anh phải lấy vé máy bay ra Phan Thiết choi, vì ở đó có sân choi nổi tiếng là đẹp. Ít ra thì điều đó cũng làm Nguyễn Anh vui lòng. Nhưng có người thấy như thế thì lấy làm kỳ cục. Họ chép miệng, tội tình gì mà phải cất công như thể để choi Golf. Choi đâu chả được. Phí tiền nữa. Ngưyễn Anh không đáp lại, vì anh có cái lý của anh. Ðúng là anh thấy người Việt mê đá banh một cách kỳ cục. Nhưng ngược lại, họ cũng thấy anh không giống ai.

Còn về thanh niên, thiếu nữ thì chửi thề không biết ngượng mồm, nhất là thanh niên, thiếu nữ gốc Bắc. Mở mồm ra là địt. Sáng ra, chỉ hỏi giá cả món hàng đã bị một người con gái xinh đẹp phạng cho một câu.

Nói gì thì nói, nghi gì thì nghi. Thời gian sẽ xoá nhoà tất cả vết tích cu: thời gian cứ trôi qua, nhiệt tình chống Cộng giảm xuống và tình hoài hương lại trỗi dậy. Những vị lãnh đạo trong nước thì nghi rằng:

Nhân dân muốn quên hết mọi thứ. Những người này hiện ở đây vì đất này là tổ quốc của họ. Chúng ta không có quyền trách mắng họ. Chúng ta tiếp đón họ. Chúng ta không muốn để Việt kiều gây chiến tranh lần nữa.

Gió chướng đổi chiều đến đâu có thể còn chưa biết rõ được. Tôi tự hỏi bao giờ làn gió chướng đó cùng với con lốc đầu tư tư bản đánh bật chủ nghĩa Cộng Sản ra biển?

Chỉ có một điều tôi biết chắc rằng, ngay cả những người theo làn gió chướng đổi chiều, đã về VN. Họ cũng cảm thấy họ chẳng sung sướng gì, đôi khi tỏ ra buồn phiền, nghi kỵ, thất vọng không muốn nói ra. Ðó là trường hợp hợp ông Nguyễn Cao Kỳ. Ðó cũng là trường hợp một người trong số 17 người vừa được vinh danh “Vinh Danh Việt Nam – 2006″?

Tôi có cảm tưởng họ đang chơi một canh bạc giả, biết như thế mà vẫn chơi, chơi cho biết.

Gió chướng đã đổi chiều? Nhưng đổi thế nào thì còn chưa nói hay được. Bảng chỉ đường đất nước vẫn còn có thể chỉ trật đường. Xin dè dặt. Thận trọng và khôn ngoan để đừng thêm một lần nữa mắc mưu Cộng Sản lừa phỉnh.

PHÓ THƯỜNG DÂN

Vi Nhân

Thời gian trôi qua hơn 35 năm tôi mới dám nghĩ lại đến phận đời phó thường dân của mình. Chuyện cũ, chuyện mới, chuyện ngắn, chuyện dài, chuyện bên ni, bên nớ.

Anh Tám hồ hởi

Nhớ lại, sau 30 tháng 4 mấy anh Tám hồ hởi ló mặt, lên dây thiều cùng các anh nón cối nhận “làm đầy tớ nhân dân” trong chế độ mới. Tuyệt đại đa số người miền Nam đùng một cái từ công dân một quốc gia tự do trở thành phó thường dân trong đất nước thống nhất “anh em một nhà”.

Mấy anh Tám làm “đầy tớ” này thì lên tiếng tớ đây có quyền quyết định tất cả: đầy ải các phó thường dân ra vùng kinh tế mới và bọn “tay sai Mỹ Ngụy” vào các trại tập trung cải tạo. Đã là anh em một nhà thì nhà của em cũng là nhà của anh. Anh Tám bảo mấy em giao nhà, hiến đất, cơ xưởng để phục vụ nhân dân. Hơn nữa các anh đã dựng chòi tạo điều kiện cho các em “lao động vinh quang” còn các anh phải ở lại tiếp quản tài sản và ở trong (lòng) quần chúng nhân dân. Cách mạng là đổi đời mà.

Vì được gọi là cặn bã xã hội và được cách mạng tái sinh vào phận phó thường dân nên đa số đám trẻ miền Nam cỡ tuổi tôi được đưa vào ngọn cờ đầu “thanh niên xung phong”. Có chăng còn vài đứa như tôi sót lại trên sàng vào được Đại Học thì lụi cụi mới hai ba năm trên ghế học đường lại được tuyển đi “nghĩa vụ quân sự” trên chiến trường ở tuyến đầu tổ quốc. Phó thường dân chúng tôi bao giờ cũng được nhà nước xã hội chủ nghĩa ưu đãi tạo cho cơ hội phấn đấu thành anh hùng kiểu liệt sĩ.

Tôi nói thôi bỏ qua đi tám, nhưng anh Tám hồ hởi không chịu bỏ qua nên đám phó thường dân đành liều bỏ chạy tứ phương, tám hướng.

Bác-Tôi

Đúng ra thì tôi phải gọi ông ngang cỡ “ông cố nội” nhưng vì ông thích được gọi bằng Bác thành ra Bác (bác) Tôi (tôi) chắc cũng không mích lòng gì và chẳng bị mắng là (hỗn) láo.

Nói thì không ai tin chứ thực ra số phận của tôi và Bác có vẻ gắn bó với nhau lắm. Bác mà không đem thiên đường cộng sản về Việt Nam thì chắc tôi và Bác chẳng mắc mớ gì đến nhau. Nếu Bác cứ xây dựng thiên đường cộng sản ngoài ấy ấy đi thì cũng chẳng đến nông nỗi nào với tôi. Nhưng mà Bác lại cứ “toàn thắng lại về ta” nên chơi luôn thằng em đàng trong.

Vốn dĩ được xem là “thành phần có vấn đề” nên tôi có tư tưởng phản động theo gương Bác liều mình tìm đường cứu thân (thật) thay vì cứu nước (láo) như Bác.

Thời đó các chiến sĩ giải phóng ta đã quyét sạch tàu Mỹ, tàu Tây mất tuyệt chẳng còn đâu ở bến Nhà Rồng để tôi lon ton lên làm bồi như Bác nên tôi phải vượt biển đi chui từ kênh rạch rặc mùi bùn. Cái mạng phó thường dân thời thuộc địa Pháp của Bác trông ngon lành hơn kiểu phó thường dân thời xã hội chủ nghĩa của tôi nhiều. Làm bồi như Bác sang hơn tôi một cái rụp. Bác sang Tây (do Bác chọn nó) còn tôi sang Mỹ (vì nó chọn tôi) nhưng mà kiểu nào thì cũng là người lưu vong cả thôi.

Cuộc đời của Bác thì đã được ngàn vạn đầu sách nói đến, kể cả sách của Bác (Trần Dân Tiên, T. Lan) tự họa nữa chứ chẳng phải chơi. Của đáng tội, chẳng cần Bác tự họa thì cũng đã có ngàn vạn văn nô bồi bút thổi phồng rồi, làm chi cho má nó khi (xin phép bác Tưởng Năng Tiến).

Đời phó thường dân lang thang như tôi thì có cặm cụi viết lắm cũng chưa đủ dăm trang. Ấy thế mà nó lại cứ hao hao giông giống như thế nào mới chết chứ.

Bác viết báo, tôi viết blog. Bác phó nhòm, tôi phó tiến sĩ (“mát” in VN kiểu cử nhân Luật anh ba Nguyễn Tấn Dũng). Bác học Lê-nin, tôi học Lin-cơn (Abraham Lincoln). Bác là cộng sản, tôi gốc cộng hòa.

Nói giông giống như vậy thôi chứ tôi thì tiền hậu bất nhất không như Bác trước sau như một. Tôi với Bác vốn trước đây cùng ở một đất nước chuyển tiếp từ thuộc địa sang hậu thuộc địa mà không có một thời gian thực sự độc lập để thoát ra khỏi cái tâm thức nô dịch.

Bác một dạ một lòng với ông Mác, ông Nin cung nghinh chủ thuyết cộng sản về nô dịch hóa đồng bào mình, hết cải tạo lao động, cải cách ruộng đất đến chỉnh huấn, thanh trừng theo rập khung anh cả. Bác luôn dùng bạo lực cách mạng độc tài đảng trị theo huấn thị của Quốc Tế Cộng Sản. Ngay cả cuối đời thì Bác cũng cà cuống (chết đến đít còn cay) đi gặp ông Mác ông Nin, nghe bài ca mẫu quốc Mao lần cuối. Bác hành xử “hân hoan, hồn nhiên” (à la Nguyễn Hữu Liêm trong bài “Nơi giữa Đại hội Việt kiều: Một nỗi bình an”) với tâm thức của một người thuộc địa. Hóa ra Bác, chủ tịch nước, cũng không hơn gì một phó thường dân.

Tôi sang đây ở xứ đế quốc Mỹ nhưng quyết học cách làm người công dân và kháng cự để không bị nô dịch hoá: tham gia biểu tình phản đối những chính sách quân phiệt, đế chế hoặc chính sách bất công thiên vị; phát biểu ý kiến đả phá chủ trương Tư Bản thống trị toàn cầu dù theo kiểu Đế quốc Mỹ hay Đại Hán Trung Hoa; cổ xuý cho việc giải thực tâm thức thuộc địa cho đồng bào bên ni và bên nớ.

Tiến trình giải thực tâm thức nô lệ không phải một sớm một chiều. Cái vòng kim cô nô dịch vô hình trên đầu thì khó gỡ hơn là cái xiềng xích nô lệ chân tay.

Thực dân, nô lệ, ăn mày (tựa đề một bài viết của Nguyễn Hoàng Văn)

Qua đến thời “kinh tế thị trường” và “định hướng xã hội chủ nghĩa” này thì số phó thường dân không giảm đi nhưng ngược lại nó tăng vụt một cách chóng mặt.

Ở bên nớ, nông dân không chuyên nghề ở nhà gặp nhiều “sự cố ở huyện” quá đỗi nên rủ nhau biệt xứ. Họ thế chấp nhà cửa mua vé đi lậu, đi chui làm người rơm, người rừng cho bọn tư bản đế quốc dẫu viễn xứ gian truân, khó khăn trăm bề nhưng có lẽ còn có thể kiếm ăn hơn là chịu nhục chịu đói làm phó thường dân ở làng xã.

Dân có học thì cũng chẳng khấm khá gì. Chỉ cần tư duy độc lập không chịu làm con cừu đi theo lề phải là bị đạp xuống thành phó thường dân ngay. Ngó qua ngó lại thì cả nước chứ chẳng phải nông dân, công nhân, trí thức gì gì đều là phó thường dân[1] dưới cái chính quyền nô dịch này.

Đảng CSVN cầm quyền (cầm tiền) ở Việt Nam càng ngày càng lộ cái dị dạng hai đầu: vừa mang dấu ấn nội-thực-dân trong cơ chế độc tài đảng trị, vừa trao thân cho tân-thực-dân (neocolonialist) dưới chiêu bài “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.”

Các điều khoản trong Hiếp Pháp nhà nước XHCN Việt Nam như “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai” (Điều 18 Hiến Pháp 1992), “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” (Khoản 1 Điều 5 Luật Đất Đai) là hình thức che đậy cho quyền xử dụng trong tay thiểu số tập đoàn cai trị tung hoành cướp đất đồng bào[2].

Qua cơ chế độc tài đảng trị, bọn nội-thực-dân khai thác tài nguyên quốc gia, bán tháo bán đổ, sang nhượng cho thuê bất kể tác hại đến an ninh và môi sinh, ảnh hưởng nghiêm trọng công ăn việc làm, và tước đoạt phương tiện sinh hoạt kinh tế của người dân.

Dưới chiêu bài “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” thì ngân sách quốc gia được đút vào các tập đoàn, tổng công ty doanh nghiệp nhà nước (DNNN), điển hình là Vinashin. Từ đó những “ông chủ trá hình” tha hồ tùy tiện xử dụng và biển thủ nguồn tài chánh này (thuế từ dân chúng, tài nguyên quốc gia, kiều hối, vay mượn nợ ngân hàng quốc tế). Với phương thức văn vẻ “cổ phần hoá” (equitization), tài sản công cộng bỗng dưng biến mất dưới bàn tay phù phép và lọt vào túi những tên tư bản đỏ nằm trong tập đoàn chính trị đầu sỏ (oliarchy)[3].

Mặt khác, cái tập đoàn chính trị đầu sỏ đấy lại hành xử như những người nô dịch thời thuộc địa. Họ chưa (muốn) biết làm thế nào để thoát ra được cái tâm thức nô dịch dù đã đánh đuổi được thực dân Pháp ra khỏi nước. Vì thế các ông “đầy tớ nhân dân” với quyền lực tuyệt đối nhưng sống trong trạng thái tâm lý của kẻ vừa là nội-thực-dân vừa là tên nô dịch cho tân-thực-dân.

Họ vừa ở trong trạng thái trầm uất (depression) tự ti ngu dốt, thiếu khả năng hơn các chủ nhân ông tân-thực-dân, vừa huyên hoang trong chứng bệnh vĩ cuồng vị kỷ (narcicisstic grandiosity)[4]. Vĩ cuồng trong những đề án hoang tưởng Vinashin, dự án đường sắt cao tốc, và công trình lễ hội Ngàn Năm Thăng Long.

Họ hăm hở nhại lại những gì các nước Âu Mỹ thành công để tưởng rằng mình “Cũng ngang hàng với người ta, cũng nói năng đúng mức đàng hoàng …”[5] Họ biển thủ, trộn cắp muốn mua lấy phú quý, vinh quang nhưng vẫn chung quy phường mèo mả, gà đồng.[6]

Hoang tưởng vĩ cuồng cho mình chỉ cần (ăn ba đấu gạo) đổ bao nhiêu công phiếu, nợ nần vào Vinashin là vươn vai Phù Đổng trong khi trình độ kỹ thuật chưa làm được một con ốc đủ tiêu chuẩn công nghệ cao.

Hoang tưởng vĩ cuồng khi nghĩ rằng chỉ cần vay nợ (đời con đời cháu cũng chưa trả hết) làm đường sắt cao tốc là trở thành tân tiến trong khi hệ thống đường sắt cổ lỗ sỉ xuống cấp, vẫn còn lưới sắt chống đá, vẫn còn đổ phân xuống đường rày, và vẫn còn những đàn bò đi trên/ngang qua quốc lộ cao tốc.

Hoang tưởng vĩ cuồng trong khi người dân thiếu đất trồng trọt, không đủ nhà ở thì lại quy hoạch (đầu cơ địa ốc) xây dựng các sân golf, casino, và resort phục vụ những con ông cháu cha, những tân-thực-dân ngoại kiều và Việt kiều.

Mọi thứ đều hoành tráng bên ngoài và tạm bợ nhưng rỗng tuếch bên trong. Họ không hiểu rằng những phương tiện hào nhoáng bên ngoài này không mua được bản chất và cốt cách bền vững lâu dài.

Điều căn bản đáng cần làm là xây dựng hạ tầng cơ sở từng bước một vững chắc (không theo kiểu đầu voi đít chuột, nay làm mai sửa, càng sai càng sửa, càng sửa càng sai) cụ thể như nâng cao mức sống người dân (không theo kiểu từ cao nhỏ giọt xuống – “trickle-down”, làm đầy tớ cho người); nâng cao dân trí (giáo dục miễn phí, tự do ngôn luận và phản biệt) thì không thấy quan tâm.

Không một mảy may đầu tư vun xén cho hạ tầng cơ sở được vững chải mang tính sách lược và hệ thống hóa. Chỉ thấy “phát triển” ngoài da như đi trên mây chẳng bao giờ chạm chân chấm đất.

Nào là xây nhà quốc hội hoành tráng cho đa số nghị ông, nghị bà bù nhìn, gật gù cho đúng khuôn mẫu “dân chủ” kiểu “Đảng ta”. Không thấy xây nhà xí[7], xây thư viện hay lắp cầu[8] qua sông cho người nghèo đi lại, hay học sinh có phương tiện đến trường sinh hoạt căn bản. Chỉ thấy thụ động chờ xem những ai không thể bịt mắt trước đau khổ nhọc nhằn của đời phó thường dân, góp công góp của, và xắn tay vào thực hiện thì “thiên tài” Đảng ta cướp công lấy điểm là nhà nước rất “no”. Nếu không phải là một hình thức nội-thực-dân chỉ cốt phục vụ cho tập đoàn chính trị đầu sỏ và đám ăn theo thì gọi là gì?

Theo ông Memmi[9] thì tâm lý của kẻ thực dân là luôn coi mình có văn minh, tiến bộ, bậc thầy của người bị trị.

Phong tác thực dân luôn nhập vai vào người đô thị, thời thượng. Kiểu cách thực dân thì đương nhiên được nâng cao và phục vụ bởi người nghèo khó túi vá áo ôm. Những người bị cho là “thiếu văn hoá, văn minh” này đa phần xuất thân từ vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Họ bị bần cùng hoá và phải đổ ra đô thị làm cửu vạn, ôsin.

Họ sa vào đường cùng khi phương tiện sinh hoạt kinh tế nông thôn thì đã dần co hẹp do mất đất mất nhà, chi phí sản suất thì vụt cao, giá cả nông sản thì bị dìm ẻm, và thu nhuận của họ không đủ sống qua ngày trong khi lạm phát càng lúc càng gia tăng.

Một số khác đành phải gia nhập đội ngũ công nhân hạng bét cho các cơ xưởng sản xuất xuyên quốc gia (transnational). Họ được gián tiếp huấn luyện trở thành nô-lệ-thời-hiện-đại phục vụ cho giới thống trị toàn cầu.

Đám tân-thực-dân thông đồng với giới thống trị toàn cầu này rất thính hơi với lợi nhuận. Họ nhanh chóng và thường xuyên di dịch từ đô thị này sang đô thị khác tìm mồi. Họ hớt nước cốt trong nồi súp, rồi ra vẻ tử tế thương hại để lại phần xương xẩu sót dưới đáy nồi cho người địa phương. Việt Kiều, Ngoại Kiều thì có khác gì. Cả hai đều hối hả chung tay vào khai thác và nô lệ hoá giới lao động bần cùng.

Ở bên ni, người có học được tiếp xúc với nền văn hóa Âu Mỹ thì đã không ít kẻ bị mờ mắt với nền khoa học, kỹ thuật tân tiến. Trí thức hải ngoại dù cánh tả hay cánh hữu cũng đều dễ bị lôi cuốn vào diễn luận trọng Âu (eurocentrism). Con đường này không chóng thì chày cũng dẫn đến góc tối thực-dân-mới.

Giới có học biết đòi hỏi quyền lợi cho bản thân nhưng lại rụt rè trong việc đòi dân quyền và công bằng cho tha nhân. Họ tậu công ăn việc làm, đạt an sinh cá nhân trong môi trường tự do tương đối và an thân trong vị trí đó.

Họ tự viện cớ ứng xử nhiều kiểu khác nhau để âm thầm trương bảng “không tham gia chính trị” như thể đó là một phạm trù có thể khoanh vùng và cô lập ra khỏi cuộc sống. Họ là những người tự nguyện làm công dân hạng hai, sẵn lòng làm phó thường dân, và chưa dám làm một công dân thực thụ trong xã hội dân chủ phương Tây.

Họ giữ im lặng, chẳng hề lên tiếng hoặc xác định vị thế chính trị nào trước các chính sách kỳ thị về di trú hay bất công trong vấn đề dân quyền, nhất là khi cân nhắc và biết tác động của các chính sách này không ảnh hưởng trực tiếp tới mình. Họ giữ im lặng dù biết các chính sách này vi phạm nhân quyền gây nhiều thương tổn cho các sắc dân hoặc tôn giáo thiểu số mà mình cùng sống chung.

Sự im lặng đáng ngạc nhiên. Vì chính mình tự kiểm duyệt mình trong một hoang tưởng an toàn như con cừu đang đứng giữa được bao bọc bởi bầy đàn và để mặc cho đồng loại bị cắn xé ngoài rìa. Họ muốn lặng lẽ quên gốc gác màu da của mình. May thay cũng có những người không im lặng (Đừng bảo tôi im vì bạn im).

Cũng có người ngụy biện theo chước khác. Họ dùng cái “thinh lặng của thiền định nhà Phật” để lẫn tránh vào nơi an trú. Cái thinh lặng sấm sét truớc kêu gào, rên siết. Họ không thèm hiểu hay quên hẳn rằng một số quyền và tự do tương đối họ đang hưởng là kết quả từ những đấu tranh và hy sinh của nhiều công dân đi trước – những người đã can đảm thực hiện quyền công dân thực thụ. Họ sống ẩn với triết lý và học đường tại vị, che mắt bịt tai để không phải mục kích thảm kịch dành cho giới lao động chân tay và phục dịch – một khối tuy rất đông nhưng sống trong sợ hãi chỉ lo đến miếng cơm manh áo.

Trong khi đó, bộ máy truyền thông bảo thủ được tài trợ bởi giới tài phiệt tư bản xuyên quốc gia biết cách chế ngự đám đông làm nỗi sợ này ngày càng gia tăng. Guồng máy này tiếp tục ra rả đem ông ngáo ộp thất nghiệp dọa dẫm giới lao động.

Tập đoàn tư bản nắm cái cán dao việc làm vung qua vung lại rêu rao đe dọa đóng cửa cơ xưởng, xuất khẩu việc làm, và cắt giảm lương bổng. Chúng đòi được lợi tức tối đa, miễn thuế dài hạn, và giảm bỏ các luật lệ kiểm soát an toàn để tự do tung hoành trong sản xuất.

Giới lao động và công đoàn thất thế, chịu bị ép buộc vào những điều kiện bất lợi. Chỉ vì mong có được việc làm trước mắt nên họ dễ dàng thuần phục theo diễn luận tân-tự-do (neo-liberalism) đánh vào nhược điểm tâm lý mình. Họ hiểu mơ hồ nghe theo ủng hộ các biện pháp có điều kiện bất lợi về lâu dài cho chính họ mà lại vô cùng thuận lợi cho giới chủ nhân ông.

Cả hai giới lao động tri thức và chân tay đều ít lên tiếng phản kháng chống cự vì thói quen cố hữu với phận tôi đòi, hay tránh né sợ sệt ảnh hưởng đến việc làm hay quyền lợi riêng (dù là ảo tưởng và chẳng là bao).

Người ta có thể đưa quốc gia ra khỏi vòng thuộc địa nhưng chưa hẳn là đã đem tâm thức thuộc địa ra khỏi quốc gia.

Những người sinh ra và lớn lên ở VN thời thuộc địa và hậu thuộc địa dù không ít thì nhiều vẫn giữ lại tâm thức người thuộc địa. Một số người ham muốn tranh giành quyền lợi vẫn tiếp tục ôm lấy lề thói xin-cho trong tương tác với quyền lực chính thống cho dù đã rời VN trước đây rất lâu.

Họ xun xoe xin xỏ, chọn lựa bon chen tâng bốc chức sắc chính quyền các cấp. Họ không dám đòi hỏi quyền được tôn trọng và công nhận chính danh sự hiện hữu của cộng đồng. Họ phò tá thay vì chỉ xem những viên chức chính quyền là người phục vụ[10] dân và đáp ứng nhu cầu của người công dân. Rốt cuộc, những người đồng hương lờ mờ của họ chỉ được ăn cái bánh vẽ.

Giới thanh thiếu niên Mỹ gốc Việt sinh ra hoặc lớn lên (lúc còn bé) tại hải ngoại thì lại là một hiện tượng khác. Mặc dù họ không bị vướng tâm thức nô lệ thuộc địa nhưng lại kẹt mắc vào ứng xử suy nghĩ thông đồng với diễn luậnTrắng (Whiteness)[11]. Một diễn luận tạo tầng lớp nô lệ khác, đặc thù là nô lệ văn hoá.

Thực dân thì lắm dạng và nô lệ có nhiều kiểu.

Bản tuyên ngôn nô lệ ra đời (phê chuẩn và phổ biến) ngày 1 tháng 1 năm 1863. Nhưng 100 năm sau người Mỹ da đen qua phong trào dân quyền (civil rights movement) vẫn còn phải tranh đấu không ngừng để đòi hỏi những quyền tự do căn bản cho mình. Họ cũng chưa hẳn đã đạt được trọn vẹn quyền làm người bình đẳng bất khả xâm phạm này.

Mục sư Martin Luther King, Jr. từng kêu gọi người Mỹ da đen phải can đảm phải quyết tâm vực dậy tự thảo cho chính mình bản tuyên ngôn giải phóng nô lệ bản thân[12]. Ông nhắc họ – những tâm hồn nô dịch và tư tưởng bị thống trị không cần gươm đao – rằng không một bản tuyên ngôn giải phóng nào có thể cắt đứt, xóa bỏ những móc xích nô lệ ngoại trừ ý thức và ý chí từ mỗi người.

Chúng ta, những người Việt trong và ngoài nước, cũng nên suy gẫm về điều nhắn nhủ ấy. Thay vì sống chia rẽ, kèn cựa, phân hóa, và tự cô lập thụ động – những hành động suy nghĩ chỉ có lợi cho thế thực dân thống trị mới – chúng ta nên chọn đồng lòng hợp sức thoát khỏi cơn mê chiều[12]. Chúng ta cần tự vực mình dậy mà đi, và tự viết bản tuyên ngôn nhân quyền cho chính cá nhân thì mới mong thoát khỏi cái kiếp lê thê, ê chề của nô lệ ăn mày.

© 2010 VietSoul:21

NOTES:

[1] Hà Văn Thịnh, Tôi sai.

[2] RFA, Khiếu kiện đất đai gia tăng tại Việt Nam. (Video)

[3] RFA, Đằng sau những tập đoàn kinh tế

[4] Alschuler, L. R. (2006). “The psychopolitics of liberation”, Chapter 3 – Decolonization and Narcissism, p.43

[5] Nguyễn Minh Triết “Lòe” Việt Kiều.

[6] danlambao.com, Bí thư Tỉnh ủy Đinh Văn Hùng lấy đâu tiền mua trống 1,2 triệu USD?

[7] Nhà quốc hội hay nhà xí?

[8] VnExpress (2010, August 29). Người lái đò bỏ tiền xây cầu cho dân nghèo. Dân Trí (2010, June 13). Xác định vị trí xây cầu Khuyến học & Dân trí vượt sông Pô Kô.
Tin 180.com (2010, February 14).
Nhóm Việt kiều xây hơn 100 chiếc cầu cho quê hương.

[9] Memmi, A. (1957). “The colonizer and the colonized”.

[10] Tiểu Sài-gòn (Seattle) yêu cầu Thị trưởng: lời nói đi đôi với việc làm, (Little Saigon asks the Mayor to walk the talk), International Examiner, 2009

[11] Cooks, L. (2003). Pedagogy, Performance, and Positionality: Teaching about Whiteness in Interracial Communication. Communication Education, 52(3), 245-257.

Cooks defines whiteness as “a set of rhetorical strategies employed to construct and maintain a dominant White culture and identities” (p. 246). In addition, McLaren defines in his article, Decentering Whiteness: In Search of a Revolutionary Multiculturalism whiteness as “a refusal to acknowledge how white people are implicated in certain social relations of privilege and relations of domination and subordination” (p. 9) [See McLaren, P. (1997). Decentering Whiteness: In Search of a Revolutionary Multiculturalism. Multicultural Education, 5(1), 4-11.]

[12] Martin Luther King, Jr. Speech “Sign your own emancipation” (Ký bản tuyên ngôn giải phóng của bạn)

[13] Hoàng Hạc (2010, February 5). Cơn Mê Chiều, nhạc phẩm thống thiết viết từ bối cảnh Mậu Thân. Trong bài hát “Cơn mê chiều” sáng tác bởi Nguyễn Minh Khôi có đoạn mở đầu sau đây: “Chiều nay không có em, mưa non cao về dưới ngàn. Đàn con nay lớn khôn, mang gươm đao vào xóm làng”

CỘNG ĐỒNG T/B WASHINGTON-SỰ KIỆN VÀ SUY TƯ

HOÀNG PHAN

I SỰ KIỆN:

1.Cộng Dồng của quý Ông Trần Trung Dũng, Quang Adam Nguyễn… phổ biến một thư mời kệu gọi đồng hương đến tham dự tiệc trà ngày tiếp nhận Nghị Quyết vinh danh cờ vàng do Thị Trưởng Seattle trao được tổ chức tại nhà hang Jumbo vào ngày 19 tháng 9 năm 2010. Liền sau đó Cộng Đông của các Ông Nguyễn minh Đường, Lê thiện Ngọ…liền lên net tỏ ý nghi ngờ đây là Nghị Quyết dỏm và gọi đây là trò lừa gạt của Cộng Đồng Ông Dung.

. Đến ngày tiếp nhận Nghị Quyết, đông đủ đồng hương và những người ủng hộ phe Ông Dũng cử hành long trọng lể tiếp nhận tại nhà hàng Jumbo theo đúng chương trình trong Thư Mời. Ngày hôm sau tất cả hình ảnh và văn bảng được phóng lên net, có cả bản chính và bản dịch của Nghị Quyết vinh danh kèm theo hình ảnh Ông Thị Trưởng tuyên đọc trước cử tọa và Ông Trần Trung Dũng nhận lảnh. Nhưng oái oăm thay, trong bản chính mọi người đều nhìn thấy đây chỉ là một bản Recognition ( Công Nhận) do cá nhân ông Thị Trưởng ký chứ không phải là một Resolution ( Nghị Quyết) như mọi người trông đợi. Phía Ông Lê thiện Ngọ liền tấn công mạnh cho là phía Ông Dũng đã “ Treo đầu dê, bán thịt chó” và cái Regconition nầy chỉ là một miếng giấy lộn không hơn không kém. Sau đó vài ngày, phía Ông Dũng không dùng chử Nghị Quyết để kể công nữa mà thay vào đó dùng chử bản Công Nhận Cờ Vàng.

2. Cựu Đại tá Phạm huy Sảnh, chủ tịch liên hội Cựu quân nhân Washington phổ biến thư mời đồng hương đến tham dự lể tiếp nhận bản Vinh Danh Cờ Vàng do Ông Thị trưởng thành phố Auburn và các Nghị viên thành phố trao tặng trong buổi họp hằng tháng của Hội Đồng Nghị viên Thành phố vào lúc 7:00 chiều ngày 18 tháng 10 năm 2010 . Sau đó một ngày, phía Ông Dũng lên net mạt sát ông Sảnh là đã chôm credit của họ, vì chính họ mới là người vận động cho việc nầy chứ không phải là ông Sảnh, và bản công nhận vinh danh cờ vàng sẽ do ông Thị trưởng Auburn đem đến nhà hàng Tea Palace trao cho họ vào đêm 22 tháng Mười cùng với các thành phố Bellevue, Renton…Sở dĩ họ không phổ biến trước vì họ muốn tạo một niềm vui bất ngờ cho đồng hương. Phía ông Dũng đã mạt sát thậm tệ ông Sảnh và các ông phía Ông Lê thiện Ngọ. Thậm chí, Ông Thái Nhật Lỉnh,cũng là một người trẻ, người khai sinh cộng đồng Ông Dũng, người đã từng bị Cảnh sát còng tay tại sở làm vì gian lận hồ sơ trợ cấp xã hội bây giờ lại tuyên bố là sẽ báo Cảnh sát đến Auburn City Hall để còng tay những người thuộc phe Ông Sảnh và Ông Ngọ vì tội mạo nhận Identity để tiếp nhận một văn kiện của chính quyền. Ông Thái nhật Lĩnh mời đồng hương đến xem những người nầy bị còng ra sao. Chiều ngày 18 tháng 10 năm 2010 tại sảnh đường thành phố Auburn, khoảng 30 đồng hương phía ủng hộ Ông Sảnh đã hiện diện và tiép nhận một bản Proclamation của thị trưởng Auburn về việc công nhận cờ Việt Nam Cọng Hòa. Đặt biệt trong buổi nầy có sự hiện diện của Ông Trần Trung Dũng và phu nhân. Theo lời tường thuật của Ông Dũng trên net và với Bia Miệng thì chính ông Dũng cũng không biết tại sao ông thị trưởng Auburn lại mời Ông Sảnh lên để nhận lảnh bảng Proclamation nầy mà trong buổi Lễ đó ông thị trưởng cũng như một số hội đồng thành phố không đề cập tới Ông Dũng.

3. Dến ngày 22 tháng Mười 2010 phía ông Dũng lại tổ chức một buổi tiếp nhận văn bản Công Nhận cờ vàng thật rầm rộ tại nhà hàng Tea Palace của Ông Trần Đức, một thương gia người Tàu đã tích cực ũng hộ Cộng Đồng Ông Dũng và có liên lạc thương mại gắn bó với Cộng Sản Việt Nam trong nhiều năm qua. Ông Trần Dức đã được báo chí ViệtNam ca tụng về sự thành công của Ông ta tại Mỹ và cũng theo bài báo ông Trần Dức đã tiếp nhà báo CSVN tại nhà của Ông [trích bài báo](Ông sống ở Mercer Island và không bao giờ rời xa chiếc điện thoại nắp trượt thường phát một bản nhạc khiêu vũ lạ khi có người gọi đến)[hết trích] Theo như thư mời thì tại buổi lể nầy sễ có 5 thị trưởng kể cả thành phố Auburn sẽ tuyên đọc văn bản. Trong ngày 22-10-2010 cách nhà hàng Tea Palace khỏang một mile đồng hương đã thấy cờ Việt-Nam Cọng Hòa treo dọc hai bên đường và tại nhà hang Tea Palace là một rừng cờ VNCH trang nghiêm được dàn dựng với sự góp công của chính Ông Trần Đức. Trong buổi lể nầy có khoảng 400 đồng hương tham dự nhưng phía ông Trần Trung Dung rêu rao là hơn 700 đồng hương tới dự . Ông BS Nguyễn xuân Dũng tận tình bao xe chở người của ông tận Tacoma/ Pierce county lên. Sau đó vài ngày, theo hình ảnh và tin tức được đua ra trên net và báo chí cộng đồng thì có các vị Thị trưởng hoặc đại diện của các thành phố Seattle, Bellevue, Renton, Federal Way đến tham dự và đọc văn bản.. Riêng thành phố Auburn thì vắng mặt. Trong buổi tiệc nầy, Ông Trần Trung Dũng đã nhận được các Proclamation của các thị trưởng Bellevue, Renton và Federal Way Phía Ông Ngọ đánh phía ông Dũng viện lẽ rằng đây chỉ là một buổi ăn nhậu tại tửu điếm chứ không phải là buổi vinh danh cờ. Điều lạ là trước đó vài hôm, phía ông Dũng đưa lên net một tờ truyền đơn kêu gọi đồng bào tẩy chay buổi vinh danh cờ nầy. Tờ truyền đơn đánh máy tên Ông Phạm huy Sảnh, không có chử ký.( sau đó thì có thư lên tiếng của ông Phạm Huy Sảnh lên án kẻ nào giả mạo danh xưng Hội của ông).
II. SUYTƯ

Chưa bao giờ phong trào vinh danh cờ VNCH lại rầm rộ và nhiều tai tiếng như vừa xày ra tại tiểu bang Washington. Điều đáng mừng là dầu sao, những người tương đối trẽ đã nhập cuộc. Bước nhập cuộc đầu tiên để chơi nỗi là vụ tiếp nhận Nghị Quyết tại nhà hàng Jumbo. Kể từ những ngày đầu thành lập, Cộng đồng “trẽ” nầy đã bị nhiều tai tiếng và chống đối. Người đứng ra làm trưởng ban vận động để thành lập Cộng Đồng nầy là Ông Thái nhật Lĩnh, một người tương đối trẽ, nhưng lại là một người có một quá khứ bất xứng, như việc làm một nhân viên xã hội, Ông lại làm giả hồ sơ để nhận tiền trở cấp của chính phủ theo các tên tuổi và chứng từ không có thật để đến nổi bị cảnh sát theo dỏi và còng tay ngay tại sở làm. Bởi vậy những người chống cộng đồng này ,gọi Cộng Đồng này là cộng đồng tội phạm. Cộng đồng nầy lại có dây mơ rể má với các nhân vật như Huỳnh Thi, Quang Nguyễn… với đầy đủ chứng cớ là đã về Việt-Nam gặp gở cán bộ trung ương của Cộng Sản và có lời lẽ ca tụng Cộng Sản ngay trên web site của họ. Cũng chính Cộng đồng nầy đã nhận sự hổ trợ vô cùng hậu hỉ của thương gia Trần Đức, một người Tàu đã làm ăn buôn bán với Cộng Sản Việt-Nam trong nhiều năm qua. Họ là những người Việt sinh hoạt trong đảng Dảng Chủ của Mỹ. Lợi dụng ưu thế trong mùa bầu cử đã vận động với các đảng bộ Dân chủ địa phương và cá nhân các thị trưởng Dân Chủ để xin các văn kiện Vinh Danh Cờ Vàng ( theo ngôn ngử của nhóm nầy). Điều cần suy nghĩ ở đây là thái độ khinh thường cộng đồng và lập lờ đánh lận con đen của nhóm người tự nhận là trẽ nầy. Họ dư biết rằng cái mà họ có hoàn toàn không phài là một Nghị Quyết thế nhưng trong các giấy mời gởi ra cho đồng hương và trong bản dịch trình làng họ cứ khẵng định đó là một Nghị Quyết. Làm việc đó vì hai lẽ: Thứ nhất họ đánh giá quá thấp trình độ hiểu biết của đồng hương, Thứ nhì, họ đã ma mãnh chơi trò đánh lận con đen, treo đầu dê bán thịt chó. Xảo thuật chính trị đó đáng lẽ không nên có ở những người trẽ có học hành như họ. Trong những ngày đầu, khi bị đồng hương phanh phui văn kiện họ rầm rộ đón tiếp tại nhà hàng Jumbo chỉ là một văn kiện cá nhân của Thị Trưởng Seatle và không có giá trị pháp lý nào cả, họ vẫn còn cố dùng các nicks ma lên diễn đàn để ngụy biện. Đến khi thấy không thể chối cải được họ mới dùng chử Bản Công Nhận để thay thế cho Nghị Quyết. Thôi thì cũng được, dẩu sao thì họ cũng “ có lòng” với lá cờ VNCH chứ không phải là lá cờ máu của CSVN. Nhưng thử hỏi, một lớp người như vậy- Tương đối trẽ và có học- tưởng đâu đem đến một luồng không khí mới cho sinh hoạt cộng đồng với phong cách làm việc thật thà và văn minh hơn lớp người già nua gần đất xa trời đã khuấy động cộng đồng trong 35 năm qua. Ai ngờ đâu, cả phương pháp làm việc và tư cách cá nhân, lời ăn tiếng nói, không bao lâu sau khi xuất hiện cộng đồng, họ đã chứng tỏ chỉ là những bản sao của lớp người đi trước, có phần vượt trội hơn là khác, hãy xem các e-mail nặc danh cũng như hữu danh họ đưa lên net thì đủ biết. Nhất là, lá thư trả lời của Ông Chủ tịch Trần Trung Dũng cho một đồng hương tên Trần Thiên. Lời lẽ vô học như một thằng chăn trâu ở nông thôn Việt Nam ở đầu thế kỷ trước. Rồi còn các e-mail của Ông Thái Nhật Lĩnh, cũng với lời lẽ vô giáo dục không kém lại còn hăm dọa kêu Cảnh Sát còng đầu những người đáng tuổi cha chú mình trong buổi họ đến tiếp nhận Proclamation công nhận cờ VNCH tại city hall Auburn. Thật hết chổ nói cho lớp người hậu duệ nầy….

Từ Recognition chuyển qua Proclamation tại nhà hàng Tea Palace của Ông Trần Đức tại thành phố Renton cũng là một bước tiến khá quan trọng về mặt hình thức và giá trị. Thành công ở đây là it nhất có thêm bốn thành phố nữa, tuy không đạt được Nghị Quyết ( Resolution) nhưng các thị trưởng đã nhân danh chính quyền thành phố Proclaim lá cờ VNCH là cờ của cộng đồng người Việt sinh sống trong thành phố mình. Không ai chối cải rằng làm được như vậy, Cộng Đồng Ông Trần Trung Dũng đã cố gắng nhiều. Điều đáng suy nghĩ ở đây là phía ông Lê Thiện Ngọ,…., đa số là già nua và đáng tuổi cha chú của các Ông Trần Trung Dũng, Thái Nhật Lĩnh…Tại sao quý vị nầy lại tiếp tục tấn công phía Ông Dũng bằng những lý lẽ vô lý như là Proclamation không thể được tiếp nhận ở nhà hàng mà họ gọi là Tửu Điếm, Họ gọi buổi lể nầy chỉ là buổi ăn nhậu, làm nhục lá cờ VNCH. Làm như vậy, phía Ông Lê thiện Ngọ đã chứng tỏ mình không hiểu biết và không xứng đáng để thế hệ con cháu nể trọng. Tuy nhiên, Điều đáng suy gẩm hơn là nhân vật Trần Đức đã hết lòng ủng hộ Cộng Đồng phía Ông Dũng cả công và của. Ông Trần Đưc đã dựng cột cờ VNCH cho buổi lể tại nhà hàng của mình. Hình ảnh cột cờ dựng lên để treo cờ VNCH ở sân nhà hàng ông Trần Đức là một hình ảnh có thể gợi lên một dấu hỏi (?) lớn trong đầu của những người biết suy nghĩ.

Ông Trần Đức là một thương gia Tàu 100%, Ba mẹ ông là người Tàu sống ở Việt- Nam trước năm 1975. Sở dĩ cha mẹ Ông vào quốc tịch Việt-Nam chẳng phải vì yêu mến gì đất nước Việt-Nam mà chỉ vì một Đạo Dụ của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm cấm hành 11 nghề đối với người ngoại quốc sinh sống ở Việt-Nam như bán tạp hóa, thu mua lông vịt chẵn hạn, toàn là những nghề sinh tử của người Tàu. Đói với Ông Trần Đức và gia đình, họ chỉ là những người Việt-Nam giấy. Họ không có một tình cảm nào đối với lịch sử Việt-Nam, Lịch sử của họ là công đức của Mã Viện đem quân dẹp dư đảng phản loạn ở phương Nam là Trưng Trắc và Trưng Nhị được dạy trong các trường Tàu. Trong đời họ chưa nếm qua một chút nước mắm Phan Thiết, Phú Quốc…nào. Gia đình ông Trần Đức và chính bản thân ông ta không hề dính líu gì đến hai nền Cộng Hoà của niền nam Việt-Nam. Ông có sống ở Việt-Nam 20 năm đầu đời sau đó qua Mỹ đến nay. Gần 20 năm qua, Ông đã đi đi về về Việt-Nam làm ăn buôn bán với Việt Cộng và đã được báo chí Việt-Cộng ca tụng hết lời. Theo như trong bài báo của Việt-Cộng ,nói về ông ta thì ông ta đã tiếp đón các nhân vật Việt-Cộng qua Mỹ tại nhà ông. Thử hỏi một người như vậy, hôm nay lại đi ủng hộ Cộng Đồng của Ông Dũng đi tranh đấu cho lá cờ VNCH có phải là điều mĩa mai ?...Trong tâm hồn ông Trần Đức thử hỏi có phần nào cảm tình với lá cờ vàng ba sọc đỏ đã thấm bao xương máu của Dân Quân Cán Chính VNCH ,trong đó có máu đào của 58 chiến sĩ hải quân VNCH anh dũng đánh trả quân Tàu để bảo vệ tổ quốc Việt-Nam năm 1974 ? Nếu nước Tàu bây giờ ( Tổ Quốc Đích Thực Của Ông Trần Đức) là một nước tự do dân chủ không Cộng Sản và nếu nước Tàu hiện giờ không xâm lược Việt-Nam một lần nữa thì việc ông Trần Đức có lòng giúp đở cho công cuộc tranh đấu của cộng đồng Việt-Nam hải ngoại là điều có thể hiểu được . Đàng nầy, nước Tàu hiện nay là nước Cộng Sản đàn anh của Việt-Nam và đang muốn nuốt chửng Việt-Nam trong mưu đồ bành trướng với sự đồng loã của Cộng-Sản Việt-Nam. Nếu quý vị đang đọc bài nầy, đặt địa vị mình là ông Trần Đức, giửa hai lá cờ, Cờ Việt-Nam Cộng Hòa và cờ Việt Cộng, quý vị chọn cờ nào ?, giửa hai cộng đồng, Hải Ngoại chống Cộng và chống Tàu xâm luợc, Cộng Sản quốc Nội thì theo Tàu bán rẽ Tổ Quốc Việt-Nam, quý vi, nếu là ông Trần Đức, quý vị chọn cộng đồng nào ?. Không lẽ Ông Trần Đức lại muối mặt ngồi cùng mâm với người quốc gia Hải ngoại để nghe ra rã những lời chống Tàu Cộng, chống chính tổ tiên ông ta ?. Tại sao ông Trần Đức lại không chọn mâm của những người với tình bang giao hảo hửu môi răng, mười sáu chữ vàng ?. Đó là chưa kể, Ông Trần Đức nếu thật lòng ủng hộ cộng đồng chống Cộng Hải Ngoại thì làm sao làm ăn buôn bán với Việt Cộng ?.

Thật là bất hạnh cho cộng đồng Seatle và phụ cận, và cũng tội tình cho lá cờ thân yêu đã bị Cộng Đồng nầy đem ra làm cớ để tranh dành danh tiếng hoặc thực hiện những mưu đồ tối tăm. Một bên là những người lớn tuổi nhưng không tài và đức,đã vấp phải nhiều sai lầm . Một bên thì trẽ tuổi lưu manh, liên lạc với những thành phần bất hảo về hình sự và chính trị. Cộng đồng đi về đâu ???…

Hoàng Phan

ngày chớm đông

PHỎNG VẤN ANH HOÀNG PHAN

PHỎNG VẤN ANH HOÀNG PHAN

Kính thưa quý độc giả !

Chúng tôi kính mời quý độc giả theo dỏi cuộc nói chuyện giữa anh em nhóm chủ trương Bia Miệng và anh Hoàng Phan,anh Hoàng Phan là người đã viết bài “Cộng đồng tiểu bang Washington sự kiện và suy tư” năm 2009 nhân ngày Quốc Hận 30 tháng 04,bài viết này đã được đưa lên diển đàn internet,các website cũng như báo chí sư tập từ internet để đăng lại,bài viết này cũng đã được nhiều độc giả khắp nơi gọi điện thoại cho anh Hoàng Phan với tâm tình của người tỵ nạn Cộng sản.

Nhân dịp có một sự kiện xảy ra trong đêm vinh danh cờ VNCH tại nhà hàng Tea Palace ở thành phố Renton tiểu bang Washington,sự kiện đó là “Một vị Thượng tọa đã sửa lời bài Quốc ca VNCH để hát cho phần hát nhạc đấu tranh”. Chúng tôi nhóm chủ trương Bia Miệng có liên lạc với anh để hỏi anh về những suy nghĩ của anh về sự kiện này.

B.M: Thưa anh Hoàng Phan,sở dỉ chúng tôi muốn có cuộc trao đổi này với anh vì: Anh là một người lớp sau chúng tôi,thưa anh ! Anh có thể cho biết anh bao nhiêu tuổi không ạ?

Anh Hoàng Phan: Dạ! Kính chào các anh Bia Miệng,tôi năm nay chỉ có khoảng 45 (cười).

BM: Một người không dính dáng gì đến chế độ VNCH hơn thế nữa bài viết của anh năm 2009 với những lý luận sắc bén,chính xác khi nhìn sự kiện xảy ra trong cộng đồng chúng ta ,để sau đó anh nói lên sự “suy tư” của anh nhân ngày Quốc hận. Thưa anh Hoàng Phan(H.P)! Đêm 22 tháng 10 năm 2010 tại nhà hàng Tea Palace của thương gia Trần Đức ở thành phố Renton có xảy ra một sự kiện,đó là việc một vị sư đã sửa đổi lời bài Quốc Ca VNCH để hát trong phần nhạc đấu tranh. Sự kiện này đã được ông Phạm Xuân Hùng báo Người Việt Ngày Nay ca tụng như sau “ Dịp này ông cũng đóng góp vào phần văn nghệ đấu tranh bằng một ca khúc sửa lời từ bài Quốc Ca đã được cử tọa tán thưởng bằng những tràn pháo tay hoang nghinh nhiệt liệt” Vị Thượng Toạ này tên là Thích Tuệ Minh,thưa anh HP ! Anh có suy nghĩ gì về việc sửa lời bài Quốc ca VNCH?

H.P: Thưa các anh B.M! Tôi rất sửng sốt khi nghe các anh vừa đọc đoạn văn tường trình của báo Người Việt Ngày Nay.Không thể ngờ được một vị tu hành mà chơ ngông đến thế! Thưa các anh! Tuổi tôi còn nhỏ,thời VNCH là lúc tôi học tiểu học,tôi còn nhớ cứ sáng thứ hai là học sinh chúng tôi tập trung trong sân trương để làm Lễ chào Cờ và hát bài Quốc Ca,đến bây giờ dù đã mấy chục năm tôi cũng không quên được lời bài Quốc ca . Khi tiếng nhạc xướng lên tôi biết đó là bài Quốc ca. Theo sự tìm hiểu của tôi thì bất cứ bài Quốc Ca của một Quốc Gia nào cũng được ghi rỏ trong hiến pháp khi thông qua Quốc Hội (tuỳ theo thể chế của nước đó). Không ai có quyền đổi lời,người nào hay tổ chức nào đổi lời bài Quốc Ca thì đó là một xúc phạm lớn .

Thưa các anh Bia Miệng! Tôi cũng vô cùng ngạc nhiên khi biết được không một ai phản đối trong đêm vinh danh cờ VNCH hôm đó,dù rằng có một số Hội Đoàn thuộc quân,cán chính VNCH phụ giúp đêm hôm đó. Thật là khó hiểu nữa là họ vổ tay tán thưởng.

BM: Theo anh thì việc làm đó có chủ đích hay là một sự ngẩu hứng của Thượng Tọa Thích Tuệ Minh?

HP: Cũng khó mà quả quyết được vì chúng ta chưa biết về Thượng Tọa Thích Tuệ Minh ,tôi thì rất dè dặt để kết luận một vấn đề,nhất là quá hệ trọng như vấn đề này. Tuy thế tôi cũng xin phép quý độc giả cũng như nhóm chủ trương BM được phân tích sự kiện ở trên theo sự suy nghĩ của tôi.

Thứ nhất,một vị tu hành đúng nghĩa thì chẳng bao giờ ham vui đến nổi hứng chí sửa lời bài Quốc Ca của nước mình để hát ,dù lời đó được sửa hay hơn,nhưng ở đời vẫn có những cái ngọai lệ mà người thường nghĩ không ra,vẫn chơi ngông dù kẻ đó đi tu.

Kính thưa các anh! Cái ngông này rất nguy hiễm,tai hại vô cùng nó còn xúc phạm đến sự thiêng liêng của một dân tộc,sự thiêng liêng đó là nhạc và lời của bài Quốc Ca.Chúng ta người Việt tỵ nạn không thể thờ ơ được hoặc quá dể dải xuề xòa cho qua chuyện ,để rồi kéo theo mớ hậu quả khi chuyện đã hóa lớn.

Thứ hai, là VC cũng xảo quyệt lắm,ai đã từng sống trong thời kỳ chiến tranh ở VN (riêng tôi thì chỉ nghe qua sách vở ,tài liệu) ắt hẳn đã chứng kiến những thủ đoạn vặt của Cộng Sản,dù vặt nhưng có hiệu quả vô cùng. Biết đâu,tôi nói biết đâu (vì chưa xác quyết được) cái đòn là của VC. Tóm lại là ngẩu hứng hay cố ý chúng ta cần phải chận đứng ngay tức khắc.

BM: Cám ơn anh Hoàng Phan,còn một điều nữa chúng tôi cũng xin anh cho biết ý kiến.Thưa anh ! Có một email nặc danh lấy tên là “nguoidanthamlang” ý nói “chuyện đó là chuyện nhỏ…sửa lời bài Quốc ca để chống việt cộng thì tốt chứ sao…”( tức chuyện đổi lời bài Quốc ca VNCH) .Theo anh thì sao?

H.P: Kính thưa anh ,ở đời người ta thường chết vì chuyện nhỏ,một trận bão lớn không đốn ngả được một cây cổ thụ,nhưng những con sâu nhỏ đục khoét sẽ đốn ngả cây cổ thụ,tôi nhìn lại lịch sử thì thấy mới đầu cộng sản đưa ra những chuyện chẳng ra đâu vào đâu,tưởng như chuyện con nít chơi,nhưng dần dần thấm dần,việt cộng chơi những ngón nghề cũ rích nhưng vẫn có kết quả ,bởi lẻ tính mau quên và thờ ơ của người Quốc Gia,không nên coi thường chuyện nhỏ,phải diệt từ cái mầm đừng để thành cây rồi khó nhổ lắm thưa anh !Chắc các anh các chú,bác thuộc quân đội VNCH có nhiều kinh nghiệm hơn tôi về những chuyện như thế này,nhưng nhìn vào sự sinh hoạt của cộng đồng chúng ta thì hởi ơí! Kinh nghiệm chẳng có,sáng suốt cũng không…Cứ bị lôi đi sền sệt. Có lúc tôi suy nghĩ: “Vì sương gió ,tuổi đời gian khổ như bị tù đày sau 30 tháng 04 năm 1975…Mà một số các chú bác thuộc quân đội VNCH đã mất đi nhuệ khí,mất đi nhạy bén của sự phán đoán,quan sát…Rồi để mính bị lừa.

Chuyện sửa lời bài Quốc Ca để chống cộng như cái anh nặc danh nào đó nói thì quá tệ,nhạc tranh đấu ,chống cộng của VNCH nhiều lắm cơ mà ,sợ hát không hết chứ chuyện gì phải lấy bài Quốc ca để sửa lời.Người ta thường lẩn lộn giửa điểm và diện,nếu để ý một chút là thấy ngay,chịu khó suy tưởng về những sự kiện xảy ra thì thấy được vấn đề.Một người sửa thì trăm người cũng sửa được,như vậy còn gì là bài Quốc Ca.

BM: Một câu hỏi cuối cùng .Thưa anh ! Có một ít người ,chỉ một ít thôi nhưng tôi cũng đưa ra để anh cho biết ý kiến.

H.P: Thưa các anh BM ,tôi biết gì nói đó,suy nghĩ sao nói vậy.

BM: Một ít người đưa ra lý luận của họ là ; “ Tại sao một số người lại cứ đặt vấn đề với ông thương gia Trần Đức ,đâu có phải mình ông thương gia này buôn bán với công sản Việt Nam đâu,nhiều lắm,nếu chống ông Trần Đức thì tại sao không chống, tẩy chay các tiệm buôn của Mỹ như: Macy,Target….Không chống các hảng Boeing,Microsoft vì các hảng này buôn bán với cộng sản VN…?

HP:Thưa anh ! Phải nói thẳng ra rằng đây là một lối suy nghĩ nhập nhằng,một nguỵ biện để đánh lừa thiên hạ đồng thời cũng khỏa lấp việc làm của chính họ .Bất kể một sự việc gì nếu chúng ta xét là xét đến cùng ,xét cho cạn lý mới thấy rỏ vấn đề,chứ còn cái lối suy nghĩ thiển cận như vậy thì chỉ như “mù sờ voi”. Tôi xin được phép phân tích sơ qua ,sơ qua vì trong một phạm vi của cuộc nói chuyện.

1/ Về ông thương gia Trần Đức :

a/ Ông Trần Đức trước năm 1975 ,ông là người Việt gốc Tàu,gia đình của ông(cha mẹ) ở chợ Lớn.

b/ Ông Trần Đức hiện giờ không phải là một thương gia thuần túy như một số thương gia khác.

c/ Ông Trần Đức là một người của cộng đồng (public figure),tôi nói ông là nhân vật cộng đồng vì ông xuất hiện nhiều trước công chúng,ông cũng có đứng ra tổ chức một vài event…

d/ Nhúng tay vào sự sinh hoạt trong cộng đồng người Việt tỵ nạn,từ đó gây ra những mâu thuẩn trong cộng đồng

2/ Về các hảng Boeing,Microsoft ,Macy…

a/ Những công ty này không dính dấp hay nhúng tay vào trong sinh hoạt của cộng đồng người Việt tỵ nạn chúng ta.

b/ Họ không phải là người Việt tỵ nạn cộng sản

c/ Họ không lôi kéo hay nhúng tay vào sự sinh hoạt của người Việt tỵ nạn công sản

Tôi liệt kê những điểm khác biệt kể trên, căn cứ vào đó để phân tích cái lối lập luận nhập nhằng như vậy có đúng không và có dụng ý gì?

Lập trường của một người Quốc gia chân chính ,lập trường của một người tỵ nạn lương thiện chắc chắn là không muốn có sự liên hệ với VC vì, chế độ của cộng sản Việt nam quá tàn ác . Một người Việt Nam khi nghĩ về quê hương Việt nam chắc chắn khác một trời một vực với một chủng tộc khác như Mỹ,Pháp,Đại Hàn….Người Mỹ là người Mỹ ,người Việt Nam dù có tên Mỹ,Quốc tịch Mỹ,có nhộm tóc vàng ,có đánh mắt xanh…như Mỹ nhưng vẫn là Việt nam. Mỹ buôn bán với vc ,Mỹ có tính toán để đem những quyền lợi về cho dân Mỹ,chúng ta buôn bán giao tiếp với vc chúng ta đem lợi gì về cho dân tộc VN? Hay tạo thêm nhiều đau khổ (làm cho vc sống lâu hơn).

Thưa các anh BM! Đọc chuyện Tàu xưa,chúng ta thấy Hàn Tín luồn trôn để làm nên sự nghiệp lớn. Có thấy người thứ hai nào luồn trôn tạo được nghiệp lớn nữa đâu? Nhưng lấy câu chuyện này để nói khi “chính người đó hèn” luồn trôn để sống,luồn trôn để kiếm miếng ăn v.v và v.v

Khi Mỹ lập bang giao với vc ,người Việt tỵ nạn chúng ta cũng đã phản đối rồi,nhưng Mỹ họ làm theo Mỹ ,họ có quyền lực chúng ta đành chịu. Khả năng của chúng ta đến đâu làm đến đó . Các anh nhà binh thì biết rỏ,chúng ta không thể đem đại đội để đánh vào mật khu của vc,dùng đại đội của mình để đánh vào mấy cái chốt lẻ tẻ,diệt được chừng nào tốt chừng ấy, chẳng có ai điên khùng đến nổi la làng lên “ Sao lại đánh cái chốt đó mà không đánh vào sào huyệt…?”

Thưa các anh! Ngoài những lý luận hợp lý ra ,chúng ta còn có một lực vô hình nhưng rất mạnh để ngăn cấm chúng ta không buôn bán,liên hệ với vc,không làm tay sai,không ngồi chung với những người Việt nam tỵ nạn cộng sản bây giờ đã ngồi với vc… Thưa các anh ! Đó là lương tâm của mỗi người. Lương Tâm có cho phép chúng ta thù tạc với cộng sản VN hay những kẻ có liên hệ với bọn chúng khi đất nước vẫn còn điêu linh,dân vẫn bị tước đoạt mọi quyền làm người? Luơng Tâm có cho phép điều đó không? Tôi đưa ra một ví dụ nhỏ là lương tâm có cho phép một ông thuộc quân cán chính VNCH về VN để cặp kè với những cô gái trẻ ,lợi dụng thân xác của cô gái mà tuổi bằng con mình không? Lương Tâm có cho phép về VN ăn nhậu vung tiền , về vùng quê mặt lúc nào cũng vênh vênh…? Thưa các anh! Chúng ta không lý luận dài dòng,không hỏi là tại sao chống ông VN đó buôn bán với vc mà không chống ông Mỹ kia buôn bán với vc. Nếu những kẻ nào mất hết lương tâm mới lý luận vòng vòng để nguỵ biện cho việc làm “bán rẻ lương tâm” .

Những Hội đoàn quân cán chính VNCH không thèm những vinh hoa dzỡm,không thèm những ưu đải về vật chất,không liên hệ với những kẻ buôn bán với cộng sản VN thì những Hội đoàn đó có chết không? Cái lợi có là bao mà họ đã đánh mất giá trị của chính họ và Hội đoàn của họ . Nếu có lòng với lý tưởng thì cần gì ai giúp đở ,đồng đội cùng ngồi lại với nhau,cùng đóng góp vật chất lẩn tinh thần để cùng nhau đi nốt đoạn đường còn lại ,theo tôi nghĩ là rất hay ,sẽ được các lớp sau kính trọng,đàng này họ bám vào những kẻ giàu có như vậy được lợi gì cho dân tộc ,cho công cuộc đấu tranh chống công sản VN? Hay là họ lý luận “Hàn Tín luồn trôn”?.

BM: Cám ơn anh HP.

TẠI SAO ÔNG ĐẠI ÚY ĐẶNG GHI VẠCH ĐỊNH KẾ HOẠCH TẤN CÔNG HỘI THỦ ĐỨC TIỂU BANG WASHINGTON ?

Chuyện lộn xộn trong Hội Thủ Đức tiểu bang Washington bây giờ không giới hạng trong nội bộ của Hội nữa ,sự việc này đã nổ tung khắp nơi ,những thông báo của ông nguyễn Đồng Duy,lá thư của ông Đặng Ghi gởi cho ông Duy được các ông này tung đi khắp nơi với chủ đích của họ,chúng tôi đưa ra bằng những chứng minh để quý vị trả lời câu hỏi,một câu hỏi mà có lẻ không ai quan tâm đến Cộng Đồng,Hội đoàn mà không đặt vấn đề. Câu Hỏi đó là : Tại sao hai ông Nguyễn Đồng Duy (chủ tịch) và Đặng Ghi(ủy viên ban lảnh đạo) đã tấn công Hội Thủ Đức? Những tài liệu sau đây giúp quý đồng hương giải đáp được thắc mắc về vụ việc này.

Trước hết chúng tôi mời quý độc giả tìm hiểu sơ qua một vài đặc điểm của hai ông này.

1/ Ông Đặng Ghi:

a/ Ông Đặng Ghi là một đại úy QLVNCH ở tiểu khu Tuyên Đức.Ông đã từng bị VC bắt làm tù binh năm 1972 khi còn ở trung đoàn 40 ,sau đó được trao trả sau khi có hiệp địng Paris . Ông Đặng Ghi(ĐG) đi diện HO sang Mỹ,ông là người ưa hoạt động trong các hội đoàn,Hội đoàn chính của ông ĐG là Trung Tâm Văn Hóa tiểu bang Washington,lúc đầu trung tâm này hoạt động rất mạnh dần dần một số người không tham gia nữa,ông ĐG vẫn đứng làm trụ cột (dù chỉ còn tên chứ thực chất Trung tâm này ra ma ),để lấy danh Trung Tâm này đi đến các Hội Đoàn khác trong dịp Lễ lộc. Trung Tâm này nay bị mang tiếng là số tiền ban đầu đồng hương đóng góp nay đã đâu rồi? Không nghe ông ĐG nói đến.Ông có chuyển đến cho một Hội bất vụ lợi khác không? Hay đã tiêu pha vào công việc gì? Hoặc đang tồn quỷ? Nhiều câu hỏi chung quanh việc tiền bạc này,nghe đâu số tiền lên đến hàng chục ngàn?

b/ Lập trường chính trị:

Quan điểm của ông ĐG là liên hệ với bất cứ cá nhân,đoàn thể hay Hội nào dù là họ có qua hệ mật thiết hay chủ trương giao hảo,buôn bán với Công sản Việt Nam ,lập trường của ông được thấy rỏ qua những hoạt động của cá nhân ông ( Kính mời quý vị xem phần tài liệu phía dưới).

2/ Ông Nguyễn Đồng Duy:

a/ Ông Nguyễn Đồng Duy là một giáo viên bị động viên vào Thủ Đức khóa 4/71,sau đó biệt phái về đi dạy lại.Ông xưng là giáo sư( không hiểu đệ nhất hay nhị cấp),nhưng người bạn cùng trung đội trong quân trường cũng như một số người Quảng Nam nói ông Duy chỉ là giáo viên . Ông vượt biên sang Mỹ ,ông cũng tuyên bố ông đậu kỹ sư . Ông Duy cũng khoe khoang là từng đã sinh hoạt nhiều Hội đoàn( ở các tiểu bang khác) . Trước đây ông Duy làm Hội Trưởng Hội Quảng nam Đà Nẵng ,nhiệm kỳ chưa hết,những việc làm sai trái của ông như: Thâm lạm công quỷ của Hội,vừa Hội Trưởng vừa Thủ Quỹ…. Ông bị ban chấp hành của Hội truất phế. Đặc tính của ông Duy là thích mang hia đội nón để show up trước các buổi Lễ, ông Duy không có khả năng điều hành một Hội đoàn,nhược điểm của ông là nói lắp ba lắp bắp,thích nghe theo kẻ làm bậy còn người làm đúng không chịu nghe.

b/ Lập trường chính trị:

Quan điểm của ông Duy giống như ông ĐG,nơi nào cũng được miển là được trình diển bởi những lời giới thiệu “ Chúng tôi xin giới thiệu đến quý vị ông chủ tịch Nguyễn Đồng Duy….”

Kính mời quý độc giả theo dỏi những hoạt động của ông Đặng Ghi sau đây

From left to right: Thao Tran, Thi Huynh (VABAW), Peter Chu (VABAW), Kim Tran (VABAW), Ho Chi Minh City Vice Mayor Mrs. Nguyen Thi Hong, Buu Lam, Thuy Nguyen-Leeper (VABAW), and Lam Nguyen-Bull (VABAW).

[Note: Picture shows Quang Nguyen (WaVA) standing right behind Thuy Nguyen-Leeper]

Đặng Ghi phát biểu cảm tưởng tại Dạ tiệc hằng năm của Luật sư đoàn VABAW, ngày 7/11/2007

(Người đứng đằng sau: Luật sư Ty Hồ (thành viên Luật sư đoàn VABAW)


Đặng Ghi được Hội Luật sư (VABAW) khen thưởng

4 không phát triễn từ nội quy của Hội Cựu SVSQTĐ/WA ,ông Duy nhận từ một niên trưởng trong ngày Lễ Tết trước hàng trăm đồng hương và đồng môn và hứa đi đúng lập trường của Hội

*Nhân danh và thừa uỷ nhiệm các cơ chế của Hội Cựu SVSQ/TB Thủ Đức Tiểu Bang Washington:

Tôi Đặng Phùng Diễm, TB Tham Vấn của Hội có đôi lời nhắc nhở Tân CT Hội nhiệm kỳ 2010-2013 những điều sau đây:

“Với chức vụ CT. Hội Cựu SVSQ/TB/Thủ Đức TB Washington, lúc này hơn lúc nào hết, ông CT cần nắm vững lập trường của Hội.

Ngoài việc phát triển Hội, ông CT cần bảo vệ lập trường của Hội:

1. Hội Cựu SVSQ/TB/ Thủ Đức TB Washington không chấp nhận đảng Cộng Sản Việt Nam và nhà cầm quyền độc tài toàn trị do họ thiết lập.

2. Không hợp tác với các tay sai của Cộng Sản Việt Nam.

3. Không hợp tác với bọn có ý định hòa hợp hòa giải với Cộng Sản Việt Nam.

4.Không đứng chung hàng ngũ với bọn làm ăn và giao thương với Cộng Sản Việt Nam.

Qua các thông báo của ông Nguyễn Đồng Duy và thư của ông Đặng Ghi gởi Nguyễn Đồng Duy một độc giả của BM đã gởi đến một nhận xét dí dỏm sau đây,chúng tôi mượn bài viết ngắn này để kết luận về những hành động của hai ông GHI và DUY.

Qua những tiêu chuẩn.

1/ Học vấn:

_Không ra nổi một thông báo theo lời tố cáo của những người thuộc Hội QNĐN trước đây.

_ Không hiểu nỗi nội quy Hội Thủ Đức nói gì?

2/Khả năng điều hành:

_ Không đọc,không hiểu áp dụng nội quy mà phi phạm trắng trợn.

_ Ăn nói không đâu vào đâu,lắp bắp ,lương lẹo…

3/ Tư cách:

_ Lạm dụng công quỷ của Hội QNĐN lúc còn làm chủ tịch (theo tài liệu có chứng minh)

4/ Bản lảnh:

_ Dám tuyên bố “Đã đâm thì phải đâm cho lút cán……”( Đâm ai?Đâm đồng môn Thủ Đức chứ ai nữa)

Nguyễn Đồng Duy đã bị “xúi” nhảy lên lưng cọp,rét quá toan nhảy xuống nhưng,người xưng là “anh” (ĐG) đã không cho xuống,với ẩn ý xuống là “cọp vồ ngay”

1/ Sẽ lui vào hoạt động ngầm:

_Tuyên truyền,tuyển mộ ,cảm tình viên

_ Những người tự ái cá nhân,bất mản và những người không thực hiện được ý đồ bất chánh

2/Bố trí nằm vùng

3/ Tạm thời rút vào bưng (chiến khu).”Rút vào hoạt động ngầm” để chờ cơ hội Tổng khởi nghĩa

Đi đúng sách lượt mà những người Quốc gia chống Cộng đã bị thấm đòn.

* Sau đây là lá thư của ông Đặng Ghi gởi Nguyễn Đồng Duy .Bạch thư lệng tổng tấn công Hội Thủ Đức WA

Duy thân,

Sáng nay anh có gọi lại Duy sau khi nghe lời nhắn về vấn đề hoản lại ra Bản Tin ” hãy án binh bất động, chờ 7,8 tháng xem tình hình như thế nào rồi mới cho ra Bản Tin”, ý kiến này của anh Long.
Anh hoàn toàn không đồng ý, lý do:
1- Bản Tin 11 & 12 – 2010 lần này rất quan trọng cần phải cho ra lúc này là đúng thời điểm, vì những hình ảnh để chứng minh những hoạt động trong năm, những điều chúng ta trình bày qua bài viết có tính cách thời sự: – a) Vừa là để báo cáo những hoạt động do Duy điều hành trong một năm qua (mặc dù bị khống chế bởi Hùng, Diễm, Huỳnh Kim Anh…), những gì chúng ta trình bày trong Bản Tin này sẽ không còn giá trị, vô nghĩa vì không hợp thời nếu để chờ 7, 8 tháng !
b) Chúng ta đang ở thế thượng phong, chúng ta cần tấn công liên tục để tạo khí thế, nhờ vậy chúng ta lôi kéo sự ủng hộ những đồng môn đã rời bỏ Hội trước đây (chính họ đã biết những gì trong Hội làm họ bất mãn là do những ai tạo ra, họ càng khâm phục Duy, càng thông cảm những khó khăn mà một người Hội Trưởng phải đương đầu) nay chính họ sẽ là những người tích cực ủng hộ Duy mạnh nhất, những đồng môn chưa gia nhập Hội trước đây vì thấy những người trong Hội như Nguyễn Q. Hùng, Đặng P. Diễm, Nguyễn Đ. Lãng theo phe cánh Ph. H. Sảnh, Tăng Phước Trọng….chẳng làm được gì trái lại tạo ra xáo trộn trong cộng đồng, sau này lại thêm Bùi Q. Hùng, Huỳnh K. Anh vào trong Hội họ lại càng chán ngán. Nay chúng ta, nhất là Duy đã tạo một bộ mặt mới, Hội đã lột xác 100% do đó anh em rất vui, anh được biết số người sẽ gia nhập vào Hội rất đông.
c) Chúng ta phải chứng tỏ Hội đang hoạt động, và hoạt động rất mạnh, có như vậy anh em đang ủng hộ họ mới phấn chấn tinh thần để giúp chúng ta phát triển, đồng thời những đồng môn muốn gia nhập vào Hội mới gia nhập, chứ Hội bất động như Long đề nghị là thất sách, có nghỉa chúng ta làm anh em đang có khí thế sẽ xuống tinh thần, những người muốn gia nhập Hội sẽ không có cơ hội gia nhập làm Hội viên, đồng thời chúng ta tạo cho họ sự ngờ vực khả năng điều hành, họ không biết chúng ta đang làm gì đây?…từ đó họ hoang mang từ chổ ngờ vực …rồi không còn ai ủng hộ, hoặc gia nhập vào Hội!!!, kết quả như thế nào: thảm hại, rồi đâu cũng vào đấy, cuối cùng chúng ta để cho những kẻ phá thối có cơ Hội muốn làm, muốn nói gì tùy tiện vì: Chúng ta BẤT ĐỘNG, anh cho đây là một hành động tiêu cực, thiếu khôn ngoan…
Còn nhiều điều bất lợi khác nữa…nếu chúng ta “bất động” thì Hội H.O, và những Hội khác mời Duy và những anh em khác trong Hội trả lời với họ làm sao đây?
Anh đề nghị Duy cứ tiến hành cho ra Bản Tin càng sớm càng tốt, nhưng thời điểm cho ra BT tốt nhất là sau khi 2 tờ báo phổ biến 2 bài: Thông Báo của Hội, và lá thư Ủng Hộ của những đồng môn ngoài Hội. Lúc đó tinh thần anh em khác sẽ phấn chấn hơn nữa, kể cả A. Long, riêng A. Khánh đồng ý những gì anh đã nói chuyện với nhau rồi.
Duy nên nhớ là Duy đang ngồi trên lưng cọp rồi, không thể hành động nào khác ngoại trừ chiến đấu tời cùng với sự khôn khéo, và can đảm, như Duy đã nói: “đã đâm thì phải đâm cho lút cán”.
-A. Long chẳng biết chúng ta trình bày những gì trong Bản Tin, do đó anh Long không biết tầm quang trong của Bản Tin này với nội dung của BT.
Như anh đã nói với Duy là “chúng ta cho ra Bản Tin lần này rồi ngưng, không cần cho ra Bản Tin kế tiếp, vì chúng ta không hoạt động mặt nỗi để báo cáo”.
Tuy nhiên chúng ta vẫn hoạt động ngầm bằng cách liên lạc những anh em thân tình ở các thành phố để quy tụ từng nhóm, đồng thời mổi  nhóm đề cử người đại diện để liên lạc Duy hoặc anh để thâu nạp Hội viên mới, chúng ta chờ có túc số khả quan, lúc đó chúng ta sẽ báo cho A. Khánh, Long biết, đồng thời lập chương trình mở Đại Hội (khi đó chúng ta có sẳn Hội viên mới đã gia nhập), đây là dịp chúng ta có thêm Hội viên mới, lúc này là lúc Duy chứng tỏ kết quả làm việc trong khả năng điều hành như thế nào cho bọn phá thối biết, chúng sẽ câm họng, nếu chúng lên tiếng chỉ làm cho thiên hạ cười chê chúng mà thôi.

Thân,

A. Ghi

** Khi xem xong tất cả chúng tôi hy vọng hiểu rõ câu chuyện của Thủ Đức ,nếu có gì thắc mắc quý vị cứ gọi cho chúng tôi để biết rõ thêm

Nhóm BM


ÔNG NGUYỄN ĐỒNG DUY ĐI NGƯỢC LẬP TRƯỜNG CỦA HỘI THỦ ĐỨC/WA_ PHẢN BỘI LỜI HỨA CỦA ÔNG

Trước hàng trăm đồng hương và các cựu SVSQ Thủ Đức cùng gia đình ,niên trưởng Đặng Phùng Diễm khóa 4 Thủ Đức thay mặt cho 4 cơ chế Hội ,niên trưởng Diễm đã trao lập trường của Hội 4 không cho ông Nguyễn Đồng Duy trong dịp Lễ Tết 2010,đây cũng là ngày Hội ra mắt tân ban chấp hành cùng các cơ chế khác . Lập trường này đã được đồng hương ,đồng môn cùng gia đình nhiệt liệt vổ tay ủng hộ(xin xem video).

Nay Nguyễn Đồng Duy đã đi ngược 180 độ và bất chấp nội quy tự ý ra hàng loạt thông báo để bải nhiệm các ông : Nguyễn Quốc Hùng (trưởng ban lảnh đạo)_ Nguyễn Công Ba ( phó chủ tịch)_ Bùi Quốc Hùng ( tổng thư ký),việc làm này được sự hổ trợ tích cực của ông Đặng Ghi.

Lập trường 4 không của Hội :

Với chức vụ CT. Hội Cựu SVSQ/TB/Thủ Đức TB Washington, lúc này hơn lúc nào hết, ông CT cần nắm vững lập trường của Hội. Ngoài việc phát triển Hội, ông CT cần bảo vệ lập trường của Hội:

1. Hội Cựu SVSQ/TB/ Thủ Đức TB Washington không chấp nhận đảng Cộng Sản Việt Nam và nhà cầm quyền độc tài toàn trị do họ thiết lập.

2. Không hợp tác với các tay sai của Cộng Sản Việt Nam.

3. Không hợp tác với bọn có ý định hòa hợp hòa giải với Cộng Sản Việt Nam.

4.Không đứng chung hàng ngũ với bọn làm ăn và giao thương với Cộng Sản Việt Nam.

Kính mời quý độc giả xem video dưới đây:



KỲ ĐÀ – CẮC KÉ- KỲ NHÔNG

Vietsoul:21

Phó thường dân (4): Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông

Kỳ đà là cha cắc ké

Cắc ké là mẹ kỳ nhông

Kỳ nhông là ông kỳ đà…

Lúc còn nhỏ phó thường dân tôi hay cặp kè lũ con nít trong xóm hát ba câu trên, lập đi lập lại cho đến khi mỏi miệng thì … nghỉ. Chẳng biết ai đặt ra mà đám con nít chúng tôi cũng không thắc mắc bài này mang ý nghĩa gì. Nghe dzui dzui mắc cười dzậy thôi khi tưởng tượng cái vòng vo rối rắm giữa thằng cha kỳ đà cản mũi, lũ cắc ké xạo ke, và con mẹ kỳ nhông lật lọng đổi màu. Dzậy chứ ba câu này khi chợt nghĩ lại hổm rày thấy mua vui cũng được vạn ngàn trống canh.

Thiên hạ đang lao nhao bàn tán chuyện Đại hội đảng CSVN XI. Phó thường dân tôi mới lướt qua vài bài báo, dăm phát biểu mở đường thì thấy sao mà nó giống y chang như hiện tượng nhập nhằng kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông mà lũ con nít trong xóm hát chơi vui ngày xưa.

Lẽ ra thì chuyện đại hội đảng CSVN có mắc mớ gì đến người dân—những mặt thầm lặng quanh năm chẳng ai thèm để ý tới, nhất là những phó thường dân như tui. Đúng vậy, đại hội một đảng phái thì chỉ dành riêng cho đảng viên của họ. Bầu bán ai ai, cương lĩnh gì gì cũng mặc kệ người ta. Chẳng có gì thay đổi hay ảnh hưởng tích cực cho ai từ bao năm nay rồi.

Trên nguyên tắc quân bằng và đối trọng trong quyền lực và tác nhiệm, ba ngành tư pháp, lập pháp, hành pháp của một quốc gia phải độc lập không lệ thuộc nhau. Điều quan trọng nhất là không bị một đảng phái nào ảnh hưởng trụ trì cả. Các đảng phái có thể nắm quyền chấp chính sau khi được người dân tín nhiệm bầu vào thành phần đa số. Tuy nhiên, họ vẫn phải luôn đối tác, thương lượng, liên hiệp với các đảng phái thiểu số khác để đề xướng, thông qua, và thi hành các chính sách của quốc gia.

Thế nhưng cái Đảng CSVN chơi trò lắc léo! Chúng ôm trọn quyền, tự biên tự diễn, tự bầu bán cho nhau vào những chức vụ trong cả ba ngành của nhà nước. Đó là hiện tượng khác biệt cơ bản nhất của một chế độ độc tài, khác hẳn với tinh thần của những đảng phái chính trị thuộc các nước tự do dân chủ trên thế giới. Vì dzậy nên bàn dân thiên hạ, và ngay cả những phó thường dân như tui, mới phải chộn rộn bàn tán xôn xao.

Người ta đa số viết và nói bàn theo kiểu văn vẻ chữ nghĩa. Riêng phó thường dân tui thì hiểu đơn giản theo kinh nghiệm sống của mình mà thôi. Do đó tui thấy cái đảng CSVN này xem ra chính thị là lũ kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông. Hơn thế nữa, Đại hội đảng XI đang diễn ra thật chỉ là đại hội đèn cùi.

Để phó thường dân tôi giải thích cái nhận xét của tui là tại sao đảng CSVN là kỳ đà cản mũi nghe. Chủ nghĩa cộng sản thì đã bị diệt vong, và rơi vào thùng rác của lịch sử từ hơn ba thập niên. Thế mà tập đoàn bộ chính trị cực đoan đáng là tội phạm vì lạm dụng quyền lực tối đa để khăng khăng kiên định lập trường chủ nghĩa Mác-Lê, và để tiếp tục chuyên chính độc quyền cai trị. Trong khi các quốc gia trên thế giới tiến bộ chọn lựa chiều hướng chính quyền dân chủ tự do thì CSVN cố khư khư ôm bám định chế “xã hội chủ nghĩa” (theo nghĩa hẹp của độc tài chuyên chính và thời kỳ quá độ).

Đảng CSVN ngày càng đi ngược lại cao trào tiến bộ của nhân loại, tiêu diệt hủy hoại tiềm năng dân tộc, và nhận chìm ước vọng mòn mỏi của toàn dân: muốn có những quyền làm người cá nhân căn bản và được tự do dân chủ trong xã hội. Như vậy thì không thể biện hộ hay chối cãi gì được nữa. Đảng CSVN là một đảng cực kỳ phản độngii, là kỳ đà cản mũi cản trở tiến trình phát triển xã hội của đất nước VN, và tự tách biệt mình ra khỏi cộng đồng thế giới.

Thứ hai, tui thấy Đảng CSVN là đám cắc ké xạo ke. Tập đoàn quyền lợi thiểu số đảng CSVN đã dùng hình thức lừa đảo kiểu “sở hữu toàn dân” để bán đất, bán rừng, bỏ biển thu lợi cho riêng mình, và bành trướng của cải quyền lực cho gia tộc đàn em của mình (nhưng vênh vang tuyên bố tài sản là “cộng”, là của chung!). Bộ phận giàu có nhất trong xã hội là các phần tử liên kết với quân đội, công an phục vụ cho đảng cho bè lũ chức quyền ma-phi-a.

Đây là bè lũ bất nhân. Chúng bất kể tai hại, hiểm nguy đến đời sống người dân, đến an ninh quốc gia. Chúng tẩu tán tài sản quốc gia qua “cổ phần hoá” (chia chác riêng), tẩu tán những tài sản công cộng, và biển thủ vốn đầu tư doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hằng loạt y như kiểu Vinashin—chỉ khác mức độ cường độ mà thôi.

Chúng nói là đầy tớ nhân dân nhưng hành hạ nhân dân vô kể như “chuyện dài ở huyện”. Chúng hứa lèo bằng cách nói nho nhỏ là nhận trách nhiệm sai trái đã xảy ra, nhưng rồi lại chẳng khi nào chịu trách nhiệm bằng bất cứ một hành động cụ thể nào. Chúng báo cáo công việc theo kiểu “báo cáo vị báo cáo”iii. Nói suông, nói cho có cho được, nói xạo.

Hãy nghe cắc ké Đinh Thế Huynh—Chủ tịch Hội nhà báo Việt Nam—vừa mới tuyên bố (xạo ke):

Ở Việt Nam không có nhu cầu đa nguyên, đa đảng và dứt khoát không đa nguyên đa đảng. Bởi một lẽ đơn giản, chúng tôi đã từng thử nghiệm đa nguyên đa đảng thông qua cuộc tổng tuyển cử năm 46, với nhiều đảng tham gia Quốc hộiiv. Nhưng đến khi thực dân Pháp quay lại xâm lược nước tôi thì chỉ có Đảng Cộng sản cùng với nhân dân Việt Nam chiến đấu chống lại và giành thắng lợi trước thực dân Pháp. Và nay, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn đang tiếp tục lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Sự thật ra sao? Việt Minh đã kêu gọi các đảng phái và thành phần không đảng phái đứng vào liên hiệp cứu quốc chống thực dân. Sau khi đánh bóng được nội các chính phủ trước toàn dân và thế giới thì họ đã mưu chước để lập tức loại bỏ, thủ tiêu, ám sát các thành viên Việt Cách, Quốc Dân Đảng, Đại Việt, v.v…v

Những ai may mắn “bỏ chạy lấy thân” thì còn sống sót. Ngay cả các người trí thức không đảng phái tham gia kháng chiến rồi cũng phải trốn hàng ngũ về thành vì nhiều nguyên nhân: bị chính ủy áp đặt chủ thuyết cộng sản ép buộc tham gia, bị đấu tranh tư tưởng, bị cưỡng bức làm chuyện trái đạo lý, tình người. Một số người trí thức sẵn sàng quên quyền lợi cá nhân và cố hy sinh chịu đựng trong thời chiến tranh để rồi bị trù dập, đày đọa, đấu tố sau khi cách mạng thành công chỉ vì đòi hỏi tí quyền tự do và nhân phẩm không chỉ cho bản thân mình.

Nhóm Nhân Văn Giai Phẩm là một thí dụ điển hình nổi bật. Còn biết bao người không tên tuổi khác đành âm thầm cam chịu trong bóng tối. Ngoài việc đảng CSVN chủ trương “cải cách ruộng đất” tiêu diệt “trí, phú, địa, hào”, họ còn dùng “chấn chỉnh tổ chức” để loại trừ tất cả thành phần không cộng sản đang nằm trong các tổ chức chính quyền, bất kể những người đó đã hy sinh và có công lao hy sinh vì chuyện chung đất nước.

Dzậy thì mấy anh cắc kè văn nô này nói giỡn hay nói chơi dzậy cha nội! Các anh nói “dân chủ”, “tự do” theo kiểu “các bạn được quyền thích và tự do lựa chọn bất cứ màu gì, đây là màu đỏ duy nhất, mời các bạn tự do chọn (nhận).”

Kiểu tự do lựa chọn này làm phó thường dân tôi liên tưởng lại thời thơ ấu. Xã của tôi rất nhỏ nằm dọc quốc lộ chỉ có vài trăm gia đình. Trong xóm có một tiệm cắt tóc duy nhất. Cả đám con nít tui ai cũng được dẫn đi hớt tóc ở tiệm đó. Nhìn qua nhìn lại cái đầu đứa nào cũng giống nhau như ở trong cô nhi viện. Đầu đứa nào đứa nấy y chang một kiểu, kiểu nồi đất. Anh thợ hớt tóc cắt sao thì chịu vậy. Hên thì anh cắt đều tay, xui gặp bữa anh xỉn hoặc mới gây cấn với vợ thì cái đầu lởm chởm. Có phàn nàn thì anh sửa, sửa hổng xong thì anh xởn trọc đầu là xong chuyện. Khi tui bắt đầu lên trung học, đi học ở thị xã, nơi có nhiều tiệm hớt tóc thì mới thoát khỏi kiểu đầu nồi đất ấy. Đảng CSVN muốn vĩnh viễn đè đầu, cưỡi cổ, bịt miệng, trói tay nhân dân hoài vậy sao?

Chưa hết. Đảng CSVN là con kỳ nhông. Chúng thay da, đổi màu tùy lúc, tùy thời. Chúng mị dân để đạt được âm mưu sâu độc cai trị độc tài, áp bức nhân dân. Chúng treo đầu dê, bán thị chó. Chúng trưng bảng chủ nghĩa dân tộc để kêu gọi toàn dân đồng lòng chống thực dân, trong khi che dấu kỹ lưỡng cái nghĩa vụ quốc tế cộng sản.

Việc thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa với hiến pháp dân chủ để chiêu dụ các đảng phái tham gia hầu được công luận quốc tế công nhận. Nhưng ngay sau đó, đảng CSVN cho cán bộ và đặc công ám sát, thủ tiêu, hay chỉ điểm cho mật thám Pháp bắt họ hòng bẻ gãy sức mạnh tập hợp và loại trừ các nhân sĩ yêu nước không cộng sản này. Đảng CSVN có thời lấy tên đảng Lao Động để che dấu cái đuôi chồn cộng sản, để lừa đảo và mị dân nhưng bản chất nó là một đảng độc tài. Bây giờ thì CSVN lại trương bảng “kinh tế thị trường” và thòng thêm cái đuôi (kỳ nhông) “định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Đảng CSVN rêu rao dân chủ qua chủ trương “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, dân làm chủ”. Mèn đét ơi sao mà giống y chang mấy câu ca cẩm “kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông” nghe nực cười ngứa lỗ tai phó thường dân tui quá. Đảng lãnh đạo (độc quyền, độc đoán, độc tài), nhà nước quản lý (theo chủ trương-đường lối-nghị quyết của Đảng), dân làm chủ (nhưng để Đảng “no” dùm bằng cách đứng tên sổ đỏ) thì không phải kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông là gì?

Lúc còn nhỏ thì nghe thấy dzui dzui nhưng tui nói thiệt nè. Dân ta, ngay cả phó thường dân tui, đâu phải là con nít mà Đảng và nhà nước cứ cho nhồi sọ cái điệp khúc “kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông” đó mãi. Thôi bỏ đi tám. Đừng chơi kiểu “tao là tớ, tớ là mình, mình là tao” độc tài, độc diễn mãi như dzậy.

i Đại hội đèn cù lần thứ XI, http://www.danchimviet.info/archives/25474

iii Báo cáo vị báo cáo, blog Giáp Văn, http://www.giapvan.net/2011/01/bao-cao-vi-bao-cao.html

CON DÂN – CON CÁ – CÒ MỒI

  ** Con Cá

 Năm mới sắp đến bà con cô bác hải ngoại bắt đầu rục rịch chuyện đi về Việt Nam ăn/chơi Tết. Ai nấy cũng rần rần chạy đầu trước, lục ngõ sau, hơ hớt hốt hụi cho chuyến về cố hương.

Việt kiều chính hiệu con nai vàng hay người rơm, người rừng nếu không về cuối năm thì cũng ráng gởi chút đỉnh cho anh em, họ hàng hưởng Tết. Dễ thường số lượng kiều hối chính thức cộng với kiểu gởi chui cũng đạt gần 10 phần trăm tổng sản lượng quốc gia chứ không phải chơi. Y chang đàn cá hồi Đại tây dương (Atlantic salmon) mà ông Tưởng Năng Tiến đã ví von về người Việt hải ngoại.[1]

 Người ta nói con cá nó sống vì nước. Vậy mà đám phó thường dân sau 1975 thì hết nước sống. Lớp bị bắt đi cải tạo lao động, lớp bị đánh tư bản mại sản bắt đi kinh tế mới. Lớp bắt đi thủy lợi, phải gia nhập thanh niên “xung phong” (không chịu xung phong thì gia đình bị tổ trưởng dân phố công an phường đến thăm hỏi dài dài). Thế nên mạnh ai nấy chạy tìm đường sống.

 Ngay cả hiện giờ—trong thời kinh tế thị trường “định hướng xã hội chủ nghĩa”—cả đạo quân thời cửu vạn, ô sin lay lắt tìm nước sống. Không thiếu gì người phải bỏ nước ra đi làm người rơm, người rừng, theo dạng xuất khẩu lao động, thông hành du lịch mại dâm, v.v… cá cược đời tàn cho số mệnh nổi trôi, kiểu Vinashin ra biển lớn!

 À mà ta đâu còn chủ quyền biển lớn nào nữa để mà ra? Anh cả nước lớn đã thè cái lưỡi bò dài thòng đớp hết. Tàu thuyền đánh cá nào xớ rớ anh ủi thẳng cho mà chìm xuồng. Ngay cả cỡ “sói biển” Mai Phụng Lưu cũng chào thua, đành chấp nhận bỏ biển, bỏ nghề sinh nhai.[2]

 Đám cá hồi này ra biển lớn, trầy vi tróc vẩy, chịu làm mồi hà bá. Nên có gì đáng ngạc nhiên đâu khi mỗi lần về nguồn là hết xíu quách. Vậy chứ mà xem VTV4 quảng cáo thì khác à nhen.

 Việt kiều người nào người nấy cũng bộ kẻng súng sính, phốp pháp, nhởn nhơ, phơi phới. Những hình ảnh bóng mướt này được lồng trong những lời “ân tình” của bài ca con cá (“dù bất cứ ở đâu cũng chung dòng máu lạc hồng luôn luôn hướng về tổ quốc”). Nghe cái bổn cũ soạn đi soạn lại kêu gọi thống thiết Việt kiều về đóng góp xây dựng quê hương hằng năm một này mà não lòng, rụng rún.

 **Cò mồi

 Năm Mão gần đến cửa rồi nên phó thường dân tôi nhìn lại năm Dần sau lưng để học kinh nghiệm. Lục lọi các tài liệu, và xem lại vài đoạn video trong lưu trữ thì gặp ngay cái cảnh đoạn Youtube tưng bừng “Tết Việt Kiều”[3] kiêm/kèm phóng sự “Đại hội Việt kiều” ở Hà Nội.

 Hổng biết họ đào ra đâu được mấy người Vẹt kiều rất là “ấn tượng” để phỏng vấn. Tiêu biểu những khuôn mặt thì đủ mọi thành phần ca sĩ, văn sĩ, giáo sư, thương gia, cựu chính trị gia. Đủ xị. Những mặt sàng lọc này ca tụng hết cỡ cái tâm tình quê hương nghe thấy rơi ống điếu.

 Dùng thủ thuật khêu gợi lòng luyến tiếc quá khứ thì chưa đủ thấm lòng những “người con xa xứ”—“Việt kiều là máu của máu, thịt của thịt, một bộ phận không thể tách rời của dân tộc”. Quá phải rồi, bán máu thịt xứ người đem về tiếp máu quê hương. Máu mủ gì. Đẩy người ta ra biển thâu tiền, đuổi người ta lên rừng khai hoang, đày người ta vào trại cải tạo lao tù.

 Thêm một nhà văn(g) bên Đức hư cấu “con người không có hộ chiếu là con người vô gia cư”, “dù có tỷ đô cũng không thể mua đươc tiếng bánh chưng sôi lịt sịt bay qua lũy tre làng … có tiếng ríu rít của đám trẻ thơ đang chạy ở cái vườn nhà … hoặc là cái tiếng giết lợn eng éc… hoặc là cái tiếng bò kêu, cái tiếng gà gáy, ở Đức không có”. Mèn đét ơi, anh này văn(g) vẻ mùi còn hơn sáu câu vọng cổ hoài lang.

 Ai đời có gã phát biểu, “Đảng ta đâu chỉ có một người nên không phải độc tài, đảng ta có nhiều người nên rất là dân chủ”. Dân chủ kiểu gì? Kiểu “Đảng lãnh đạo (độc quyền, độc đoán, độc tài), nhà nước quản lý (theo chủ trương-đường lối-nghị quyết của Đảng), dân làm chủ (nhưng để Đảng “no” dùm bằng cách đứng tên sổ đỏ)” thì chính thị kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông rồi!

 Rồi lại thêm một anh chàng GS mào đầu, “Chính phủ đã làm nhiều cho cởi mở, cũng như thể chế chính trị bắt đầu có cái hướng chấp nhận sự khác biệt”. Hổng biết chàng này ở bụi nào ra mà nói nghe quải thiệt. Cởi mở cỡ (hồi) nào đây cha?

 Mẹ Nấm, cô Quỳnh, chỉ viết vài hàng tổng kết thành tích công an cuối năm, trích dẫn báo lề phải 100%, mà đã được mời lên phường (“uống trà”) nghe lên lớp. Cô Tạ Phong Tần, nhà báo tự do “liên quan” đến Điếu Cày và HS-TS-VN, thì được mời đi “uống trà” đến té đái! Chuyện công dân lên phường này mà không vượt kỷ lục trên toàn thế giới[4] như “chuyện thường ngày ở huyện” thì thôi.

 Còn những ai được ưu ái hơn thì xin mời dùng “trà (nhà) đá”. Gần đây nhất là bà Hồ Thị Bích Khương, mục sư Nguyễn Trung Tôn, anh ba Sài Gòn đi nhà đá theo chân Điếu Cày, Cù Huy Hà Vũ, Đoàn Huy Chương, Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và cùng chung số phận với nhiều người đã phản biện với nhà nước trước đây. Đảng CSVN, chính phủ cởi (khóa) mở (nhà tù) tống giam những người đấu tranh dân chủ, nhân quyền, công đoàn, nông đoàn độc lập, tự do tôn giáo thì có. Cởi mở kiểu anh chàng GS này tiếp thị thì vái (dzái) dài thôi.

 Trong đám Vẹt kiều này thì đặc biệt nhất là cặp đào/kép Tuyết Mai/Cao Kỳ thiệt là nhập vai. Ngày xưa phó thường dân coi cải lương trên truyền hình mê nhứt là đào Thanh Nga và kép Thanh Sang. Cũng ưa không kém là kép Văn Chung chuyên đóng vai nịnh thần, gian thần, và dâm quan. Các đào kép đóng vai chánh tà rõ ràng nên cảm xúc thương ghét cũng rạch ròi.

 Bây giờ xem cặp tài tử Tuyết Mai/Cao Kỳ thì hổng biết họ đóng cái tuồng chi. Văn Chung giờ đã về hưu. Còn Cao Kỳ về vườn từ lâu nhưng ráng đóng vai nịnh thần để lãnh “huy chương vàng” bỏ túi. Chắc chắn trăm phần trăm đạt danh hiệu nghệ sĩ ưu tú chứ không phải giỡn đâu.

 Cặp đào/kép Tuyết Mai/Cao Kỳ kể lể đóng góp xây dựng đất nước cái kiểu kiếm cơm à la “thời thượng” không mất li ti sợi tóc nào. Đêm thì hát phòng trà “đem tiếng ca cho đời”, ngày thì hót món phở Mai “quốc hồn quốc tuý” để gầy dựng túi tiền. Hoặc ung dung ngồi sa lông tha thiết gởi lời ủy lạo chiến sĩ ngoài Hoàng Sa/Trường Sa. Thiệt tình hết thuốc chữa.

 Mà tưởng kiểu gì! Chứ lối hành trình về với quê hương đem những năm tháng ngày thừa còn sót lại của đời mình để đóng góp như kiểu gánh hát Tuyết Mai/Cao Kỳ thì hết chỗ chê.

 Phó thường dân tui thấy đảng và nhà nước nên làm mạnh đi—phải thực thi nghị quyết 36 cho thêm phần hiệu quả hơn. Đảng và nhà nước phải suy tính lập kế hoạch làm sao góp hết đám dân vô sản, phá sản, người rơm, người rừng cho về đóng bộ, nhận vai cò mồi (hay “cai thầu văn hóa nô dịch”) để diễn tuồng cho đỡ đời cơ cực.

 Phó thường dân tôi chợt nhớ lại lúc thời đi học xa nhà phải đón xe lam. Ở bến xe nào bao giờ cũng có mấy tay bịp bài ba lá. Mấy tay này luôn có đám cò mồi bảnh bao đứng chung quanh đặt tiền và nhà cái chung tiền cho cò mồi tá lả. Thấy tưởng như thiệt! Đám cò cười hể hả quơ tiền vào túi trong khi luôn miệng thúc người khác cá tiền vào. Nhiều người thấy quá dễ, đặt tiền độ, được cho nhử ăn ván đầu, rồi được đám cò hùa thêm vào, tưởng bở nên hăng máu chơi xả láng. Thế là sạch túi.

 Còn nữa. Ngoài đám cò mồi thì lại có thêm giới Việt kiều thời thượng: sáng (cà) phê, phở; trưa sushi, bulgogi, martini; chiều pasta, vodka; tối phòng trà, ta cứ tà tà.

 Không phải Việt kiều hồi hương, cũng chẳng là cựu lưu vong (expat). Phải gọi cho đúng tên đúng mặt để chẳng hổ ngươi.

 Đây là những nhân vật đã nhập vai đô thị toàn cầu (cosmopolitan) nhuần nhuyễn chỉ dừng chân lãng tử (sojourner) nơi này. Họ tự gắn víu vào thời trang đương đại, va vịn trong văn hoá đa chủng, và sành điệu siêu kỹ nghệ. Họ khoác áo “tân thực dụng” (neo-pragmatism), đóng vai trùm tác nhân cung phụng cho hệ thống tư bản tài chánh xuyên quốc gia, và dĩ nhiên không cần ngâm nga hay gồng mình trong hoạt cảnh khi chọn vai đóng làm nhịp cầu tạo lợi nhuận cho giới thống trị (cả tư bản xanh lẫn tư bản đỏ).

 Những đào kép ni chỉ nghĩ cho riêng mình (me, me, me, and me), và mong vơ được tất cả (having a cake and eat it too). “Thu tiền đô, chi tiền đồng”. Thế nhưng lúc nào cũng sướt mướt đầu môi, rung rung xúc động trước ống kính thu hình để tuyên bố “làm một cái gì cho đất nước”.

 Thôi đi má! Kỹ nghệ phở (bên) Tây thì cạnh tranh không nổi nên đành về vùng đất (thị trường) sơ nguyên ( “Vietnam is still a virgin land!”) để mở Phở Ta hồi 9 giây, 9 phút, 9 giờ ngày 9 tháng 9 năm 2009—mơ “làm thời trang cho sợi bánh phở Việt nam” trở thành “một nét văn hóa thưởng thức thức ăn truyền thống Việt cao cấp”. Thời mở cửa ít xe đạp mà lắm xe máy, nhưng ta về ta đi ô tô (Tadioto) ngao du Ba Vì (Đình) cho bảnh bao nghệ sĩ.[5]

 Quanh đi quẩn lại thì vẫn mòn gương mặt cũ, vài phát ngôn(g) viên đại diện (ai cho / cho ai) Việt kiều để mại dô hàng độc.

 **Con dân

 Qua đại hội XI, Đảng CSVN lại “vũ như cẩn”—qua cương lĩnh xây dựng đất nước trong “thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” và “hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

 Người dân nghe xong mà không tán thán “bótay.com” hay bị tâm thần phân liệt (schizophrenic) thì cũng là chuyện lạ. Cứ như là tay phải tát má trái, và chân trái đá mông phải, nói một đằng làm một nẻo, nửa gà nửa vịt nửa đười ươi. Ai hiểu nổi cái “quá độ chủ nghĩa xã hội” là cái quái gì.

 Thiên hạ chỉ thấy công an quá quắt, cán bộ quá quắt, và bộ chính trị trung ương đảng quá quắt. Đám “đầy tớ nhân dân” tác ai tác quái quá độ này tùy tiện coi trời bằng vung, coi dân là thằng.

 Gần đây nhất Đảng đã đánh tiếng là sẽ chủ trương thí điểm kết nạp chủ doanh nghiệp tư nhân. A hèm, vậy chứ khẩu hiệu “công nông” giờ bỏ đi đâu đây? Hay là đổi thành “thương công nông”? Chắc dzậy rồi. Chỉ đáng thương cho người nông dân bị mất đất khiếu kiện từ năm này qua năm nọ không ai giải quyết. Thật đáng tội cho người công nhân lao động bị bóc lột, lương chết đói chẳng một công đoàn nào trợ giúp.

 Thiệt ra chủ trương “đảng hóa” doanh thương này là một hình thức hợp thức hoá cho băng đảng CSVN tạo chuỗi rễ trong thương nghiệp tự do để nắm trọn hai đầu doanh nghiệp nhà nước (DNNH) và doanh nghiệp tư nhân. Đảng CSVN trở thành chủ xị lãnh tiền bảo kê và nhà cái ăn tiền xâu. Những doanh nghiệp tư nhân vào Đảng sẽ được bảo vệ. Doanh nghiệp tự do sẽ là đám con ghẻ. Hơn chuyện Tấm Cám là chắc.

 Kết quả? Dân ta bị đặt đâu ngồi đó như là con dân. Bộ chính trị, trung ương đảng còn hơn bố của dân.

 Ngày xửa, ngày xưa (ít gì cũng xưa hơn thời cha sanh, mẹ đẻ của phó thường dân này) ở thời vua chúa, con trời (thiên tử) trị vì thiên hạ thì ông vua coi dân như con. Còn bây giờ ra rả, oang oang trên loa phường là Việt Nam đang phăng phăng sang “thời kỳ quá độ” mà sao quay lại thời phong kiến hồi nào vậy cà?

 Tưởng qua rồi tháng ngày “con vua thì lại làm vua, con sải ở chùa phải quét lá đa”. Sao bây giờ có chuyện sắp xếp trắng trợn cậu ấm Nông Đức Tuấn (con cựu TBT Nông Đức Mạnh), Nguyễn Thanh Nghị (con TT Nguyễn Tấn Dũng) thành ủy viên “ưu tú tài đức”? Đám thường dân, phó thường dân vậy rồi thì là mà…sẽ khó (khổ) ba (vạn) đời[6]. Làm sao sống với lũ này được!

 Người dân đâu phải là con giun, cái kiến để cứ bị dày xéo mãi. Người dân không phải là con dân. Phải trả quyền công dân, quyền làm người cho nhân dân Việt Nam.

 Người dân không là con cá, chẳng phải con cò. Họ là những Công Dân.

 © 2011 VietSoul:21

 NOTES:

 [1] Tưởng Năng Tiến – Năm Cọp Nói Chuyện Cá, talawas

 [2] Làm gì khi ngư dân bỏ biển?, Bauxite Việt Nam

 [3] Tết Việt kiều (1, 2, 3)

 [4] Chuyện Hà Sĩ Phu & mấy con đinh vít – Tưởng Năng Tiến, Đàn Chim Việt (danchimviet.info)

 [5] “Viet Kieu”, overseas Vietnamese, are moving home

 [6] Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời, Dân Làm Báo (danlambaovn.wordpress.com)

 ***Các bài liên hệ:

 * Chứng quên tập thể – Collective Amnesia and Rhetoric of Mobilized Participation

 * Tôi là người Việt Nam

  * Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

  * Những cái nhập nhằng không tên – The Unspoken Ambiguities

  * Thời cửu vạn, ôsin – The Age of Day Laborer and Housemaid

   * Lết tới “thiên đường”

  *Chúng tôi (Tự trào – Trí Thức – Tâm Tài)

  * Tôi là người Việt Nam

  * Bịt miệng nạn nhân

 * Tháng Tư Câm

  * Phản bội hay trung thành với lý tưởng?

ĐẶNG GHI ” DUY ĐÃ CỞI LƯNG CỌP…”

Kính thưa quý độc giả!

Theo lời yêu cầu của một số độc giả chúng tôi mời quý độc giả nghe Audio nói về lá thư của ông Đặng Ghi gởi cho ông Nguyễn Đồng Duy nhưng lại post lên diễn đàn Chính Nghĩa. Chúng tôi cũng post lại lá thư của ông Đặng Ghi để quý độc giả tiện bề theo giỏi.

Đặng Ghi nhận ban khen của Hội Luật Sư người Mỹ gốc Việt /WA

**KÍNH MỜI BẤM VÀO PHÍA DƯỚI ĐỂ NGHE AUDIO.


* Sau đây là lá thư của ông Đặng Ghi gởi Nguyễn Đồng Duy .Bạch thư lệnh tổng tấn công Hội Thủ Đức WA

Duy thân,

Sáng nay anh có gọi lại Duy sau khi nghe lời nhắn về vấn đề hoản lại ra Bản Tin ” hãy án binh bất động, chờ 7,8 tháng xem tình hình như thế nào rồi mới cho ra Bản Tin”, ý kiến này của anh Long.
Anh hoàn toàn không đồng ý, lý do:
1- Bản Tin 11 & 12 – 2010 lần này rất quan trọng cần phải cho ra lúc này là đúng thời điểm, vì những hình ảnh để chứng minh những hoạt động trong năm, những điều chúng ta trình bày qua bài viết có tính cách thời sự: – a) Vừa là để báo cáo những hoạt động do Duy điều hành trong một năm qua (mặc dù bị khống chế bởi Hùng, Diễm, Huỳnh Kim Anh…), những gì chúng ta trình bày trong Bản Tin này sẽ không còn giá trị, vô nghĩa vì không hợp thời nếu để chờ 7, 8 tháng !
b) Chúng ta đang ở thế thượng phong, chúng ta cần tấn công liên tục để tạo khí thế, nhờ vậy chúng ta lôi kéo sự ủng hộ những đồng môn đã rời bỏ Hội trước đây (chính họ đã biết những gì trong Hội làm họ bất mãn là do những ai tạo ra, họ càng khâm phục Duy, càng thông cảm những khó khăn mà một người Hội Trưởng phải đương đầu) nay chính họ sẽ là những người tích cực ủng hộ Duy mạnh nhất, những đồng môn chưa gia nhập Hội trước đây vì thấy những người trong Hội như Nguyễn Q. Hùng, Đặng P. Diễm, Nguyễn Đ. Lãng theo phe cánh Ph. H. Sảnh, Tăng Phước Trọng….chẳng làm được gì trái lại tạo ra xáo trộn trong cộng đồng, sau này lại thêm Bùi Q. Hùng, Huỳnh K. Anh vào trong Hội họ lại càng chán ngán. Nay chúng ta, nhất là Duy đã tạo một bộ mặt mới, Hội đã lột xác 100% do đó anh em rất vui, anh được biết số người sẽ gia nhập vào Hội rất đông.
c) Chúng ta phải chứng tỏ Hội đang hoạt động, và hoạt động rất mạnh, có như vậy anh em đang ủng hộ họ mới phấn chấn tinh thần để giúp chúng ta phát triển, đồng thời những đồng môn muốn gia nhập vào Hội mới gia nhập, chứ Hội bất động như Long đề nghị là thất sách, có nghỉa chúng ta làm anh em đang có khí thế sẽ xuống tinh thần, những người muốn gia nhập Hội sẽ không có cơ hội gia nhập làm Hội viên, đồng thời chúng ta tạo cho họ sự ngờ vực khả năng điều hành, họ không biết chúng ta đang làm gì đây?…từ đó họ hoang mang từ chổ ngờ vực …rồi không còn ai ủng hộ, hoặc gia nhập vào Hội!!!, kết quả như thế nào: thảm hại, rồi đâu cũng vào đấy, cuối cùng chúng ta để cho những kẻ phá thối có cơ Hội muốn làm, muốn nói gì tùy tiện vì: Chúng ta BẤT ĐỘNG, anh cho đây là một hành động tiêu cực, thiếu khôn ngoan…
Còn nhiều điều bất lợi khác nữa…nếu chúng ta “bất động” thì Hội H.O, và những Hội khác mời Duy và những anh em khác trong Hội trả lời với họ làm sao đây?
Anh đề nghị Duy cứ tiến hành cho ra Bản Tin càng sớm càng tốt, nhưng thời điểm cho ra BT tốt nhất là sau khi 2 tờ báo phổ biến 2 bài: Thông Báo của Hội, và lá thư Ủng Hộ của những đồng môn ngoài Hội. Lúc đó tinh thần anh em khác sẽ phấn chấn hơn nữa, kể cả A. Long, riêng A. Khánh đồng ý những gì anh đã nói chuyện với nhau rồi.
Duy nên nhớ là Duy đang ngồi trên lưng cọp rồi, không thể hành động nào khác ngoại trừ chiến đấu tời cùng với sự khôn khéo, và can đảm, như Duy đã nói: “đã đâm thì phải đâm cho lút cán”.
-A. Long chẳng biết chúng ta trình bày những gì trong Bản Tin, do đó anh Long không biết tầm quang trong của Bản Tin này với nội dung của BT.
Như anh đã nói với Duy là “chúng ta cho ra Bản Tin lần này rồi ngưng, không cần cho ra Bản Tin kế tiếp, vì chúng ta không hoạt động mặt nỗi để báo cáo”.
Tuy nhiên chúng ta vẫn hoạt động ngầm bằng cách liên lạc những anh em thân tình ở các thành phố để quy tụ từng nhóm, đồng thời mổi  nhóm đề cử người đại diện để liên lạc Duy hoặc anh để thâu nạp Hội viên mới, chúng ta chờ có túc số khả quan, lúc đó chúng ta sẽ báo cho A. Khánh, Long biết, đồng thời lập chương trình mở Đại Hội (khi đó chúng ta có sẳn Hội viên mới đã gia nhập), đây là dịp chúng ta có thêm Hội viên mới, lúc này là lúc Duy chứng tỏ kết quả làm việc trong khả năng điều hành như thế nào cho bọn phá thối biết, chúng sẽ câm họng, nếu chúng lên tiếng chỉ làm cho thiên hạ cười chê chúng mà thôi.

Thân,

A. Ghi

TẠ SAO LẠI THAY ĐỔI ĐƯỜNG LỐI TRANH ĐẤU ?

 

Đinh Lâm Thanh

Nhiều người, trong đó có những vị trí thức cũng như các bạn trẻ thường nói với tôi rằng cuộc tranh đấu chống cộng sản của người Việt Quốc Gia Hải Ngoại đã trên 36 năm nhưng vẫn chưa đi đến đâu ! Chúng ta cần xét lại và phải thay đổi đường lối tranh đấu cho thích hợp với tình thế hiện tại. Trước lời khuyên nầy, thật tình tôi cũng ghi nhận và để tâm suy nghĩ về những gì tôi đã làm trong thời gian qua. Và ngày hôm nay, nhân tiện đọc bài ‘Xuân Hòa Giải Dân Tộc’ phổ biến ở trên net, tôi xin mượn bài viết nầy để bày tỏ thiển ý của một người tranh đấu chống cộng, không ngoài mục đích trả lời những người đã trực tiếp nói chuyện với tôi cũng như với tác giả bài kêu gọi hãy từ bỏ quá khứ và bắt tay hòa giải với cộng sản trên các diễn đàn.

Để đi vào vấn đề, xin tóm tắt thành 3 điểm chính mà nhiều người đã đặt ra với tôi:

1. Trước đây, tranh đấu chống cộng sản xem như có lý tưởng nhưng bây giờ thì đã lỗi thời ! Vì một khi Tàu cộng xâm chiếm Việt Nam thì cộng đồng người Việt Quốc Gia phải bắt tay với cộng sản để chống lại ngoại xâm

2. Bây giờ không còn là thời điểm tranh đấu quyết liệt nhằm giải thể hay xóa bỏ đảng cộng sản, mà phải xem cộng sản là một thành phần của dân tộc. Cần phải mở một lối thoát bằng cách hòa giải hòa hợp để hàn gắn những đau thương giữa người quốc gia với cộng sản.

3. Cộng đồng người Việt Quốc Gia đã làm được gì sau trên 36 năm chống cộng sản bằng mồm và tranh đấu một cách ‘quá khích’ ? Chính hình thức chống cộng nầy đã làm cho giới trí thức cũng như thành phần trẻ hải ngoại chán nản và xa lánh !

Qua các lời khuyên trên tôi hình dung được những người đã liên hệ vói tôi thuộc thành phần nào và họ đang làm gì để cổ võ cho âm mưu hòa giải hòa hợp. Mục đính của nhóm người nầy là chữa cháy và chạy tội cho Hà Nội đồng thời cứu nguy cho tập đoàn lãnh đạo đảng cộng sản đang lún dần xuống vực thẳm.

Xin trả lời từng điểm một :

1. Viện cớ Tàu cộng xâm chiếm Việt Nam để kêu gọi bắt tay với đảng cộng sản Việt Nam chống Tàu là hình thức tuyên truyền không công cho cộng sản. Thật vậy, mới nghe qua thật chí tình chí lý, vì một khi giặc đến nhà thì tất cả mọi người phải gác qua một bên những bất đồng chính kiến để cùng chung sức chống kẻ thù. Nhưng nghĩ lại thì đúng là một nghịch lý, nhất là khi đế cập đến tình trạng đất nước hiện nay. Lý do thật đơn giản, trước tiên phải hiểu tại sao Tàu Cộng vào xâm chiếm Việt Nam một cách quá dễ dàng theo âm mưu nhuộm đỏ vùng Đông Nam Á. Có phải do cộng sản Hà Nội vừa nhượng, vừa bán, vừa dâng từ đất đến biển cho quan thầy của chúng. Thì tại sao người Việt Quốc Gia không hỏi tội bọn bán nước rước voi về giày xéo quê hương mà phải bắt tay với chúng để chống Tàu ? Thằng ăn trộm trong nhà đập vách, lấy gạch, bán trâu, bưng đồ đạc trong nhà đen dâng, đem bán cho người ngoài thì phải nọc thằng ăn trộm nhà ra mà đánh mới phải. Lý do nào không đá động đến thằng ăn trộm nhà mà ra đường gào lên chưởi bới người được dân biếu hay kẻ bỏ tiền ra mua đồ trộm, rồi kê gọi mọi người hợp tác biểu tình chống người thụ hưởng ! Đồng ý rằng việc chống Tàu cộng, kẻ thủ tryền kiếp của dân tộc Việt Nam, là cần thiết và cấp bách. Nhưng không thể mù quáng nghe lời những tên cò mồi tại hải ngoại để rồi người Việt Quốc Gia cong lưng đi đở đạn cho cho tập đoàn cộng sản. Lá bài hợp tác với cộng sản để chống Tàu là một âm mưu ấu trĩ của cộng sản mà chỉ có những người vô ý thức hay bọn cò mồi đón gió cũng như nằm vùng tung ra và cổ võ rầm rộ trong thời gian qua.

Tàu cộng càng ngày càng xâm lấn vào nội bộ Việt nam qua nhiều mặt, không những việc chiếm cứ lãnh hải lãnh thổ, khai thác bauxite mà còn rất nhiều phương diện khác… từ chính trị, quân sự, văn hoá, thương mãi và nhất là gây giống. Chừng vài tháng hoặc một năm nữa những đứa con hai dòng máu Tàu-Việt sẽ chào đời ào ạt và một ngày rất gần đây chúng sẽ lan tràn từ ải Nam Quan đến đến mũi Cà Mau. Lúc đó thì việc đồng hóa dân tộc Việt Nam sẽ xem như đã xong một đoặn đường dài.

Một điều cần phải ghi nhớ nằm lòng : Ngày nào đảng cộng sản còn trên đất nước Việt Nam thì ngày đó Tàu cộng vẫn là quan thầy và xem Việt Nam như một chư hầu hay chỉ là một tỉnh nhỏ. Như vậy, qua lời kêu gọi hợp tác với cộng sản Việt Nam để chống Tàu có nghĩa là đám cò mối đang hướng dẫn người Việt Quốc Gia Kêu hãy duy trì sự sống còn đảng cộng sản Việt Nam để cho Tàu dễ dàng đô hộ. Đây là một âm mưu mà thành phần cò mồi đã lập lờ đi khi chúng đề cập đến việc chống Tàu.

Một điều cần phải ghi nhớ nằm lòng : Ngày nào đảng cộng sản còn trên đất nước Việt Nam thì ngày đó Tàu cộng vẫn là quan thầy và xem Việt Nam như một chư hầu hay chỉ là một tỉnh nhỏ. Như vậy, qua lời kêu gọi hợp tác với cộng sản Việt Nam để chống Tàu có nghĩa là đám cò mối đang hướng dẫn người Việt Quốc Gia Kêu hãy duy trì sự sống còn đảng cộng sản Việt Nam để cho Tàu dễ dàng đô hộ. Đây là một âm mưu mà thành phần cò mồi đã lập lờ đi khi chúng đề cập đến việc chống Tàu.

Chúng ta cần sáng suốt để ghi nhận : Tàu cộng không thấy khó chịu cũng như quan tâm khi chúng ta chống chúng nó. Nhưng bí ẩn bên trong là làm thế nào để người Việt Quốc Gia hải ngoại không được đụng đến đảng cộng sản Việt Nam ! Đây là điểm then chốt. Vì Tàu cộng biết rằng chúng ta hô hào chống chúng nó thì cũng như nước đổ lá môn. Nhưng một khi chế độ Hà Nội bị giải thể, nước Việt Nam sau nầy đi theo con đường không cộng sản thì Tàu cộng sẽ hỏng chân, đồng thời chắc chắn bị chận đứng con đường xâm lăng và âm mưu thanh toán luôn cả vùng Đông Nam Á. VẬY CHỈ HÔ HÀO CHỐNG TÀU CỘNG MÀ KHÔNG ĐÃ ĐỘNG GÌ ĐẾN VIỆC CHỐNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÀ ĐI VÀO ÂM MƯU CỦA BỌN GIẶC TÀU. Nếu còn nghe theo việc cổ võ bắt tay hòa giải hòa hợp với cộng sản nữa thì đúng là chúng ta đã đem nước Việt Nam dâng hai tay cho bọn Tàu cộng. Chính hành động nầy là hình thức giúp cho Tàu cộng duy trì và biến mảnh đất thân yêu của chúng ta trở thành một tỉnh nhỏ của kẻ thù truyền kiếp. Hãy nghĩ lại hởi những ông trí thức cò mồi mất gốc, những ông bà đối lập cuội VT và những anh chị em trẻ ăn phải bã của cộng sản !

2. Kết quả đại hội đảng vừa qua cộng sản đã tuyên bố thẳng thừng là không đa nguyên đa đảng, mà chỉ có độc nhất một đảng cộng sản mà thôi. Vậy người Việt Quốc Gia hải ngoại nghĩ gì về các cò mồi chính trị hay nằm vùng cứ gào ngày gào đêm đa nguyên đa đảng và hòa giải hòa hợp với cộng sản ? Nhiều nhân vật lịch sử, kể cả các tay trùm cộng sản đã nói ‘Cộng sản không thể thay đổi mà phải thay thế’. Nhưng tại sao một số trí thức cũng như thành phần trẻ hải ngoại lại lên tiếng phải xét lại đường lối tranh đấu và bắt tay với cộng sản để xây dựng đất nước ? Không kể thành phần trí thức đỏ, mà trong đó gồm một số trí thức du học từ thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa. Họ là những người nhờ ân huệ của các chính phủ Miền Nam trước, ra nước ngoài du học để mai sau về giúp nước. Chúng tôi là những người ở lại buộc phải bỏ đời sống dân sự, bỏ lỡ công danh nữa chừng để cầm súng chiến đấu bảo vệ cha mẹ và tài sản gia đình họ. Chúng tôi vui lòng hy sinh xương máu và tính mạng để những người được chế độ, thế lực và tiền bạc ưu đãi được yên tâm ra nước ngoài học cái hay cái tốt xứ người. Nhưng không ngờ, vừa ra đến hải ngoại thì đã làm tay sai cho cộng sản Hà Nội, đắc lực phá nát chế độ tự do tại quê nhà trong đó có gia đình dòng họ của thành phần du học. Tưởng rằng những người trí thức tương lai nầy lầm lẫn lúc đầu, nhưng không ngờ đến ngày nay họ vẫn còn chạy theo chiếc bánh vẽ của cộng sản. Đến giờ nầy, nếu nói rằng họ là thành phần trốn quân dịch ngày trước thì cũng còn nhẹ hơn những danh từ khác mà người Việt Quốc Gia hải ngoại có thể gán cho họ.

Đến giờ phút nầy những ai còn ca bài hòa giải hòa hợp với cộng sản thì thật là người không có mắt. Có thể ví dụ để cho những người đui dễ hiểu : Cộng sản xem như là một loại vi trùng vô cùng độc hại. 56 năm qua chúng ta đã diệt trừ chúng bằng những viên trụ sinh cực mạnh. Ngay nay đã thấy hiệu quả vì những con vi trùng gian manh cứng đầu đó đang từ từ đi vào cõi chết. Tại sao lại hô hào đổi bằng các loại thuốc bổ để chúng bình phục trở lại. Quan niệm của tôi, Việt Nam muốn đạt đến tự do dân chủ dân quyền và no ấm hạnh phúc cho người dân thì chế độ cộng sản thì PHẢI BỊ THAY THẾ hay PHẢI BỊ TRIỆT TIEU chứ không thể vực chúng nó dậy để bắt hoà giải hay van lơn cộng sản chấp nhận đa nguyên đa đảng… Tranh đấu là một mất một còn, không thể quý lạy van xin như chủ trương của con rối cò mồi Nguyễn Tiến Trung quý dưới bệ rộng đỏ để van xin một chút ân huệ cho tư do dân chủ

Ngoài ra cần biết thêm một điều nữa: Kết quả của đặi hội đảng cộng sản vừa rồi đúng là một hình thức xoay phiên nhau để cai trị và chúng bắt đầu đưa con cháu là những tên ăn hại đái nát xã hội Việt Nam vào trung ương bộ chính trị nhằm tiếp tục con đường sắt máu của chúng. Ngoài ra đại hội cộng sản đã khẳng định Không Đa Nguyên Đa Đảng mà vẫn tiếp tục con đường cộng sản độc nhất để cai trị thì đúng là một cái tát vào mặt những tên cò mồi cứ kêu réo đa nguyên đa đảng, hòa giải hoà hợp … Hãy mở mắt ra những ông trí thức ‘đang mê ngủ’ những bà ‘chống bạo động’ và những bạn trẻ ‘đòi thay đổi’ !!!

3. Vấn đề ‘chống cộng bằng mồm’ thì Luật Sư Lê Duy San đã viết một bài thật hay. Đây là câu trả lời thật thấm thía cho thành phần lếu láo và bôi bác người Việt Quốc Gia hải ngoại. Trong phần thứ 3 nầy, tôi xin trả lời về vấn đế chống cộng quá khích và bất bạo động của một số người như đã nói ở trên.

Cả thế giới vừa chứng kiến ngọn lửa bạo động từ Tunisie đã hạ bệ tên tổng thống độc tài một cách quá dễ dàng và tổn thất xương máu không đáng quan tâm. Kết quả đem lại chiến thắng vẽ vang cho riêng dân Tunisie đồng thời chứng minh cho thế giới việc vùng dậy của người dân trong một nước, dù ở dưới chế độ nào, là một sức mạnh phi thường không một thế lực nào có thể ngăn cản. Sự vùng dậy của người dân Tunisie qua hình thức bạo động đã gây thành một giây chuyền lan từ Bắc Phi qua Trung Đông và sẽ tiếp tục ở Âu và Á Châu. Hà Nội đã thấy hiểm họa nầy trước sau gì cũng sẽ xảy ra cho tập đoàn cộng sản cầm quyền nên chúng đã chỉ thị cho thành phần nằm vùng, hòa giải hòa hợp phải ra mặt lên tiếng vừa bào chữa vừa đánh trống lảng, hầu xoa dịu và chuyển hướng tranh đấu của các phong trào trong nước cũng như hải ngoại nên đi theo con đường ru ngủ cố hữu của chúng. Trong 36 năm nay cũng vì tranh đấu bất bạo động mà mầm mống cộng sản càng ngày càng mạnh. Trong quá khứ chúng ta đã vuột mất nhiều cơ hội, chẳng qua là vì chúng ta sợ sệt, trùm chăn để xin hai chữ bình an. Xin nhớ rằng không có một cuộc tranh đấu nào, không có một cuộc cách mạng nào không mà đổ máu, không có chết chóc…Muốn thay đổi một chế độ, nhất là một chế độ sắt máu, ù lì như cộng sản thì không thể chờ phép lạ, chờ Mỹ, chờ Âu-Châu can thiệp hoặc…nằm ngữa há miệng ra để đợi trái chín rơi vào cổ họng. Tranh đấu là phải dấn thân, phải đổ mồ hôi, đổ nước mắt và đổ máu thì may ra mới đánh thức được khối đa số quần chúng đang sợ sệt cũng như các nhà dân chủ salon, các nhà trí thức mê ngủ, các nhà tranh đấu trùm chăn ! Chủ trương ‘bất bạo động’ là chủ trương của VT, là một đảng với chiếc võ bên ngoài chống cộng, đóng vai đối lập cuội. Những người lãnh đạo đảng VT đã đi đêm hợp tác để mưu đồ chia cái bánh vẽ cầm quyền với cộng sản trong tương lai. Đảng nầy cũng là con cờ của Mỹ mà Mỹ sẽ xử dụng với hai mục đích : Một là dùng đảng VT làm áp lực răn đe cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn chống cộng trên một vài điểm nào đó. Hai là xử dụng đảng VT làm thành phần hòa giải trong giải pháp chính trị với cộng sản Việt Nam một khi thời cơ chín mùi. Như vậy chúng ta đã thấy, trong quá khứ Mỹ vì quyền lợi, họ đã xử sự một cách ‘đểu cáng’ với một đồng minh ưu tú, là tiền đồn chống cộng ở Đông Nam Á. Nay Mỹ lại âm thầm ‘nuôi’ VT trong chương trình thương thuyết với một vài giải pháp với Hà Nội, nếu ‘lợi thì ăn không lợi thì chạy làng’ trong danh dự. Nếu vậy thì thật là một đại họa cho Dân Tộc và Đất Nước Việt Nam !

Từ lâu tôi đã khẳng định một điều rằng chế độ cộng sản sẽ bị giải thể tại nội địa và bằng con đường độc nhất do sức mạnh của người dân trong nước. Nay với những luồng gió bạo động ảnh hưởng từ những nước bị áp bức thì chế độ cộng sản cũng phải lãnh lấy những hậu quả tương tương tự. Cả dân tộc đang chờ một cuộc tự thiêu giống như hành động của người thanh niên Tunisie (hy vọng chuyên viên đạo diễn tuồng tự thiêu dưới thời Cộng Hòa Thứ Nhất tái xuất hiện biểu diễn vài màn để tạo khí thế !). Đây chính là ngòi nổ, là phát súng lệnh cho toàn dân đứng dậy. Đến thời kỳ chín mùi, cuộc tranh đấu chống cộng sản phải xảy ra và sẽ thành công. Chỉ cần vài giọt máu, một xác người thì trang sử sẽ lật qua.

Điều tối cần thiết là thanh niên phải can đảm đừng sợ, trí thức trùm mền phải tỉnh giấc, các nhà dân chủ sẵn sàng ra khỏi ‘salon’ và giáo hội không còn cấm cản con chiên hành xuống đường. Cộng sản có thể đàn áp một người, mười người, trăm người …nhưng chúng không thể ra tay sát hại khi hàng vạn hàng triệu người dân xuống đường đồng loạt. Tôi đoan chắc luồng giò bạo động từ Bắc Phi và Trung Đông sẽ thổi đến Việt Nam trong nay mai và cuộc chiến lật đổ đảng cầm quyền cộng sản cũng xảy ra và sẽ hoàn tất tốt đẹp trong một vài ngày gần đây mà thôi./.

 Đinh Lâm Thanh

BÌNH VÔI_ BÁI VẬT_ BÀ ĐỒNG

  Phó thường dân (6): Bình vôi – Bái vật – Bà đồng

[tiếp theo kỳ trước: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi]

Thời gian trôi qua hơn 35 năm tôi mới dám nghĩ lại đến phận đời phó thường dân của mình. Chuyện cũ, chuyện mới, chuyện ngắn, chuyện dài, chuyện bên ni, bên nớ.

Bình vôi

Đầu năm mới phó thường dân tôi rảnh rỗi chẳng có việc gì làm nên bắt chước các nhà văn nho xưa tập tành khai bút đầu xuân. Tết nhất nên trong đầu phó thường dân tôi chỉ đặc kín bánh chưng, bánh tét, dưa món, củ kiệu, thịt đông, dưa hành, chè kho, và những món mứt. Thảo nào ngồi mạy mọ mãi chẳng ra chữ nào!

Không rặn ra một chữ nên phó thường dân tôi bỏ giấy bút sang một bên, ngồi gác chân rồi bò càng đọc sách mong chờ sẽ tìm ra nguồn cảm hứng. Ngờ đâu khi đi tìm những bài viết, truyện kể về mùa xuân thì gặp được một tài liệu khá thú vị.

Cũng vào muà xuân năm ấy, cách đây tròn 55 năm, một số nhà văn và trí thức Bắc Hà quần tụ với nhau và cho ra đời hai đặc san có tên là Nhân Văn – Giai Phẩm. Chắc hẳn ai đã sống lớn lên vào thời đó hay tìm tòi nghiên cứu thì vẫn nhớ hoặc nghe bàn về chuyện sóng gió sau khi hai đặc san ấy chào đời. Cuộc bể dâu đã giáng xuống nhiều người – không chỉ những người thai nghén, trực tiếp tham gia xuất bản mà cả những ai gián tiếp và không ít người chẳng liên quan gì đến hai tác phẩm này. Năm ấy, năm Bính Thân, là năm con khỉ nên sau đó rất nhiều chuyện khỉ xảy ra.

Giai Phẩm Mùa Xuân được ấn hành nhân dịp Tết nguyên đán năm Bính Thân 1956. Những số tiếp theo sau đó là Giai Phẩm Mùa Thu 1-2-3, và Giai Phẩm Mùa Đông. Bên cạnh tác phẩm (bài thơ) “Nhất định thắng” nổi bật “có vấn đề” nhất của Trần Dần là bài thơ Bình Vôi ngắn gọn súc tích của nhà thơ Lê Đạt.

Bài thơ “Nhất định thắng” được truyền miệng, rỉ tai vào tận cả các vùng hẻo lánh miền Trung. Thập niên trước 75 thì phó thường dân “Bắc di cư” chúng tôi đang học trung học phổ thông cũng đã được nghe được những câu thơ ấn tượng: “Tôi bước đi, không thấy phố, không thấy nhà.Chỉ thấy mưa sa, trên màu cờ đỏ.”

Chỉ đến mãi sau này khi thời đại “mạng” rộng mở, nhất là khi diễn đàn talawas đăng loạt bài khảo cứu chuyên đề Nhân Văn – Giai Phẩm, thì phó thường dân chúng tôi mới biết đến bài thơ Bình Vôi:

Những kiếp người sống lâu trăm tuổi
Y như một cái bình vôi
Càng sống càng tồi
Càng sống càng bé lại.”
   

Nhà thơ Lê Đạt đã dùng hình tượng bình vôi như một ẩn dụ. Ông ám chỉ và phê phán tệ nạn sùng bái cá nhân lãnh tụ. Tệ nạn này tương tự với với hiện tượng văn hóa thờ ông bình vôi ở miền Bắc và miền Trung.

Theo tục này, những bình vôi hoặc lâu cũ, hoặc mẻ vỡ không còn dùng được nữa thì được đem ra đặt ở gốc cây cổ thụ, cây đa để thờ. Riêng phó thường dân tôi cũng chưa từng thấy hoặc nghe ai trực tiếp bình về tục thờ ông bình vôi này dù định cư ở miền Trung. Bây giờ không biết tập tục này còn hay mất nữa?

Chủ nghĩa cộng sản cũng giống như cái bình vôi thôi. Sau một thời gian dài hơn bẩy thập niên đem ứng dụng ở thành trì cách mạng Liên Bang Sô Viết và hơn 40 năm áp đặt ở Đông Âu, thì người ta đã thất vọng khi nghiệm được rằng nó không khác gì hơn là một chủ nghĩa không tưởng, vô nhân.

Vậy là những người dân sống trong các nước cộng sản Liên Sô và Đông Âu cuối cùng cũng không sống nổi với chủ nghĩa cộng sản. Họ quyết định làm cuộc cách mạng phá vỡ độc tài chuyên chính để xây dựng đất nước tự do, dân chủ. Họ đã tự vạch ra và lên án những tội ác của CS cho mọi người trên thế giới để tránh khỏi hậu họa về sau.

Thế nhưng ở nước Việt Nam ta thì lại khác. Cái bình vôi “thời kỳ quá độ chủ nghĩa xã hội” tiến lên “thiên đường cộng sản” đã bị đa số mọi người vất bỏ vào thùng rác của lịch sử thì lại được đảng CSVN trịnh trọng đem ra gốc cây đa của đảng và lập bàn thờ tổ quốc để vái thờ. Đây là một hành động cực kỳ phản động: hoàn toàn đi ngược với cao trào tiến bộ của nhân loại, làm kỳ đà cản mũi cản trở tiến trình phát triển xã hội của đất nước VN, và tự tách biệt mình ra khỏi cộng đồng thế giới. Đó là tội lỗi mà không tiền nhân và hậu thế nào có thể tha thứ được.

Phó thường dân tôi cảm thấy ngại ngùng khi sử dụng từ “nô lệ”, “ăn mày” để gán cho tập đoàn tội phạm Bộ Chính Trị, Trung Ương Đảng CSVN. Bởi lẽ sự có mặt người nô lệ và ăn mày thì chủ yếu là do ngoại cảnh của áp bức và bất công xã hội bắt buộc họ phải kẹt nằm ở vị thế đó. Còn tập đoàn này thì hồ hởi tự nguyện làm nô lệ và ăn mày. Nô lệ cho chủ thuyết ngoại lai và ăn mày với dĩ vãng “bách chiến bách thắng” (ăn cắp) từ những mồ hôi nước mắt hy sinh xương máu của toàn dân và dân tộc.

Chủ nghĩa Cộng sản là bình vôi quá cũ, mẻ vỡ lại được tôn thờ để mụ mị thiên hạ. Đảng CSVN là kẻ lừa đảo đánh tráo “dân tộc” với “xã hội chủ nghĩa”. Không gì hùng hồn hơn để lột trần sự lừa đảo trắng trợn đó bằng lời tuyên cáo của Luật sư Cù Huy Hà Vũ qua các phương tiện thông tin đại chúng khẳng định “ … người Việt Nam chỉ có một Tổ Quốc là Việt Nam. Chủ nghĩa xã hội không phải là Tổ Quốc của người Việt Nam.”[1]

 Bái vật

Bình vôi là một bái vật được thờ cúng bởi tập tục người Việt Nam xưa. Cây đa với tàn lá xum xuê, với rễ to lớn che mát ban ngày và âm u ban đêm nên tạo ấn tượng huyền bí, uy nghi. Vì lẽ đó dễ làm con người, nhất là những ai yếu bóng vía, trở nên sợ và phải cúng thờ để được thần thánh bảo vệ cũng như tránh bị quở phạt. Ngoài bình vôi còn vô số các hình tượng và vật dụng khác được thờ cúng sử dụng làm bái vật. Tựu chung thì người ta cảm nhận cái “thiêng” trong bái vật đó.

Đảng CSVN đã cổ súy chủ thuyết vô thần, đả phá các tập tục truyền thống, đập phá đền, chùa, nhà thờ và hủy hoại các di tích lịch sử nào chúng đánh giá là không phục vụ cho chủ nghĩa cộng sản của họ. Thay vào đó họ sử dụng hình tượng búa liềm và đặt để các ông Mác, Nin, Hồ làm bái vật rồi bắt buộc toàn dân phải (tôn) thờ.

Cả mấy thế hệ đã bị tẩy não, nhồi sọ, ép buộc trong sợ hãi để tôn thờ những bái vật đó. Ở đâu cũng có những bái vật đó được trưng bày trịnh trọng. Rất nhiều nơi trong và ngoài nước hình tượng Hồ phải ngang hàng với bàn thờ Phật và Tổ Tiên. Từ nhà trẻ, nhà trường, công sở, đầu đường, xó chợ nào cũng có những bái vật này. Thêm vào đó các loa phường, các làn sóng (kênh) truyền hình hàng ngày ra rả ngợi ca xướng tụng tôn vinh các bái vật đó.

Sang đến thời kinh tế thị trường mở cửa hiện nay thì Đảng CSVN vẫn tiếp tục thòng cái đuôi “xã hội chủ nghĩa” sử dụng bái vật lở loét biến dạng này làm bùa hộ mạng. Dù không còn có một người dân nào tin hoặc hiểu nổi cái “quá độ chủ nghĩa xã hội” này là cái quái gì nhưng Đảng CSVN cứ bất chấp và ép buộc.

Ở Việt Nam, không một trường nào sản xuất nhiều “tiến sĩ” bằng trường Chính trị đảng Nguyễn Ái Quốc. Những ai học tốt nghiệp thầy mo cho bái vật này thì được phong vị “Tiến sĩ Chính trị học”, kiểu chương trình “Bồi dưỡng Lý luận Mác – Lê Nin” hoặc “Xây dựng Đảng” theo hệ “tại chức”.

Nói thế nhưng thật ra cái bình vôi “Chủ Nghĩa Xã Hội” là một bái vật giả. Bái vật thực sự được tôn thờ hiện nay là đồng Đô-la. Tư bản đỏ của (tập đoàn) Đảng (mafia) CSVN bề ngoài thì tôn thờ cái bình vôi CNXH nhưng bên trong thì bọn chúng lại suy tôn và vơ vét bái vật mới tích trữ cho bản thân, gia đình và đồng bọn. Ai còn lạ gì vô số chuyện “con ông cháu cha”, “con cháu các cụ” sử dụng bái vật này để ăn chơi trác táng, phung phí như thế nào.

Đem một bái vật để thờ trong phạm vi cá nhân thì không gì đáng ngại lắm. Khi bái vật đó được dùng để mê hoặc hay rủ rê thuyết phục người khác tham gia thì đã có vấn đề. Đáng ngại nhất là khi nào toàn bộ tập thể dân chúng bị ép buộc và tẩy não để tôn thờ một bái vật. Đấy trở thành một quốc nạn.

 Bà đồng

Ngày xưa mẹ tôi có dắt phó thường dân tôi đi xem một buổi lên đồng. Khi đến đền thì tôi thấy rất đông người, chật như nêm với khối đứa trẻ con. Tôi nghe chiêng trống, thấy áo mũ, mâm quả mọi người chộn rộn, chờ bà lên đồng. Đám trẻ con chúng tôi thì nào biết chuyện linh thiêng, thần thánh. Chỉ thấp thỏm chờ đợi cho xong để được phát lộc có oản, có bánh ăn mà chẳng phải làm gì. Đó là ngày xưa. Bây giờ thì sao nhỉ?

Phong trào “đồng bóng” ở thời cửu vạn, ô sin ngày nay xem ra đang trở thành “mốt” có vẻ rất thịnh hành. Những người muốn đạt được quyền lợi và danh vọng luôn mong được “thần thánh” siêu hình tạo thuận lợi cho mình.

Theo một phóng sự thì “Lao vào thế giới đó, ngoài những người làm ăn buôn bán, còn có cả những người được gọi là trí thức, thậm chí, có cả những người đang nắm quyền chức ở bộ nọ, ngành kia…” và trong danh sách của một cậu đồng thì “Danh hiệu đứng đầu thuộc về một quan chức của ngành hàng không tên Đ. Mỗi lần mở phủ chỉ tính khách thôi thì mỗi người cũng đã được chiếu lộc không dưới bạc triệu/người. Ngoài ra còn tiền bồi dưỡng cho thầy đồng và đoàn hát văn.[2]

Muốn giữ được quyền chức họ cần có thêm sức lực “cõi âm” phù trợ thêm. Đảng CSVN cầm quyền cũng muốn như thế. Miệng họ tuy lúc nào cũng bô bô “duy vật biện chứng” nhưng lại rất “mê tín” vào bái vật, bà đồng. Một lần phó thường dân tôi tình cờ gặp được Thầy Ba ở miền Trung đã khoe khoang với mảnh bằng khen lộng kiếng và thiệp chúc Tết của chủ tịch nước Trần Đức Lương vì giúp ông này phát tài bằng múa võ lên đồng và xử dụng bùa chú ngãi thiêng.

Trong buổi hầu đồng mở phủ lần thứ XI tại Hà Nội vừa qua, “cô” cậu Bộ chính trị (BCT) đã lên cơn, đổi suất hết nhập vong Mác, vong Nin, đến vong Hồ. “” lẩm nhẩm khấn bằng tiếng “mọi” và phán những là “thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” và “hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Còn mọi người tham dự thì xuýt xoa van lạy hầu mong được hưởng (bổng) lộc.

Đối với những tư nhân muốn có được một buổi hầu đồng trang trọng thì thân chủ phải bỏ ra bao nhiêu tiền mua mã, sắm lễ, trang bị quần áo, thuê phường hát văn. Nhưng trong các buổi hầu đồng hoành tráng của Đảng CSVN thì khổ chủ chính là nhân dân Việt Nam. Nếu trong lúc nhảy múa thì đồng cô đồng cậu phát lộc cho khách dự thì tương tự có bao nhiêu (bổng) “lộc” cậu đồng BCT đã đem ra chia chác cho những đại biểu tham dự. Nhân dân ta cứ è cổ, còng lưng nộp “thóc” (tiền) cho cậu.

Trong mỗi buổi hầu đồng mở phủ thì đoàn hát chầu văn cũng rất quan trọng. Muốn có một buổi nhảy đồng lôi cuốn mê hoặc thì không thể thiếu được đoàn hát văn với đầy đủ nhạc cụ: đàn, sáo, trống, nhị. Theo phóng sự “Tham gia trong buổi hầu đồng này, toàn là những nghệ sỹ chơi nhạc cụ dân tộc xuất sắc của các đoàn nghệ thuật truyền thống có tiếng của Trung ương, và người chỉ huy hát văn cũng là một nghệ nhân mà cách đây mấy năm đã đoạt giải cao trong cuộc thi hát văn toàn quốc. Nghệ nhân này vừa làm người hát vừa là pháp sư tuyên sớ.”[3] Bên cạnh đó thì cũng có thủ nhang, đồng đền, thủ anh, lính chị xun xoe phụ hầu.

Chắc mọi người chưa quên màn xuất sắc trước buổi hầu đồng XI vừa qua. Thủ anh Đinh Thế Huynh—Chủ tịch Hội nhà báo Việt Nam—tuyên sớ “Ở Việt Nam không có nhu cầu đa nguyên, đa đảng và dứt khoát không đa nguyên đa đảng.

Chưa dứt, mới đây cái phèng la (Đông La) đồng thau của Hội Nhà Văn một mặt thì bôi nhọ Cù Huy Hà Vũ[4], mặt khác gài khung (framing)[5] để hướng dẫn dư luận trước khi nhà nước truy tố CHHV. Cái phèng la này đon đả tiếp thị lý(hý) luận với trích dẫn lời Tây (đa) để tuyên sớ nhất nhật phủ nhận bầu cử dân chủ trực tiếp và nhu cầu đa đảng:

Tiến trình dân chủ và tự do trong một nước tùy thuộc rất nhiều yếu tố xã hội, không thể nhập cảng từ ngoài vào. Yếu tố chính là trình độ dân trí. Trong cuốn “Bàn Về Tự Do” (On Liberty, 1859), John Stuart Mill có viết: “Giáo dục phổ quát phải đi trước quyền công dân, đặc biệt là quyền bỏ phiếu phổ quát” [Universal teaching must precede universal enfranchise ement (sic recte enfranchisement)], và “Tự do chỉ có thể trở thành hiện thực trong một cộng đồng văn minh [sic]”…

Thiệt tình, anh thủ nhang này vớ được một câu tưởng là đắt giá “ăn tiền” để bảo kê cho luận điểm của mình nhưng anh chỉ biết một mà không biết hơn. Ai đời một câu nói từ đời tám hoánh nào, về một xã hội gần hai thế kỷ trước mà đem nói chuyện thời nay. Sao không trích dẫn luôn câu “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” (Vua xử tôi chết, tôi không chết là không trung thành) cho nó đủ bộ Đông-Tây kim cổ hài hoà?

Không cần nghe chi kỹ cũng nhận ra tiếng phèng la này là lý luận con trời. Loại lý luận của thực dân, của nhóm phân biệt chủng tộc (người da đen không được đi bầu vì không đủ trí thông minh), của những người phân biệt giới tính (phụ nữ không được đi bầu vì họ chỉ quanh quẩn nội trợ phục vụ cho các ông) để đưa cá nhân mình lên trong cùng lúc loại bỏ quyền phổ quát của những người khác.

Có phải ông Đông La cho rằng nhân dân VN là đám ngu dân, chưa thể thực hiện quyền công dân của mình. Giời ơi là giời! ngu ơi là ngu, đến bao giờ đây hở giời? Hóa ra hơn 65 năm dưới chế độ XHCN thì hệ thống giáo dục “siêu việt” chỉ tạo dựng được những ngu dân hay sao? Nếu vậy thì càng phải lật đổ cái đảng CSVN đã và đang ngu dân hoá và nô lệ hóa đồng bào.

Bọn thực dân Pháp đã từng xem người thuộc địa An Nam là đám ngu dân cần khai hoá để cai trị dân bản xứ. Ông cũng muốn (làm “cai thầu văn hoá nô dịch “) theo đám nội-thực-dân, Đảng CSVN, để tiếp tục cai trị? Hay ông tự nhận mình là ngu dân không đủ “trí tuệ” để được vào trong đám thiểu số “đỉnh cao trí tuệ” tự bầu bán với nhau, ăn chia bổng lộc.

Những bình vôi bể vỡ thì phải vất đi. Các bái vật mê muội cần đem quẳng bỏ. Người dân Việt Nam quyết không nộp “thóc” hầu đồng (Đảng) CS.

Nhân dân Tunisia, Egypt, Jordan đang vượt qua sợ hãi tự vùng lên đòi lại quyền công dân chấm dứt tôn thờ các bình vôi bái vật của chế độ độc tài.

Đã đến lúc xá hầu, chấm dứt chế độ độc tài Cộng Sản trên đất nước Việt Nam.

 

© 2010 Vietsoul:21

 Chú thích:

[1] Quan điểm của tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ gửi tới báo chí trong và ngoài nước, Dân luận

[2] Lạc vào thế giới hầu đồng, Việt báo

[3] cùng nguồn 2

[4] Một sự thật khác về Cù Huy Hà Vũ, Đông La

[5] Framing, a term used in media studies, sociology and psychology, refers to the social construction of a social phenomenon by mass media sources or specific political or social movements or organizations. It is an inevitable process of selective influence over the individual’s perception of the meanings attributed to words or phrases. A frame defines the packaging of an element of rhetoric in such a way as to encourage certain interpretations and to discourage others.

 

NHẬN ĐỊNH VỀ NGUYỄN ĐỒNG DUY PHÁ HỘI THỦ ĐỨC/WA

Kính mời quý thính giả bấm vào phía dưới để nghe Audio:


 

Kính thưa quý thính giả!

Sự việc Hội CSVSQTB Thủ Đức tiểu bang Washington trong những ngày gần đây đã gây ra những xáo trộn trong sinh hoạt của Hội nói riêng và cho Cộng Đồng nói chung,sự việc đó là ông Nguyễn Đồng Duy ra nhiều thông báo trong đó có thông báo bải nhiệm chức vụ Phó chủ tịch của ông Nguyễn Công Ba ,ông Bùi Quốc Hùng tổng thư ký và một thông báo khác là bất tín nhiệm ông Nguyễn Quốc Hùng trưởng ban Lảnh Đạo của Hội.

Việc bải nhiệm các chức vụ trong Hội liên tiếp như vậy vì lý do gì?Có đúng hay không ? Căn cứ vào đâu để đánh giá việc làm đó là đúng hay sai? Một Hội Đoàn dù lớn hay nhỏ,đồng hương ,ái hữu,chính trị v.v…Đều có nội quy của Hội đoàn đó,có nội quy mới duy trì được Hội cũng như phát triễn trong sinh hoạt ,cho nên ĐÚNG hay SAI là căn cứ vào nội quy. Chúng tôi lần lượt đi từng việc và trưng dẫn nội quy của Hội Thủ Đức tiểu bang Washington ,những điều trong nội quy có liên quan đến việc bải chức các thành viên vừa qua của ông Nguyễn Đồng Duy để quý thính giả thấy rõ vấn đề hầu tránh hiểu lầm sự việc một cách sai lạc do những người xấu rỉ tai xuyên tạc.

Kính thưa quý thính giả!

1/ Ông Duy bải nhiệm ông Nguyễn Quốc Hùng trưởng ban lãnh đạo ĐÚNG hay SAI dù có 4 chữ ký đồng ý (4/7)?

Trong nội quy của Hội Thủ Đức không có việc quy định bải nhiệm Trưởng Ban lảnh Đạo,như vậy chúng ta có thể hiểu điều lệ bải nhiệm ông Trưởng Ban Lãnh Đạo thì cũng như việc bải nhiệm một ủy viên trong ban Lãnh Đạo hay các ủy viên khác trong bốn cơ chế.. Chúng tôi đọc nguyên văn điều 51 chương XII .

Điều 51 : Cơ quan phân xử.

_ Các vi phạm nhẹ do ban lảnh đạo giải quyết

_ Các vi phạm nghiêm trọng sẽ do Ban Giám Sát điều tra và phúc trình cho Ban Lảnh Đạo quyết định giải quyết hoặc đưa ra đại hội giải quyết.

Đó là 2 mục trong 4 mục của điều 51 chương XII

Căn cứ vào hai mục trong điều 51 ở trên thì việc bải niệm ông Nguyễn Quốc Hùng là hoàn toàn sai . Sai vì :

1/ Nếu là nhẹ : Do Ban Lãnh Đạo giải quyết.

Nếu ông Trưởng Ban Lãnh Đạo Nguyễn Quốc hùng có vi phạm thật sự nhưng nhẹ trong trường hợp này thì người triệu tập Ban Lãnh Đạo họp lại để giải quyết phải là ông Nguyễn Đình Lãng vì ông Nguyễn Đình Lãng là Phó Ban Lãnh Đạo,ngoài ra không ai trong BLĐ có quyền triệu tập cả. Ông Nguyễn Đồng Duy và ông Đặng Ghi âm thầm đến từng nhà các ủy viên Lãnh Đạo khác để vận động chữ ký,một việc làm mờ ám. ( khi đến nhà ông Nguyễn Thành Khánh ông Nguyễn Đồng Duy không dám vào ,cũng cần nói thêm về ông Nguyễn Thành Khánh ,ông bị bệnh hơn năm nay không tham sinh họat với Hội kể từ ngày ông Duy làm chủ tịch. Khi ông Đặng Ghi,Dương Đình Long và Nguyễn Đồng Duy đến nhà ông Nguyễn Công Ba để vận động ký,ông NCB từ chối vì việc làm như vậy là sai,ông NCB đã thẳng thừng bác bỏ cũng như cảnh cáo ông Nguyễn Đồng Duy về việc làm trái với nội quy. Khi Nguyễn Đồng Duy và Đặng Ghi đến nhà ông Nguyễn Đình Lãng,hai ông này đã bị ông NĐL chửi cho một trận thậm tệ,ông Ghi nói “Tôi biết là sai nhưng vì đại cuộc…” Việc sai là việc của những kẻ bất chính không bao giờ gọi là đại cuộc được ,sự hiểu biết lý luận của Đặng Ghi là cở đó).

2/ Nếu là nghiêm trọng : Sẽ do Ban Giám Sát điều tra và phúc trình cho BLĐ quyết định giải quyết hoặc đưa ra Đại Hội giải quyết.

Trong trường hợp của ông NQH ,Ban Giám Sát có điều tra và phúc trình cho BLĐ không ? Thưa , không. Ông Lãng là phó Ban Lãnh Đạo không nhận được một bản phúc trình nào của ông Đào Quang Thân Trưởng Ban Giám Sát. Ông Thân cũng cho biết là ông không hề hay biết về sự việc bải nhiệm này.

Tóm lại đối chiếu với 2 mục trong điều 51 chương XII về việc bải nhiệm ông Nguyễn Quốc Hùng Trưởng Ban Lãnh Đạo là đi ngược với nội quy của Hội.Việc đi tới từng nhà vận động lấy chữ ký là một việc làm vô cùng bậy bạ.

Kính thưa quý thính giả!

Một điều buồn cười với lý luận ngây ngô của Nguyễn Đồng Duy là trong số báo Người Việt Ngày Nay phỏng vấn ( cứ gọi là phỏng vấn cho vui),khi nói đến quyền bải nhiệm ,ông Nguyễn Đồng Duy có dẫn chứng điều 19 mục cuối là : Chủ tịch Hội có quyền bải nhiệm thành viên trong ban điều hành với sự thông qua của Ban Lãnh Đạo.Ông Duy mở vòng đơn nói ( Ở điểm này đa số thành viên BLĐđã bải nhiệm chức vụ trưởng BLĐcựu SVSQ Nguyễn Quốc Hùng cũng là đa số chấp thuận thông qua quyết định của tôi bải nhiệm chức vụ Phó Chủ Tịch của CSVSQ Nguyễn Công Ba và bải nhiệm chức vụ Tổng Thư Ký của CSVSQ Bùi Quốc Hùng ).

Thật là lố bịch và lý luận ngu ngơ, Khi bải nhiệm ông Nguyễn Quốc Hùng Trưởng Ban Lãnh Đạo,ông Duy đã đi ngược lại nội quy của Hội như chúng tôi dẩn chứng ở trên, đến lượt ông bải nhiệm ông Nguyễn Công Ba chức vụ Phó Chủ Tịch ông Duy có thông qua BLĐ hay không ? Ông Nguyễn Đồng Duy hoàn toàn không hiểu nổi hai chữ Thông qua. Thông qua Ban Lãnh Đạo có nghĩa là phải có một buổi họp xét về sự việc bải nhiệm ông NCB.Từ cái nhỏ như bản nội quy của một Hội đến cái lớn là luật pháp chữ thông qua có nghĩa “Qua ý kiến của một cuộc họp” .Trong trường hợp này Thông qua mà đi tới từng nhà để ký là kiểu thông qua mờ ám,láo khoét,bất lương… Tại sao thông qua có nghĩa phải có một cuộc họp ? Đó là nguyên tắc dân chủ,trong cuộc họp sẽ có người đồng ý,có người chống ,cả hai phía đều đưa ra những lập luận của mình để thuyết phục người khác rồi sau đó biểu quyết.Quyết định đa số trong buổi họp đó gọi là thông qua,không có thể hiểu chữ thông qua là : Thông qua bằng điện thọai,thông qua bằng email hay thông qua là đi đến từng nhà để vận động ký.Chúng ta thường nghe nói “ Dự luật nhân quyền cho Việt Nam đã được thông qua Hạ Viện….” Có nghĩa Ha Viện đã họp và có biếu quyết.Ông Nguyễn Đồng Duy xưng là có học thế mà không hiểu nổi hai chữ thông qua trong bản nội quy hay ông đã hiểu nhưng bản tính nham hiễm,nhỏ nhen của ông khiến lý trí mờ để đi đến việc làm tồi tệ.

Kính thưa quý thính giả!

Còn một điểm then chốt nữa trong bản nội quy của Hội CSVSQTB Thủ Đức đó là : Quyền Biện Minh.

Chương XII điều 52 có ghi rất rõ .

** Điều 52 Quyền Biện Minh.

_ Các thành viên bị khiếu tố có quyền biện minh trong các phiên phân xử

_ Nếu các thành viên bị khiếu tố khước từ quyền biện minh việc phân xử vẫn tiến hành và có giá trị.

Đọc đến đây ông Nguyễn Đồng Duy đã hiểu nổi hai chữ thông qua hay chưa ? Quyền biện minh là quyền tối thượng ở một nước Dân Chủ. Ông Duy đã chơi luật rừng rú,ông Duy đã chơi theo kiểu Cộng Sản là bịt miệng .Ông Duy phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc chống lại bản nội quy của Hội. Chắc chắn rằng những người còn lại ,những CSVSQTB Thủ Đức có lập trường của người Quốc Gia chân chính sẽ không để yên cho ông Nguyễn Đồng Duy tự tung tự tác.

Qua những dẩn chứng về bản nội quy của Hội Thủ Đức tiểu bang Washington ở phần trên,chúng tôi chắc chắn quý đồng môn đã thấy rỏ việc làm bất chính của Nguyễn Đồng Duy ,bất chính đó là chà đạp trên luật lệ của một tổ chức,mà tổ chức đó gồm tòan cấp chỉ huy của Quân Lực VNCH.

Cũng cần nói thêm về những điểm mà ông NĐD nêu ra để kết tội ông Trưởng Ban Lãnh Đạo Nguyễn Quốc Hùng ,Nguyễn Công Ba Phó Chủ Tịch và Tổng Thư ký Bùi Quốc Hùng . Trước hết chúng tôi nêu một vài điểm mà ông Duy dùng để kết tội ông NQH.

Ông Duy đã nêu ra trong bản thông báo để cáo buộc ông Nguyễn Quốc Hùng là vô căn cứ ,ông Nguyễn Đồng Duy nêu lý do sau đây:

_ Không tham dự bất cứ một cuộc diễn hành nào có tính cách ích lợi cho Hội như:

*  Ngày Lễ Chiến Sĩ Trận Vong năm 2010

* Ngày cựu chiến binh năm 2010 được tổ chức tại thành phố Auburn-Washington

* Ngày vinh danh cờ vàng+ba sọc đỏ do các thị trưởng của các thành phố thuộc tiểu bang Washington công nhận là lá cờ di sản của người Mỹ gốc Việt,lá cờ tượng trưng Tự Do,Dân Chủ,Nhân Quyền cho đồng bào Việt Nam trong nước đang bị thống trị bởi tập đoàn Việt Cộng,mặc dù các thành viên Ban Lãnh Đạo đồng ý tham dự buổi vinh danh này.

Còn những điều khác nói về khả năng của một Trưởng Ban Lãnh Đạo nữa nhưng vô căn cứ.

Kính thưa Quý thính giả!

Trong nội quy cũng như lập trường của Hội không đề cấp đến vấn đề này,những vấn đề đi dự Lễ này,lễ nọ không phải là nét chính của sinh hoạt ,nó không thuộc vào lập trường chính trị.

a/ Ngày Lễ Chiến sĩ trận vong: Đây là một ngày lễ của Mỹ ,nếu chúng ta là những cựu quân nhân QLVNCH muốn đi dự thì đi ,không muốn thì thôi,không ai có quyền bắt bẻ hay kết tội cả .Đi tham đự ngày này không có nghĩa là Chống Cộng,không đi tham dự ngày không có nghĩa là Thân Cộng,đây không thuộc về lập trường chính trị của Hội.

b/ Ngày cựu chiến binh: Đây cũng là ngày Lễ của cựu chiến binh Mỹ,nếu ai thích thì đi,muốn “sát cánh” cùng đồng minh thì đi,muốn o bế thì đi,còn ai không thích thì thôi. Chúng ta thấy rỏ nhất là đến giờ phút này Mỹ không công nhận chúng ta là cựu chiến binh của Mỹ như ở Úc những thành phần cựu QLVNCH được chính phủ Úc cho hưởng quyền lợi như lính Úc,nói như vậy không phải chúng ta ham hố,nhưng để thấy sự đối xử của họ đối với chúng ta như thế nào .

c/ Không tham dự Lễ vinh danh cờ vàng+3 sọc đỏ ( danh từ của ông Duy):

Ông Nguyễn Đồng Duy đã ấm ớ hồ tề trong việc này để đánh lừa các đồng môn cũng như đồng hương

sự việc này đã được đem ra ở buổi họp,ông Nguyễn Đồng Duy là người chuyên môn nói láo,không có có chuyện biểu quyết trong cuộc họp về vụ vinh danh cờ VNCH tại nhà hàng Tea Palace của ông Trần Đức ,chỉ có ông Duy và Đặng Ghi đồng ý mà thôi,vì đồng ý đi dự buổi vinh danh đó là đi ngược với lập trường 4 không của Hội ( Không đúng chung hàng ngũ với bọn làm ăn và giao thương với CSVN ) .Hội Thủ Đức không chấp nhận việc vinh danh cờ VNCH tại một địa điểm chủ nhân của nó là liên hệ buôn bán với CSVN (vấn đề làm ăn,giao thương,từ thiện…nằm trong nghị quyết 36 của VC).Một người Quốc Gia chân chính không dính dáng đến với những thành phần như vậy,những người đó có thực sự yêu lá cờ của chúng ta hay không? Họ yêu mà sao họ được báo chí VC khen ngợi ,cho phép buôn bán? Cho những ưu đải về thương mại…?

Ông Nguyễn Đồng Duy căn cứ vào đâu để kết tội ông Nguyễn Quốc Hùng,phải chăng ông căn cứ vào cái đầu óc nhỏ nhen,tự ti mặc cảm của ông ? Những việc ông Duy làm trong thời gian 1 năm qua Hội chưa kết tội là may ,những việc làm đó là:

1/ Đi ngược lại lập trường chính trị của Hội

2/ Không có tư cách lảnh đạo ( nói năng không có lý luận , cử chỉ lúng túng khi gặp hữu sự, nói láo…)

3/ Không có khả năng ( điều hợp một buổi họp,sinh hoạt không hiểu nổi bản nội quy…)

4/ Đi ngược lại nội quy của Hội

Nguyễn Đồng Duy bải nhiệm ông Nguyễn Công Ba với lý do “thiếu khả năng”,đây là một việc làm cố tình xỉ nhục ông Ba vì sự thù vặt ti tiện của ông Duy,chúng tôi nêu ra để quý đồng môn thấy. Nếu ông Ba ký vào tờ thông báo bải nhiệm ông trưởng ban lãnh đạo Nguyễn Quốc Hùng chắc chắn ông Duy không ra thông báo bải nhiệm ông Nguyễn Công Ba,ông Duy thù vặt vì ông Ba nói thẳng vào mặt ông Duy về việc làm sai trái là bải nhiệm ông NQH khi ông Duy,Ghi và Long đến nhà ông Ba. Ông NCB là khóa đàn anh của NĐD,ông NCB là một đại đội trưởng của sư đoàn 1 bộ binh,ông đã lên đại úy đặc cách ,còn ông Duy đã làm được trung đội trưởng thực thụ hay chưa? Đó là quá khứ còn hiện tại trong sinh hoạt ông NCB nói năng đâu vào đó ,có khả năng lý luận hơn xa Nguyễn Đồng Duy,đó là chúng tôi chưa nói đến mặt tư cách,đạo đức…Những ai đã từng sinh hoạt với ông NCB thì biết rỏ.

Kính thưa quý vị !

Qua sự việc chúng tôi trình bày ở trên với những dẫn chứng ,chắc chắn quý đồng môn,thính giả thấy rỏ được việc làm của ông Nguyễn Đồng Duy,ông Duy đã bất chấp nội quy của Hội để thực hiện theo lòng ích kỷ nhỏ nhen và đầy tự ti mặc cảm.

Dù là mất nước,các CSVSQ tập họp lại với nhau để dựa vào tinh thần,gìn giử lý tưởng cao đẹp của một thời trai trẻ.Trong Hội có đàn em,có đàn anh,nhìn những niên trưởng tuổi đã cao ,ngày trước là bậc thầy,những niên trưởng bây giờ chỉ còn có lòng,có tình chứ sức đã yếu .Trong cái tình đồng môn ấy biết bao cao đẹp,thế mà Nguyễn Đồng Duy khóa 4/71 đã đánh đổ tất cả chỉ vì tự ái cá nhân,chỉ vì tự ti mặc cảm,chỉ vì ham chút danh ảo …Nguyễn Đồng Duy hành động như một người không còn lý trí? Hành động đối với các niên trưởng của anh ta như là một kẻ thù không đội trời chung.Việc làm của Nguyễn Đồng Duy là một sự thù hận ngút ngàn trong tâm của anh,đến nổi anh đã tuyên bố “Đã đâm thì đâm cho lút cán…”

Không ai có thể nghĩ là trong các cựu SVSQ Thủ Đức đã sản sinh ra một con người như vậy,Nguyễn Đồng Duy đã chôn vùi danh dự khi làm Hội Trưởng một Hội đồng hương ,anh bán danh dự bằng những đồng tiền nhỏ nhoi ,nay thì anh lại tiếp tục đi vào vũng bùn ,ông Duy đã tự động thay đổi thủ quỷ,tự động chiếm đoạt account của Hội,tự động động lên bộ nội vụ tiểu bang Washington gạt tên những niên trưởng đã sinh hoạt từ lâu .Ông Đặng Ghi vừa là Thủ quỷ vừa là tổng thư ký.

Tưởng cũng nên nêu tất cả danh sánh những người thuộc của 4 cơ chế để quý đồng môn biết rỏ thêm vấn đề:

1/ CSVSQ Đặng Phùng Diễm

2/ CSVSQ Nguyễn Đình Lãng

3/ CSVSQ Vũ Trung Bình

4/ CSVSQ Nguyễn Thành Khánh

5/ CSVSQ Dương Đình Long

6/ CSVSQ Đặng Ghi

7/ CSVSQ Nguyễn Quốc Hùng

8/ CSVSQ Nguyễn Công Ba

9/ CSVSQ Búi Quốc Hùng

10/ CSVSQ Huỳnh Kim Anh

11/ CSVSQ Đào Quang Thân

12/ CSVSQ Nguyễn Đồng Duy

13/ CSVSQ Trương Trung Tâm

Trong số này có hai(2) người chủ mưu chiếm Hội đó là ông Nguyễn Đồng Duy và Ông Đặng Ghi. Trường hợp hai ông Dương Đình Long (qua nói chuyện với ông Nguyễn Đình Lãng)và Nguyễn Thành Khánh (qua nói chuyện với ông Huỳnh Kim Anh)bây giờ cũng không thấy rỏ việc làm của hai ông Đặng Ghi và Nguyễn Đồng Duy là bậy bạ. Như vậy Hội vẫn còn nguyên các nhân sự trong các cơ chế ngoại trừ Nguyễn Đồng Duy và Đặng Ghi đã ly khai.

 

Huỳnh Kim Anh

PHẢN BIỆN VÀ SỰ THẬT

In Cộng Đồng, Chính trị (Politics) on 2011/02/18 at 01:52
VietSoul:21
“Một nhóm nhỏ các bình luận gia chỉ biết téo nẹo về mọi chuyện lại diễn giải cho chúng ta hiểu về thế giới và có những nhận định đầy rẫy sai lầm (A small circle of pundits who know so little about so much explaining the world to us and get it so wrong!)”
- Amy Goodman, Democracy Now
©
Illusion © Diane Tani, 1987(Phản) Phản Biện và Sự Thật
Hổm rày đọc báo mạng thấy nhiều “phản biện” và “phản-phản biện” đến một vài bài viết. Sôi nổi hơn hết là những (phản) phản biện với hai bài viết tựa đề “Vì sao chưa thể có một biến cố như Tunisia ở Việt nam” và “Không thể bẻ cong sự thật để tự ru ngủ mình và bạn đọc”[i]. Chúng tôi đã góp ý chung cho hai bài viết này tại trang đăng bài. Thế nhưng vì muốn được “nhân dân”[ii] ủng hộ nên xin góp thêm một vài ý nữa.
Những điều mà chúng tôi đóng góp thêm sau đây thuộc về bản chất và tác dụng của sự lạm dụng phản biện cũng như mối liên hệ đến nỗi hoang tưởng sở hữu sự thật. Ngoài ra bài này biểu lộ sự hoài nghi của chúng tôi về tính toàn bích của “phản biện” (tìm cái tối ưu và thuyết phục, minh bạch, và duy lý) được đưa ra trong bài viết “Phản biện”[iii] gần đây. Chúng tôi muốn giải mã những lý luận, không nhắm vào “người đưa tin” (shooting the messenger). Mong rằng cũng nhận được sự phản biện về bài viết này nằm trong tinh thần lắng nghe và xây dựng.
Theo chúng tôi thì phản biện mà không tham gia chính trị là lối diễn luận “hơi bị quen” của nhiều thành phần thuộc vào các khối bất vụ lợi, xã hội dân sự, và trí thức trong và ngoài nước. Đây là một hiện tượng chung của hằng hà sa số trong đó đầy đủ các biện luận bào chữa và gián tiếp giúp thể chế đang vận hành tiếp tục củng cố và đứng vững.
Thành phần tự cho mình đứng trong vị trí này thường có đánh giá thiên lệch trong tự mãn và dễ dẫn đến sai lầm, nhất là những lúc khư khư quả quyết rằng “chính trị” chuyên mang nghĩa tiêu cực và thủ đoạn. Đó là sự nhập nhằng đánh đồng giữa tư cách chính trị, vị thế chính trị, quan điểm chính trị, và hành xử chính trị đối với chấp chính (các đảng phái chính trị tranh giành quyền chấp chính).
Những ai tự xưng mình chỉ “phản biện mà không tham gia chính trị” thường là lẩn quẩn lòng vòng với ngụy biện mặc dù có lẽ biết bất cứ bước nào mình chọn đi, hay chỗ nào mình chọn tới, cũng hàm chứa ý nghĩa chính trị. Dù kiểu chính trị tối thiểu chỉ dừng lại nơi chốn có lợi và vô hại cho cá nhân mình mà thôi.
Quan điểm “không tham gia chính trị” thật ra là một thói quen “khoanh vùng” (mặc áo giáp, đặt hàng rào chống B40) của những người dân sống ở các chế độ độc tài áp bức, hay ứng xử cố hữu của các sắc dân thiểu số trong những xã hội mang danh “dân chủ tự do kiểu Tây” (Western Liberal Democracy). Đó âu cũng là một vị trí bảo thủ nhằm mua được sự an toàn tránh bị “điểm mặt”. Thế nhưng việc họ có thể trốn/tránh được bạo quyền đàn áp hay không thì là một chuyện khác. Hay là rốt cuộc họ cũng bị đì ì xèo bởi các “đầy tớ” quan thầy.
Hơn 30 năm sống hải ngoại chúng tôi chưa thấy có công dân xứ sở tự do (Hoa-kỳ đây chẳng hạn) nào phải mào đầu tự “khoanh vùng” khi ứng xử hay đối thoại về chính sách và chính quyền. Đôi lúc họ tránh né tranh luận chính trị vì bất đồng chính kiến chứ không cần phải bảo kê cho mình bằng cách tuyên xưng vị thế “phi chính trị”. Riêng người Việt hải ngoại thì cũng không ít kẻ nhóm vẫn còn la chai bải “không tham gia chính trị” vì ám ảnh nặng nề của tâm thức nô lệ hậu-thực-dân.
Chúng tôi tin rằng đa số những người Ai-cập xuống đường trong hơn ba tuần không phải là những người có ý nghĩ “tham gia chính trị” hoặc đi làm “cách mạng”. Họ chỉ ứng xử một cách tự nhiên như “con giun xéo mãi cũng quằn” với tư cách công dân để đòi hỏi quyền làm người của họ mà thôi. Sau khi vượt qua nỗi sợ họ từ chối “khoanh vùng” cho mình là thuộc giai cấp công nhân, nông dân, hay trí thức gì gì ráo. Họ xuống đường với tư cách là công dân và những hành động của họ tự mang một quan điểm chính trị.
Không phải phong trào đấu tranh trên thế giới nào cũng có sự hiện diện của thành phần trí thức chuyên năng nổ trong công tác phản biện. Đa phần họ chỉ là những người thích tập trung tư duy để quan sát, so sánh, và phân tích (dù có ngụy biện hay không) sau khi các cuộc đấu tranh xuống đường đang xảy ra (dù thắng hay bại) hay đã chuyển sang chợ chiều để đi vào hoàng hôn tắt ngấm. Nếu có tham gia vào công việc đấu tranh thì họ chỉ thực hiện vào giai đoạn cuối khi mọi chuyện sắp đến hồi kết cuộc—máu đã đổ và mồ hôi nước mắt đã cạn. Vì không có quyền lực nào tự bằng lòng cho sang nhượng mà chỉ phải tranh lấy mà thôi.
Cổ xúy, tham gia, và thực hiện phong trào đấu tranh dân chủ trong cảnh tỉnh bất bạo động là một việc nan giải đòi hỏi đám đông thắng được sự sợ hãi. Và cuộc nổi dậy phát khởi nào mà không bị dập tắt thì không thể thiếu làn sóng kích thích phát xuất từ một nhân tố hay sự kiện chấn động lòng người. Tuy nhiên, đấu tranh xuống đường không phải là không thể xảy ra, nhất là khi có “nhân hoà” trong tinh thần tự phát đồng điệu, hoà hợp với “thiên thời” và “địa lợi”.
Khi đấu tranh nổi dậy xuất hiện thì nó đến bất ngờ như vũ bão. Không một nhà bình luận, phân tích chính trị nào đoán trước nỗi. Tiếc thay đa số họ (nhất là các nhà quan sát Tây Phương) lại châm bẩm vào tính chất máy móc của cuộc cách mạng để chất vấn “Tại sao nó lại xảy ra vào lúc này?” và “Chuyện gì sẽ xảy ra kế tiếp?” nên thường lạc điệu, lỗi nhịp với thời điểm và ý nghĩa lịch sử quan trọng của cuộc cách mạng nổi dậy đó.[iv]
Tranh đấu cho công bằng xã hội của hết thảy chứ không chỉ riêng mình là việc nhiêu khê—lợi ít hại nhiều cho bản thân. Ông bà ta chẳng từng có câu “ăn cơm nhà vác ngà voi” đấy sao! Công việc tích cực góp sỏi, lót đường, xông xáo không ngại gian nan trong khi đòi hỏi tự do nhân phẩm và quyền làm người thì lúc khởi đầu khó có sự hiện diện của những ai thụ động và câu nệ xốc vác. Nói trong hùng biện thì dễ nhưng tay lấm chân bùn thì khó.
Tác giả Việt Hoàng cũng đã khẳng định như thế trong một bài viết về sự thờ ơ né tránh tham gia phong trào đấu tranh đòi dân chủ của các đại gia, trọc phú, và doanh nhân Việt Nam. Tác giả đã nói tiếp,
“Tôi cho rằng không phải dân trí người Việt Nam kém mà ý thức của tầng lớp trí thức Việt Nam kém. Nếu không kém thì trí thức Việt Nam đã làm được việc “khai dân trí, chấn dân khí” cho mọi người Việt Nam. Trước tình hình đất nước như hiện nay thì trí thức phải xem việc dấn thân chính trị như là mệnh lệnh của lòng yêu nước và trí thức phải nhận lãnh trách nhiệm dẫn dắt người dân và lãnh đạo đất nước.”[v]
Hiện tượng thờ ơ né tránh tham gia phong trào đấu tranh đòi dân chủ này liên hệ đến một điều quan trọng hơn nữa: “Tư duy phản biện có thể phân biệt, nhưng không thể tách rời khỏi cảm quan.” Không ai có thể quả quyết là mình nắm chắc hay biết được “sự thật”. Mọi quan điểm của cá nhân hay đoàn thể đều xây dựng diễn giải từ quá trình học hỏi cũng như tích lũy kinh nghiệm sống riêng nhưng tất đều ảnh hưởng xã hội. Bất cứ quan điểm nào mà cá nhân hay đoàn thể đưa ra cũng không thoát khỏi giới hạn trong tầm nhìn được kết lũy từ quá trình diễn giải tương đối đó. Rất nhiều bình luận (loạn) gia (pundits) đều cho mình sở hữu “sự thật” nhưng thật sự mọi người/đám đông thầm lặng chỉ mong muốn họ có và tỏ lộ được chút lòng chân thật. Những chuyện “lộng giả thành chân” vẫn nhan nhãn ấy thôi.
Phản biện hạn chế vì liên hệ đến địa lý tính, nhãn quan xã hội và nhiễm hệ tư tưởng ăn sâu trong văn hóa. Sản sinh của phản biện thì tùy theo lăng kính phụ thuộc cường độ chủ quan của lịch sử chính thống—loại lịch sử thường xóa sổ và cướp mất tiếng nói của những ai bị cho ra rìa, không có, hoặc mất vị trí trong xã hội. Đây là loại lịch sử đã gạn lọc và chỉ ghi chép các dữ kiện thuận lợi cho thành phần đương kim sau khi cướp quyền lực từ đấu tranh quần chúng.
Trong bối cảnh như thế thì đa phần các vị học giả trí thức chọn làm người “ngoài cuộc” mà vẫn “ăn theo”. Ăn theo đây không hẳn là trực tiếp hưởng được bổng lộc của cơ chế chính thống mà là lợi gián tiếp vì “bình chân như vại” ở đặc quyền (privileges) thuộc về chuyên gia. Chuyên gia thì bao giờ cũng được sử dụng và ưu đãi bởi người cầm quyền (phe tả, phe hữu) vì ta nằm trong phe nghiêng ngã.
Hơn thế nữa, chuyên gia xử dụng kiến thức và đặc quyền để dẫn đặt cái ảo tưởng huyễn hoặc là mình có “sự thật” định hướng suy nghĩ của đám đông quần chúng, và bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng nói hộ giùm cho (phó) thường dân. Dĩ nhiên, chuyện mặt bên kia của đồng tiền cũng rất quan trọng: ai được chọn cho phát biểu phản biện. Sự lựa chọn thiên vị đó không nằm ngoài sức mạnh của đồng tiền và quyền lực của một hệ thống nhập nhằng giữa nhà nước, cơ quan truyền thông, các cơ quan cung cấp ngân quỹ (còn gọi là “Sáng viện” hay “sáng hội” tức foundation), và giới chủ nhân ông.[vi]
Ông Thomas L. Friedman/một nhà bình luận cho tờ báo NY Times—người từng bị lên án nhiều lần khi ủng hộ chiến tranh Iraq và thiên vị Israel trong khi có nhiều lời lẽ miệt thị các dân tộc Ả rập cũng như từng bị chỉ trích bởi những người hàn lâm cánh tả và phe chống tự do thương mại toàn cầu hóa tại Hoa Kỳ—thì vừa rồi cũng đã khéo gác phản xạ lý trí chuyên gia của mình sang một bên để tường thuật lại cuộc cách mạng nhân dân Ai-cập như sau:
“Khi dạo lòng vòng [tại quãng trường] ai cũng nghe thấy toàn là những hy vọng bị đè nén, những khát vọng và thất vọng suốt 50 năm qua của người dân Ai Cập. Tôi biết các nhà chuyên gia “thực tế” đang cho rằng tất cả không chóng thì chầy sẽ bị dẹp bỏ. Có thể chúng sẽ bị dẹp tan. Nhưng trong những khoảnh khắc tỏa sáng ngắn ngủi này thì xin hãy quên đi các vị chuyên gia và chỉ cần lắng nghe thôi. Bạn chưa từng nghe được như thế này trước đây đâu. Đó là âm thanh của người dân từng đã quá lâu bị cướp đi và rốt cuộc đã tìm lại được, đằng hắng thử âm giọng và hân hoan cất lên tiếng nói mình.”[vii]
Đó là chưa nói đến hai lăng kính khác. Theo thuyết nữ quyền (feminism) (gọi chính xác hơn là nam nữ bình quyền) thì phản biện nặng tính chất “đực rựa” do đó không tạo được hợp quần đoàn kết. Cứ tham gia chơi trò đá gà, đá cá (lăn dưa), hay đấm (đá) bốc Muay Thái thì biết. Ngoài ra, phản biện xuất phát từ “kỹ nghệ triết lý” từ thời Socrates rất xa xưa của nền văn minhTây phương nên luôn luôn trọng lý thiếu tình, và đã gạt bỏ hẳn cảm tính cho vị tha bao dung.
Giới hàn lâm phương Tây từng bị nghẹn họng vì lậm duy lý và loay hoay chưa cách nào thoát nỗi cái cạm bẫy đầy trắc trở của diễn luận “sự chọn lựa hợp lý” (rational choice discourse), nhất là sau khi Descartes đã kiên định sự hiện hữu của ông ta là nhờ “biết dùng cái đầu” (từ ngữ trong bài viết “Vì sao chưa thể có một biến cố như Tunisia ở Việt nam”; còn nguyên văn của Descartes là “I think therefore I am”). Nói như thế không có nghĩa là chúng tôi phủ nhận cái lý luận/phản biện nhưng cần vạch ra tình/lý của mọi sự việc.
Diễn luận không giúp ích gì được cho cuộc đấu tranh giải phóng giúp bản thân ta và người khác khỏi nạn “nội thực dân”[viii] trong các xã hội ngổn ngang những bất công và đau khổ. Sự chọn lựa (mê sảng) duy lý này làm thui chột tâm hồn và nhân cách khi ta buộc chạm trán với tương quan giữa người và người (I- and-thou).[ix] Một sự chọn lựa duy lý trong vô thức nhưng tạo tràn đầy phản xạ thèm thuồng ghen tị của đám đông làm ta quên tình tha nhân và gạt bỏ lòng bồ tát, do đó dẫn đến việc coi thường chuyện con người cần vượt qua bản ngã và cái tôi.
Thứ ba, phản biện không tạo được đối thoại. Cứu cánh cho phản biện là phải tiếp tục sản xuất kiến thức theo đơn đặt hàng (ví dụ mong số lượng người nghe và đọc tăng cao) và trọng vị cá nhân hóa. Rất nhiều khi phản biện chuyên chở thành kiến chỉ trích, hay mang khinh ghét, và tạo phê phán ô nhục (do vô thức hay có chủ ý) trong lúc đề cập đến và đánh giá các lập trường của các nhân vật hay lực lượng đối kháng nhau.
Thói (chứng) phản biện mang nặng tính giả thuyết (và nhiều khi thiếu bối cảnh quan) nhưng đội lốt hành xử khéo léo trong chủ quan kiêu hãnh rằng lập luận của mình thì là phải đúng. Phản biện do đó tiềm ẩn gốc rễ bạo động vì nó dập tắt tương quan đối thoại. Dĩ nhiên không có tương quan đối thoại thì không thể nào cổ động hô hào cho “hòa hợp hòa giải” hầu chuyển hóa tình cảnh mâu thuẫn bế tắc.
Chúng tôi ghi nhận nhiều viễn quan về đoàn kết và xây dựng trong các bài viết nhưng không may do tính duy lý trong phản biện đã gây phản tác dụng và đưa đến kết cuộc là chỉ sinh ra hàng loạt dây chuyền (phản) phản biện.
Phản biện tự nó không chỉ dừng ở trò chơi cá cuộc của hùng biện diễn luận và những cuộc bút chiến.
Nó còn là biển mê hoặc làm chúng ta chìm đắm nhanh chóng vào sóng đời tranh nhau vài mảnh bánh vụn vơi rãi dưới đất. Từ đó quên bén đi ai đang tỉnh bơ thuổng cả chiếc bánh trên bàn vào túi của họ. Không cần là chuyên gia thì ai cũng biết chuyện gì sẽ tiếp diễn xảy ra khi kẻ “cướp ngày” tiếp tục ung dung nắm giữ quyền lực một cách dễ dàng vì đã thuổng trọn chiếc bánh rồi mà.
© 2011 Vietsoul:21

CHÚ THÍCH:
[i] Vì sao chưa thể có một biến cố như Tunisia ở Việt nam & Không thể bẻ cong sự thật để tự ru ngủ mình và bạn đọc, Kami, RFAVietnam.com, 02/09/2011 & 02/14/2011
[ii] Nhân dân, Nguyễn Hưng Quốc, VOA, 14/2/2011
[iii] Phản biện, Nguyễn Hưng Quốc, VOA, 11/12/2010
[iv] The Egyptian uprising: ‘why now?’ and ‘what next?’, Brendan O’Neill, Spiked, 8/2/2011
[v] Doanh nhân và dân chủ, Việt Hoàng, Thông Luận (số 255), 02/2011
[vi] Chứng quên tập thể, VietSoul21, 13/08/2010
[vii] Speakers’ Corner on the Nile, Thomas L. Friedman, NY Times, 7/2/2011
[viii] phó thường dân (2): nội-thực-dân, VietSoul21, 11/24/2020
[ix] I-and-Thou, Martin Buber


NHỮNG KẺ SỐNG TRONG HƠI MEN RƯỢU

Tôi đi dự một bửa tiệc trễ đầu năm, gọi là trễ vì đã là mùng 10 Tết rồi, 3 ngày Tết đã qua. Tuy trể nhưng vẫn vui,vẫn có không khí Tết, những thức ăn đa phần dành cho ngày Tết (bánh chưng, bánh ít, củ kiệu tôm khô, dưa món, thịt heo kho, canh khổ qua v.v….).Ở xứ người ta thường hay lấy cớ này cớ nọ để họp nhau nhậu cho vui, ăn uống
chẳng là bao, chủ nhà mời khách, khách đến đủ là chủ nhà vui vô cùng, nếu khách từ chối(vì nhiều lý do) thì mặt mày buồn xo.Tôi thấy chủ nhà hôm nay vui ra mặt, ông vui vì khách đông,đầu năm như vậy chắc làm ăn khấm khá.
Chủ nhà tuyên bố lý do:“Thân chào quý bạn ! Quý bạn đến đây để mừng
Tết Con Mèo với gia đình chúng tôi, con mèo thì lúc nào cũng dể thương, thích âu yếm, vổ về và rất là ngoan phải không quý vị? Vì thế chúng tôi chúc quý vị và gia đình luôn hạnh phúc, sự bình an đến với mỗi gia đình mãi mãi, mong rằng chúng ta không phải chỉ vui như hôm nay, vui như ngày Tết mà vui quanh năm suốt tháng. Điều quan trọng của hôm nay tại nhà tôi là: Quý bạn cứ thiệt tình ăn ít uống nhiều”. Những chai rượu quý bạn đem đến sẽ được mở hết không để lại, chỉ có thế và chúng ta bắt đầu.
Chủ nhà tôi quen từ lâu, anh rất vui tính, dể dải và xề xòa về mọi chuyện. Anh bạn của tôi tốt thật nhưng tôi không thích ở nơi anh một điểm là quá dể dải trong mọi lãnh vực. tôi thường nói với anh “bạn quá dể dải, phải có chuyện dể dải và có chuyện không nên dể dải nhất là về quan điểm chứ bạn” Anh cười và trả lời “với mình quan điểm rất rỏ chứ không dể dải đâu, nhưng hơi đâu để ý những kẻ nhập nhằng, lông bông…Kệ xác họ, họ là họ, mình là mình chả gì quan trọng đâu bạn ạ!Ngay cả chuyện thế giới chẳng hạn, trong khi quân đội Mỹ đang quần thảo với phe khủng bố ở Afghanistan cũng cùng giờ đó biết đâu Tổng Thống Mỹ đang ngủ vơi vợ, biết đâu trùm thủ lảnh khủng bố đang ôm gái ngủ v.v và v.v. Bạn đừng cho gì là quan trọng cả, cuộc sống mà, cứ vui và sống với lương tâm mình, những kẻ chó chết đừng thèm để ý…” Đó là một ít lý luận của anh bạn tôi, chính vì thế mà bửa tiệc hôm nay đủ mọi thành phần .
Có lúc tôi đề cập đến những người khách xô bồ của anh, họ đến để tán phét chứ chẳng được gì. Anh cười và nói “Mua vui cũng được một vài trống canh”.Thì té ra là như vậy? Bửa tiệc hôm nay khá đông, tôi nghĩ đến tình bạn, đến lòng tốt của anh nên tôi vui và uống như mọi người, không từ chối “uống”.Thử một bửa coi như thế nào(lòng thầm nghĩ như vậy).Anh bạn của tôi ngạc nhiên khi tôi nhập cuộc thiệt tình,anh vổ vai tôi nói “ Bạn đã ngộ trong bàn tiệc rồi đấy”, tôi cười không để ý đến”ngộ trong bàn tiệc là gì” .
Tính tôi rượu vô thì lời lại rút lui, nghe nhiều hơn là nói, có rượu mọi người thường tranh nhau để nói, tôi vẫn nghe đủ, nghe hết mọi chuyện trên trời và dưới đất. Có lúc tôi cảm thấy hay hay, chí lý để vổ đùi khen ngợi, tôi hòa nhập hoàn toàn vào bàn tiệc…Chưa hết rượu , nhưng quá khuya ,cũng có kẻ đã gật gù không nói.Tiệc chấm dứt.
Một tuần sau đó,tôi đi uống cà-phê với người bạn, người bạn này hôm bửa tiệc trể cũng có mặt anh, anh không uống vì nhức đầu, anh nể bạn ngồi đến giờ phút”tan hàng”.Anh cũng là mẫu người nhiệt tình với bạn bè nên ở đến cuối.
Người bạn nói với tôi :
_ Bạn còn nhớ những gì trong bửa tiệc không?
_ Nhớ là nhớ gì mới được, tôi chỉ nhớ mọi người đều uống và nói chỉ trừ anh uống nước trà và không nói.
_ Tôi kể lại cho anh những câu chuyện mà họ kể ra hôm đó, tôi thất vọng ghê rợn, tôi nghe chẳng được chút nào, thế mà bạn vổ đùi khen hay, thế mà bạn cười vui …Tôi chả hiểu nổi.
_ Vui lòng kể lại một vài câu chuyện mà họ kể hôm đó cho tôi nghe lại thử còn nhớ tí gì không?
Anh bạn bắt đầu kể câu chuyện thứ nhất của ông Di. Ông Di nói:
“Tôi nói cho quý anh ở đây biết nhé!Vừa rồi tôi chơi bạo mà chẳng thằng nào dám làm gì tôi, tôi là “chủ tịt”một Hội Đoàn lớn ở tiểu bang này, tôi cách chức hết những người trong ban bệ của Hội, tại sao tôi cách chức họ quý vị biết không? Chỉ vì họ khinh thường tôi, coi tôi chẳng ra gì, tôi căm thù về sự đối xử của họ đối với tôi. Chính vì thế tôi phải ra tay, tôi lấy danh một chủ tịch có học vấn,có bản lĩnh,có tư cách… Tôi chứng tỏ bản lãnh của mình để ra liên tiếp 3,4 thông báo bải nhiệm những người khinh tôi, tôi viết trong thông báo với lời lẻ hạ nhục họ như “thiếu khả năng không đề ra phương thức sinh hoạt, không tạo được sự đoàn kết…”Các bạn biết không? Nhiều người ngớ ngẫn đặt vấn đề “Phải làm đúng nội quy”, cần mẹ gì nội quy, chủ tịt là nhân vât số một rồi, chủ tịch lớn lắm không ai có quyền khi dể, chơi luật rừng là thượng sách, đây chỉ là một Hội Đoàn, đất nước Việt Nam mà Lê Duẫn,Trường Chinh, Nông Đức Mạnh….coi chẳng ra gì, bọn họ xài luật rừng chẳng ai dám hó hé, không lẽ tôi thua mấy tay đó sao? Tôi đã cho những kẻ khinh tôi biết thế nào là Lễ độ, thế nào là tội “khi dể ta”. Tôi học làm bản tin, in toàn hình ảnh, nếu quý bạn thấy hình tôi khi nhận chức chủ tịch thì các bạn sẽ trầm trồ “oai quá”, tôi cùng người vợ (có học 4 năm) đi phát bản tin trong ngày đám tang của một đồng hương, quý vị nào có đi đám tang thì biết.
Đàn anh của tôi là anh Gờ, anh ăn nói lưu loát(hơn tôi một chút) là quân sư của tôi để “chơi bạo lấy tiếng”.Chúng tôi lên Bộ Nội Vụ của tiểu bang mình để gạt tên những kẻ khinh tôi ra khỏi giấy phép, nay tôi là CHỦ TỊT còn anh tôi(anh Gờ) là Tổng Thư Ký kiêm luôn Thủ Quỹ. Ai làm gì được tôi “đã đâm thì đâm cho lút cán mà”bản lĩnh và học vấn của tôi là vậy.Tôi xin nhắc lại chuyện cũ một chút để quý bạn thấy tôi là người có tư cach như thế nào? Tư cách của tôi làm một chức “chủ tịt” chưa đủ nên trước đây khi tôi làm “chủ tịt” một Hội Đồng hương tôi kiêm luôn thủ quỹ, phải như vậy tức là mình có quyền lẫn tiền.Quyền và tiền phải đi đôi với nhau,cần đách gì ai khinh chê,có khinh ,có chê tôi cũng là chủ tịt .Hầu hết dân Việt Nam(mấy chục triệu người) dù có chửi,có có khinh…Ông Dũng vẫn là Thủ Tướng ,khi làm chủ tịt kiêm Thủ Quỹ tôi làm thẻ ATM rút tiền ,đổ xăng thỏa mái.Phải khôn mới được quý bạn ạ!”
Đó là lời kể của anh chàng Di nào đó trong bàn nhậu, thực ra anh kể chẳng ra vạt, lắp bắp, ấp a, ấp úng…Tôi tóm ý để anh nghe, dĩ nhiên không sai nội dung câu chuyện.Rỏ chán mớ đời, chuyện như vậy mà đem ra kể, chẳng biết nhục tí nào và câu chuyện thứ hai nhé anh bạn đời, câu chuyện này của một tay tên là Lá.Tên Lá nói:
“Anh như vậy cũng ngon đấy, 2 người mà dám chơi, bây giờ tôi kể chuyện thằng tôi cho mấy huynh nghe, chuyện thằng tôi có khác người, chuyện tình nghe quý vị. Xin lổi! Tôi giới thiệu tôi để quý vị rỏ.Tôi là một đại úy Cảnh Sát Quốc Gia có vợ đẹp và con cũng đẹp luôn, tôi yêu vợ tôi lắm lắm, yêu thương vợ suốt mấy chục năm, vợ tôi đã nhọc nhằn thăm nuôi tôi khi tôi đi cải tạo…Nhưng tôi vẫn chơi bạo lấy tiếng đấy quý bạn ạ! Câu chuyện của tôi như thế này này…Tôi có người yêu, mối tình cũng đẹp, lảng mạng ra phét, gần nàng vợ tôi chỉ là một bóng mờ, tôi muốn luôn kề bên nàng, có thể nói “Nhất nhật bất kiến như tam thu hề” . Bổng dưng nàng có người yêu, nàng không muốn liên hệ với tôi nữa, từng đoạn ruột như bị cắt, tôi bảo nàng “Không sao nếu như vậy càng hay chị khỏi nghi ngờ”(chị là vợ tôi).Nàng không chịu, nàng không muốn như vậy, nàng nói với tôi là nàng bây giờ đã có chủ, chấm dứt là vừa.Tôi suy nghĩ không thể được, tức quá tôi chơi bạo rủ vợ tôi ra tiệm của nàng để quậy phá, không lấy được cũng khuấy cho hôi mà lị!Tôi cảm thấy ghen, ghen thật sự với người yêu của nàng, tôi gọi điện thoại để lời nhắn chửi anh chàng đó một trận và, để chứng tỏ tôi ngon lành tôi nói “ Tôi bị nàng dụ dổ chứ tôi đâu có thèm vì tôi có vợ đẹp và yêu tôi,tôi cũng yêu vợ…”Chơi bạo lấy tiếng, sợ mẹ gì ai,dư luận mặc kệ, mấy kẻ xấu chỉa mủi dùi vào tôi, tôi vẫn hiên ngang chường mặt ra cộng đồng, vẫn mặc quân phục dã chiến với 3 mai gắn ở cào vai trông thật oai phong lẫm liệt.Tôi còn là một ông chủ tịch cái học viện của tôi, tự biên tự diễn, tự vẽ tự vời, một mình một chợ, tôi còn là cố vấn giám sát cho một cộng đồng nữa kia mà.Các anh có thể phong cho tôi là anh hùng tình yêu được không? Đời cần đách gì danh dự, chỉ có chút danh và tí tiền là được,các anh phục tôi chưa?”
Một tên nữa hôm đó tên là Dam nói.
“Hai anh vừa rồi nói cũng có lý lắm chứ, đáng khen nhưng chỉ làm cho các anh mà thôi, các anh xem đàn em đây này, mình phải làm cho vẻ vang phu nhân mình mới được, các anh ích kỷ quá. Các bạn ngồi đây có biết vụ việc thi hoa hậu phu nhân không? Ủa sao quý vị gật gù hết rồi nghe tôi nói chứ! ( có tiếng la nhựa nhựa trong đám xỉn ) .”Chúng tôi nghe nói đây ,các anh đều là anh hùng hết trọi, là vĩ nhân nên mới dám làm chứ người thường có ai mà dám làm như thế, hoan hô uống thêm đi nói mới linh…” .
Các bạn hiểu chữ phu nhân là gì không? Chữ này phong lưu quý tộc lắm đấy chứ không phải là vừa đâu? Phu nhân là vợ của các quan có chức, có tước như là phu nhân của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, phu nhân của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng…Ở Việt Nam, phu nhân của ông Chủ tịt Di hội võ biến, phu nhân của phó chủ tịch cộng đồng Dam… Chứ còn vợ của một ông sửa xe thì không thể gọi là phu nhân được, chúng ta phải phân biệt cho rỏ nghe các bạn, vừa rồi thi hoa hậu phu nhân là thi toàn vợ những người có địa vị, phu nhân của các ông nhớn nên toàn là đẹp hết, phu nhân của tôi trúng giải vì tôi có tiền và vợ tôi là người trẻ nhất,da dẻ còn căng, bụng eo lại không có phình ra như các phu nhân của đàn anh.Vương miện đã về tay vợ tôi. Các bạn có ước ao như tôi không? Tôi giàu có, vợ là người đẹp nhất tiểu bang Washington trong hàng phu nhân, nói thiệt quý bạn đừng có cười nhé! Tôi vốn gốc nhà quê ăn chắc mặt bền, trước đây chưa có tiền nên không ra cộng đồng nổi(nói nhỏ thôi các bạn đừng cười nhé!),đời khốn nạn lắm quý bạn ơi! Tôi có tiền sai thằng nào cũng được,mấy tay dù là quan bự trước đây khi tôi sai là chạy có cờ, quý vị không tin hỏi anh Lá vừa nói đó, đúng không đàn anh Lá?(đàn anh Lá gật đầu cười nịnh Dam), khi tôi khánh thành cột cờ thì vợ chồng ảnh khệ nệ bưng chậu bông tới,có tiền cũng sướng lắm quý vị ạ!Nếu không tiền làm sao tôi làm phó chủ tịch, làm sao được các báo chợ ở đây khen nức lời.Bây giờ trở thành trọc phú rồi tha hồ nói phét. muốn làm gì tụi họ cũng ủng hộ vổ tay khen, trong tiểu bang này chỉ có thằng Bia Miệng là ngu, tụi này thấy tiền không ham, đại ca Tê Đê có lần gọi muốn gặp tụi nó mà tụi nó ngu như bò không thèm gặp.
Rồi đây Lễ đăng quan có nhiều khách tới để xưng tụng vợ tôi, chụp hình và nhìn ngắm sự diễm lệ của nàng, biết bao nhiêu đàn anh và phu nhân của họ chảy nước miếng ước ao địa vị của vợ chồng tôi.Rồi đây phu nhân của tôi sẽ dấn than, noi gương hai Bà Trưng, Hai Bà chống Tàu ô (giọng nói nhỏ lại),ồ không được Tàu đây là Tàu xa xưa chứ không phải Trung Quốc đâu (lầm bầm nói nhỏ: “May không thấy mẹ mình rồi hứng lên nói bậy…”).
Mấy ngày Tết vừa qua tôi mỏi mệt vì phải cặp tay vợ đi nhiều nơi Lễ Hội, nàng đội Vương Miện hoa hậu tới đâu đều có Lân múa chúc tụng nàng, có pháo đốt đón mừng ngập xác dưới gót chân chim của nàng, cuộc đời còn gì bằng đâu, làm Tổng Thống Mỹ cũng như thế là nhiều, nhưng TT nhức đầu lắm, còn tôi chỉ cần ném một tí ra thì biết bao quan chức chạy theo, bỏ ra không nhiều đâu quý bạn ạ! Đó chỉ là một cục xương thôi.Tính tôi rất rộng lượng, anh hùng mà quý vị, cách đây đã lâu tôi đứng ra tổ chức quyên tiền cho nạn nhân bảo lụt Miền Trung, một tay đàn anh làm email giả để đánh phá chửi bới buổi quyên tiền ở nhà hàng đại ca Tê Đê, sau này biết rỏ đích thực là ai, tôi vẫn độ lượng giúp anh ta nhiều chuyện, nghĩ cũng tội cho anh ta ngó oai hùng vậy chứ rất dể thương ngoan ngoãn nghe lời tôi.Vui ơi là vui, không Tết nào như Tết con Mèo này, chúc mừng tôi xin các anh cạn ly.”
Người thứ tư nói cà lăm mà cũng rán mà nói, thật buồn cười,ông này tên là Gờ. Ông Gờ bắt đầu nói:
“Vừa rồi quý bạn nghe ông bạn Di chủ tịch một Hội kể có nhắc đến một người đàn anh của ông ta, người đó chính là tôi đây. Sống là phải mưu và lược mới được quý bạn ạ! Em chủ tịch của tôi hiền lắm,vốn gốc giáo viên cấp 1 nên ăn nói không được rành rọt, ấp a ấp úng đạo mạo lắm quý vị ạ, Con người phải tùy cơ ứng biến.Có một cuộc họp trong Hội tôi đưa một vấn đề ra với mục đích bôi lọ đối phương, vấn đề là thế này “ Tờ Bia Miệng là tờ báo chụp mủ cho người khác là Cộng Sản…” tụi nó yêu cầu tôi chỉ bài nào trong Bia Miệng chụp mủ…Đâu có mà chứng minh tôi lanh trí nói :Tôi nghe người ta nói như vậy. Nói ẩu không được, bọn nó bắt tôi phải xin lổi,tôi đành xin lổi cho qua chuyện, chết thằng Tây nào đâu. Tôi rất căm thù tụi Bia Miệng vì tụi nó đã chiếu slide hình của tôi nhận phần thưởng, đọc diển văn ở Hội VABAW, chúng nó bếu rếu tôi, hôm đó tôi “can đảm” ngồi đực mặt ra, tôi không quên mối thù này.
Đời này đừng nói đến danh dự làm con mẹ gì, tôi bị tai tiếng về cái Trung Tâm Văn Hóa, ai nói gì mặc ai, cần phải can đảm mới được, chính như vậy tôi mới khuyên thằng em tôi “đã cởi lưng cọp rồi thì đừng nhảy xuống,nếu nhảy thì cọp vồ ngay…” Thằng em trân mình ngồi trên lưng cọp phập phồng đủ thứ, nhìn thấy nó mà tội, càng ngày càng xanh xao, xuống cân thấy rỏ, hồi trước nó làm Hội Trưởng một Hội đồng hương, lem nhem tiền quỹ sao đó nên bị truất phế, bị chửi bới thậm tệ, thằng em trụt gần cả chục ký lô. Tôi và thằng em đang lập chiến khu hoạt động ngầm để chớ ngày ĐẠI KHỞI, thằng em tôi và tôi họp gu lắm, nó thâm y như tôi vậy, nó nói đúng đấy “ Trừng trị những tên nào khinh khi ta”. Bọn tụi nó láu thật, tôi làm cái barner lôi thôi chữ nghĩa rớt lung tung vì không quen tay chứ tôi đâu có DỐT, tôi nói năng cà lăm cà li trước đám đông vì bẩm sinh chứ đâu có dở, quý vị đọc thư của tôi gởi đàn em chưa? Đọc rồi sẽ thấy Gờ này tài ba thao lược, một chiến lược để tấn công. Sống là phải mưu trí mới được, tôi kể cho quý bạn nghe chuyện mưu trí của tôi, câu chuyện này được nhiều bạn đồng môn với tôi biết, quý bạn sẽ phục sát đất ,nó như thế này:
Tôi lái chiếc xe truck lên dốc bị lùi lại một chút, không ngờ phía sau có xe của anh bạn đồng môn, tôi đụng bể cái đèn trước của chiếc xe anh bạn, cái cục kéo “rờ mọt”của xe tôi đụng đó mà, tôi bảo anh bạn đồng môn “anh cứ sửa, hết bao nhiêu Gờ gởi tiền lại”.Anh bạn đồng môn đem đi xe sửa hết 7,8 trăm gì đó lâu quá tôi không nhớ rỏ, anh bạn gọi báo cho tôi biết, tôi thấy số tiền quá lớn(3,4chục thì OK),tôi nhanh trí trả lời anh bạn “ Gờ về nhà nghiên cứu kỷ lại rồi, xe Gờ không thể nào đụng bể đèn xe của anh được vì xe của Gờ phía sau thấp, anh cứ chạy tới chổ đụng hôm đó( nhà ông K), Gờ đem xe lại thử cho anh xem”.Tôi đem xe đến, anh bạn đem xe đến đóng lại nơi hiện trường, quả đúng phía sau xe của tôi không thể nào đụng bể đèn xe anh đồng môn được vì thấp hơn.Như vậy tôi khỏi đền, rỏ như ban ngày mà lị! Anh bạn đồng môn tức tối miệng lầm bầm, nuốt hận vì thua mưu của tôi, các bạn có biết sao không? Ở nhà tôi đã tháo mẹ cái cục kéo “rờ mọt” thì làm sao đụng bể đèn được, hôm trước có cục đó nên cao đụng đúng đèn xe của anh bạn đồng môn. Anh bạn đồng môn tức ứa máu, nhưng không nói được nên lời, hôm trước đâu có chụp hình xe của tôi đâu để làm bằng chứng.
Thưa quý bạn! Các bạn có biết nghệ thuật “vừa ăn cướp vừa la làng” không? Cộng sản Việt Nam thường chơi trò đó, tại sao tôi lại không làm như chúng làm, không lẻ tôi lại thua VC sao???chính vì thế tôi và thằng em chơi bạo, thằng em tôi cũng chịu chơi thật sự, nó ra một lần mấy thông báo cách chức trong Hội đồng của nó, các bạn thấy đó dân mình trong nước có đến 80 triệu người thế mà nhà cầm quyền đâu có sợ, hở tí là xài luật rừng, 80 triệu dân chẳng làm gì.Tụi tôi có 2 đứa tại sao lại không xài luật rừng chống cả chục đưá kia, sợ cóc gì ai? Bây giờ thằng em tôi là chủ tịch, tôi là Tổng Thư Ký kiêm luôn Thủ Quỹ, nắm đồng tiền để chiếm thế thượng phong vì thế tôi đề nghị thằng em loại ngay tên Thủ Quỹ ra, tiền quỹ do công sức nhiều người đóng góp bây giờ thuộc về tôi và thằng em, nói về tiền thì thằng em tôi có kinh nghiệm lắm,nó đã trải qua vụ tiền nong ở Hội Đồng Hương rồi. Chơi như vậy mới là chơi ,chơi cho mang tiếng cho đời biết tay phải không quý bạn”.
Nè anh bạn đã nghe rỏ chưa, từng câu chuyện tôi kể cho bạn nghe, những câu chuyện đó bạn đã vổ đùi khen hay. Riêng tôi ngửi chẳng vô tý nào? Những chuyện mà họ kể ra đó chỉ có mấy thằng điên mới làm, họ say sưa khoe khoang. Ông có thấy xấu hổ cho ông hôm đó không?
Tôi cầm điếu thuốc của anh bạn hút dở để trên cái gạt tàn đặt vào môi rít một hơi dài(tôi đã bỏ thuốc từ lâu), tôi cười và nói: Cám ơn bạn đã kể tường tận cho tôi nghe,thật là lý thú,tôi không nhớ được một chữ nào trong những câu chuyện đó.Ông ngửi không vô là đúng lắm rồi nhưng,anh bạn của tôi ơi! Bửa tiệc đó cũng cho ta một kinh nghiệm trong cuộc sống.. Anh bạn ngắt lời “Có gì để gọi là kinh nghiệm?
Có chứ! Kinh nghiệm là khi vào bàn nhậu, nếu không uống thì bỏ đi chứ đừng ngồi lại, khi anh tỉnh sẽ nghe những điều nghịch nhỉ, ngu si, đần độn …của những tên say, hôm đó tôi vổ đùi khen hay vì tôi cũng say.Có bao giờ anh nghe kể hoặc thấy một tên say làm chuyện nham nhở với cô gái, các tên say khác vổ tay khen hay và cho đó là anh hùng? Đừng thắc mắc gì cả bạn ạ! Một thằng điên cởi truồng chạy rông ngoài đường, những thằng điên khác hoan hô tán thưởng…Vì anh quá tỉnh đã nghe những tên say khoe khoang nhảm nhí nên anh buồn mửa. Bốn câu chuyện khoe khoang trong bửa tiệc hôm đó là của những tên say hay điên loạn, họ thích chí mĩm cười với thành tích của họ.
** Cám ơn bạn rất nhiều đây là kinh nghiệm cho tôi là đừng nể tình bạn bè để mình phải uống cho say và cùng ngồi chung mâm với lủ say.
** Và là kinh nghiệm cho bạn,nếu bạn không uống thì bỏ đi chứ đừng nể tình ngồi lại để nghe chuyện của lủ say làm bẩn tai của bạn./.

XUÂNLAN

VÔ HẬU

Vietsoul:21
Phó thường dân (7): (Vô) Hậu

[tiếp theo kỳ trước: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng]

Tết nguyên đán vừa qua, ngoài những rộn ràng ba ngày Tết thì phó thường dân tôi cũng hứng khởi theo dõi các diễn biến ở Tunisia, Ai-cập, Yemen, Algeria, Libya, Iran, và Bahrain hơn ba tuần qua. Cuối cùng thì sức mạnh của người dân đã thắng thế vượt lên trên cái chai lì của chế độ độc tài trên 30 năm cầm quyền của Mubarak. Toàn dân Ai-cập đã thực hiện giấc mơ lật đổ được một chế độ độc tài. Họ hy vọng tràn đầy với ý thức công dân và thực thi quyền đó trong một số cơ chế xã hội dân sự hiện hữu mong đất nước mình tiến đến một thể chế tự do dân chủ thực sự. Phong trào dân quyền giải (nội) thực (dân) khởi phát tại Tunisia đã bùng nổ và đang lan dần đến các quốc gia láng giềng xa gần.

Hậu-thuộc-địa (post-colonialism)

Các quốc gia nói trên hầu hết cùng chia sẻ chung một đặc thù lịch sử: hậu-thuộc-địa. Phong trào giải thực thập niên 50, 60 của thế kỷ 20 đã giúp cho người dân các nước này thoát khỏi xiềng xích nô lệ thực dân Pháp, Anh, Đức, Bỉ, Tây-ban-nha, và Hoa-kỳ. Dẫu thế, địa chính trị (geopolitics) đã đưa đẩy đa số các quốc gia này hoặc về phe Cộng sản hoặc vào phía Tư bản. Chỉ một số ít quốc gia khéo léo, lèo lái giữ vững được vị thế của mình không để bị lôi cuốn vào vòng đối lập này.

Sau khi giành được độc lập từ thực dân, các quốc gia hậu-thuộc-địa đã cùng nhau hội họp với tiên đề xây dựng đất nước để hậu thuẫn lẫn nhau. Hội nghị Á-Phi năm 1955 (Bandung Conference in Indonesia) khởi xướng phong trào các quốc gia không liên kết (Non-Aligned Movement, NAM). Phong trào này thành hình năm 1961 nhằm giúp các nước mới có độc lập kháng cự lại ảnh hưởng của hai khối quyền lực chính trị Tư bản và Cộng sản. Tuy nhiên, ý thức hệ chính trị và điều kiện xã hội của các quốc gia nằm trong phong trào không liên kết quá đa dạng và khác biệt nên không tạo được đoàn kết. Phong trào này rốt cuộc không đạt được kết quả như vạch ra trong chính sách và đề cương.i

Việt Nam là một trong những quốc gia hậu-thuộc-địa và đã có một số phận không may mắn lãnh nhận “nghĩa vụ quốc tế” làm “tiền đồn chủ nghĩa cộng sản” và con bài domino “ngăn chặn làn sóng đỏ”. Hậu quả là huynh đệ tương tàn, thằng sứt trán, đứa bể đầu. Rồi thì “giải phóng” thống nhất một nhà nhưng độc lập chủ quyền thì chẳng thấy và nào biết dân chủ, tự do. Cái chủ nghĩa (giáo) mác (lưỡi) lê đã chặt đứt đầu mầm móng dân chủ và đâm thủng lòng ước vọng tự do của toàn dân.

Mầm dân chủ trong thời hậu-thuộc-địa bị chặt móng ngay lập tức khi giới trí thức lên tiếng đòi tự do ngôn luận, độc lập báo chí qua phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm. Họ bị ngược đãi, phỉ báng, trù dập, cô lập cho đến chết. Phan Khôi khi mất chỉ có một người người cô và người cháu đưa tang, mộ bị mất không kiếm được. Triết gia Trần đức Thảo thì chết một mình trong căn nhà xập xệ và hài cốt để ở dưới gầm cầu thang. Nguyễn Hữu Đang lúc gần chết thì sợ không có chỗ chôn. Nhà thơ Hữu Loan phải về quê Thanh Hóa thồ đá để không phải chung đụng với phường bất nhân. Luật sư Nguyễn Mạnh Tường thì đành làm “kẻ bị mất phép thông công”ii. Một thế hệ tinh hoa dân tộc bị vùi vào tro bùn quên lãng.

Lòng ước vọng tự do của toàn dân thì bị (đâm) thủng ruột trong cái đói và bần hàn. Đói với tem phiếu trong xã hội chủ nghĩ–với “xếp hàng cả ngày” rồi “xuống hố cả nước”. Cùng cực vì đã làm “tiền đồn XHCN” nên khi Cu-ba ngủ thì Việt Nam thức (trắng mắt). Đói với hợp tác xã “gõ kẻng” đi làm trên những hoang tưởng không tự vẽ vời của “cánh đồng năm tấn” để bị thu thóc như “Cái đêm hôm ấy… đêm gì!”.iii Đói, đói, và đói. Đói như thế thì làm gì có ước vọng tự do mà chỉ mơ cơm trắngiv.

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, một nhà nước “chuyên chính vô sản” búa liềm đã siết chặt gọng cùm trên cổ người dân từ khi thành lập nằm 1946 cho đến khi cả nước sắp bị chết đói cuối thập niên 80 thì “đổi mới”. Chuyển tiếp đến là cuộc tiếm quyền của tập đoàn tội phạm Bộ chính trị Đảng CSVN—một thể chế độc tài, độc tôn, tự bầu bán, tự tung, tự tác, thao túng, tham nhũng và áp đặt quyền lực của bè đảng trong mọi lãnh vực. Người dân không có một tiếng nói, không có mảy may quyền công dân nào cả. Mọi người dân trở thành tù nhân dự bị, sẳn sàng bị bỏ tù bất cứ khi nào thực hiện quyền công dân của họ.

Tập đoàn quyền lực này thay ngôi đổi vị với thực dân ngoại xâm để trở thành nội-thực-dân. Chúng vẫn tham tàn không kém mà còn áp bức dã man hơn vì chúng đã học chuyên được phương sách, thủ đoạn cả Đông lẫn Tây để áp dụng cai trị dân. Chúng dùng cùm, dùng còng, dùng hơi cay, dùng chó nghiệp vụ, dùng báo chí (chó nghiệp vụ thời thượng), dùng loa phát thanh, truyền hình, dùng cả bao cao su (thời trước thì trùm bao bố cho mò tôm), dùng thủ anh và thủ nhang (bình vôi – bái vật – bà đồng) hội văn vẻ tuyên (huấn) sớ tế sống. Chúng điều kiện hoá và nô lệ hóa nhân dân với cái “sợ” qua thủ tục hành (là) chính “đầu tiên” (tiền đâu?). Vì hằng hà sa số “chuyện thường ngày ở huyện”v như thế nên xã hội đã biến thái trở thành vô cảm khi ngày một ngày hai phải ra vào sống với “lũ” (người ngợm) và “sống trong sợ hãi”. Một xã hội không biết mình tụt hậu trong khi các quốc gia khác đã chọn đường đoạn tuyệt với chế độ cộng sản.

Hậu-cộng sản (post-communism)

Đã hơn 30 năm từ khi cuộc cách mạng nhung của phong trào đoàn kết công đoàn Ba-lan đứng lên phất ngọn cờ tiên phong giải phóng đất nước. Chế độ cộng sản tại Đông Âu và cả thành trì Liên Bang Sô Viết sau đó cũng đã nối nhau sụp đổ, tan rã. Các quốc gia này bước vào thời kỳ hậu-cộng-sản xây dựng đất nước theo mô hình dân chủ tự do. Con đường này tuy không phải thẳng băng, và có gập ghềnh nhưng vẫn định hướng về một chân trời mới.

Không ít các nước hậu-thuộc-địa Á-Phi thử nghiệm với chủ nghĩa xã hội nhưng họ không ngu dại ôm lấy cái chuyên chính vô sản kiểu Mao, Lenin, Stalin, Pol Pot, Kim, và Hồ. Rồi dần dần họ cũng vất bỏ nó không thương tiếc. Chỉ còn sót lại vài tên cai thầu nô lệ mới trung thành với chủ (thuyết) để nô dịch hoá đồng bào chúng.

Như có đề cập ở trên, hội nghị Á-Phi Bandung đã đơm hoa cho Phong trào không liên kết của các nước hậu-thuộc-địa vào năm 1955. Nhưng mãi đến hơn năm mươi năm sau, khi thiên niên kỷ mới lật những trang đầu thì thế giới mới chứng kiến một phong trào giải nội-thực-dân của nhân dân Phi châu vùng dậy chống áp bức lật đổ những nhà độc tài và thể chế toàn trị.

Cũng thế mới đây, phong trào cách mạng hoa lài từ Tunisia sang Egypt lan đến Lybia và Bahrain là phong trào liên kết của những người cùng khổ. Họ liên kết với nhau trong một không gian mạng, không biên giới, không đảng phái, không ý thức hệ, và không phân biệt giai cấp.

Mục tiêu của các cuộc cách mạng nhân dân này là đòi hỏi quyền công dân, được sống trong một xã hội tự do dân chủ. Họ đã vượt qua rào cản tâm lý sợ hãi mà các chính quyền nô dịch này áp đặt trong đầu họ trên mấy chục năm. Ông Hosam Khalaf, một kỹ sư 50 tuổi nói dân Ai-cập đã nhận được thông điệp từ Tunisia là “Đừng tự thiêu mà hãy thiêu đốt nỗi lo sợ trong bạn. Đó là những gì đã xảy ra ở đây. Đây là một xã hội sống trong sợ hãi, và nỗi sợ hãi đã bị thiêu đốt ra tro tàn.vi

Một thiếu nữ khác nói “Đây là cuộc cách mạng cho ông của tôi. Họ đã nhẫn nhục bao nhiêu năm dưới chế độ độc tài này.” Anh Ghonim phát biểu “… Chúng tôi không là người phản quốc, chúng tôi yêu đất nước Ai-cập này. …Đây không phải là lúc chia chác nữa. Tôi nghĩ là các nhà chính khách hiểu tôi nói điều gì…”. Anh còn nói thêm, “Ngay sau khi tôi ra khỏi tù, tôi đã viết một mẩu tin rằng chúng tôi sẽ thắng, bởi vì chúng tôi không hiểu chính trị, bởi vì chúng tôi không hiểu những trò chơi bẩn thỉu của họ. Chúng tôi sẽ dành chiến thắng bởi vì những giọt nước mắt của chúng tôi xuất phát từ trái tim. Chúng tôi sẽ dành chiến thắng bởi vì chúng tôi có một giấc mơ. Chúng tôi sẽ dành chiến thắng bởi vì chúng tôi tin rằng nếu có ai đó ngăn chặn giấc mơ của chúng tôi, chúng tôi sẵn sàng chết để bảo vệ nó”.vii

Ngọn lửa cách mạng nhân dân (kiểu 2.0) đang lan truyền đến các quốc gia láng giềng xa gần từ Phi đến Á. Những “con dân” Tunisia và Ai-cập đang giành lấy lại quyền công dân của họ để được sống trong xã hội dân chủ, tự do.

Từ cuộc cách mạng đó, họ đã dạy cho tất cả chúng ta 4 bài học sau: (1) Ý chí của nhân dân. Trước hết và trên cùng đó là: nhà nước và chính phủ hiện hữu từ nhân dân mà ra chứ không phải ngược lại (như ngụy biện loại đảng trên cả tổ quốc và đảng là tổ quốc); (2) Chìa khóa để chiến thắng luôn luôn nằm trong tay của người dân – không phải lệ thuộc vào một ngoại bang (Hoa-kỳ hay bất cứ thế lực nào); (3) Tự do không phải dễ định nghĩa (và thường hay bị bóp méo như “tự do đi theo lề phải”) nhưng bạn biết ngay khi bạn có tự do hay không; (4) Tiếng nói vang dội nhất là tiếng của luân lý. Mọi phương tiện không thể biện minh cho cứu cánh – thực ra phương tiện giúp xác định cái cứu cánh và kết cuộc. Thử hỏi điều gì sẽ xảy ra nếu người Ai Cập, thay vì tuân thủ kỷ luật biểu tình phản kháng trong ôn hòa, lại dùng bạo lực khủng bố chống trả các quân lính và kẻ ủng hộ nhà độc tài để đạt được một kết thúc chính trị?viii

Việt Nam trong thời “kinh tế thị trường” “định hướng xã hội chủ nghĩa” có khác gì chăng?

Mầm mống dân chủ vừa mới nhú lên và lòng khát vọng tự do mong được giọt hồi sinh thì đã bị yểu mệnh khai tử với đôi còng số 8 trong cái gọi là “tuyên truyền chống nhà nước” (điều 88, Bộ luật Hình sự) và “âm mưu lật đổ chế độ” (điều 79, BLHS). Một số trí thức tranh đấu cho dân chủ tự do lần lượt bị bắt giữ giam cầm trong tù đày không biết ngày về (hết hạn tù này bị treo hạn khác).

Trong nhà tù lớn, những đói khát về vật chất qua bao năm “tem phiếu” thời bao cấp, hợp tác xã, ngăn sông cấm chợ nay bùng nổ chuyển sang thèm muốn những chú dế, con xế (siêu dế, xế hộp, siêu xế, xế khủng) để lắc để quậy. Song song đó là một nền giáo dục xơ cứng trong giáo điều “hồng” chuyên chính vô sản, vô gia đình để phục vụ đảng. Những lý tưởng phục vụ nhân sinh, dân sinh đã gần như bị tuyệt giống, lạc giọng trong xã hội vật chất xô bồ của thời kỳ “đồ đểu”. Cũng cùng lúc, bè nhóm tập đoàn cầm quyền đảng CSVN như con ma đói không ngừng lam nham, lũng lạm ngân quỹ, khai thác cạn kiệt tài nguyên, hủy diệt môi trường, vơ vét cho riêng chúng.

Có hy vọng gì cho tương lai đất nước Việt Nam?

Phó thường dân tôi có quen một người anh xứ Quảng luôn khắc khoải về tương lai vận mệnh của đất nước. Anh rất bi quan về đất nước hiện nay nhưng ngược lại rất lạc quan tin tưởng vào thế hệ trẻ. Anh có một niềm tin tuyệt đối vào thế hệ trẻ vì anh cho rằng không ai khác hơn là thế hệ này nắm chìa khoá tương lai vận mệnh đất nước, được thịnh hay suy.

Dân tộc Việt Nam khó thoát ra được khổ nạn chế độ độc tài nếu thế hệ trẻ không dấn thân. Những người đã từng tạo ra lịch sử trước đây thì đa số cũng đã ra thiên cổ hoặc đang đứng bên vỉa hè lịch sử. Thế hệ kế tiếp (Nguyễn Tiến Trung, Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, AnhbaSG Phan Thanh Hải, LS Lê Trần Luật, LS Lê Thị Công Nhân, TS Cù Huy Hà Vũ, KS Đỗ Nam Hải, Nguyễn Ngọc Quang, Trần Khải Thanh Thủy, Trần Đức Thạch, Phạm Văn Trội, Vũ Văn Hùng, Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đỗ Thị Minh Hạnh, Lê Trí Tuệ, Vũ Quang Thuận, người buôn gió Bùi Thanh Hiếu, mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, … kể sao cho hết) đã/đang lót đường, làm bản lề, và đòn bẫy cho thế hệ tiếp nữa nhảy vượt qua rào cản trì trệ, trơ lì, phản động của độc tài cộng sản.

Giới trẻ Việt Nam chắc chắn sẽ sánh vai ngang hàng với thế hệ trẻ Tunisia và Ai-cập đầy năng động, đoàn kết và phát kiến những chương trình và phương thức hành động bất bạo động tuyệt vời kêu gọi được quần chúng tham gia “vượt qua nỗi sợ” lật đổ chế độ độc tài áp bức.

Vì mệ Việt Nam đã quá chán ngán, cạn lời tán thán cộng sản là “cái quân vô hậu!”. Mẹ Việt Nam đang mong chờ tuổi trẻ khởi động toàn dân cùng đứng dậy đem cái hậu của tự do, dân chủ, phú cường về cho đất nước Việt Nam hậu-thuộc-địa, hậu-cộng sản.

© 2011 Vietsoul:21

i Non-aligned Movement, wikipedia

ii Kẻ bị mất phép thông công, Nguyễn Mạnh Tường

iii Cơm trắng, Phạm Lưu Vũ

ivCái đêm hôm ấy… đêm gì?”, Phùng Gia Lộc

vi Speaker’s corner on the Nile, Thomas L. Friedman. Bản tiếng Việt “Dòng sông Nile

viii Tóm tắt bài “Ai-cập: thời điểm học hỏi” (Egypt: A teaching moment? Amjad Atallah)

TÂM THƯ CỦA CSVSQTB /TĐ NGUYỄN ĐÌNH LÃNG

TÂM THƯ

Kính thưa quý niên trưởng,quý đồng môn.

Tôi mạo muội gởi đến quý Niên Trưởng cùng quý Đồng Môn ,lời tâm tình của tôi sau vụ việc Hội CSVSQTB Thủ Đức tiểu bang Washington đã xảy ra một biến cố lớn,một biến cố đau lòng của riêng tôi và, chắc cũng là của quý CSVSQTB Thủ Đức khác đã từng sinh hoạt.

Tôi là CSVSQ Nguyễn Đình Lãng khóa 13 trừ bị Thủ Đức ,là một người đã từng sinh hoạt các Hội Đoàn quân đội kể từ ngày bước chân đến Mỹ ,không chỉ riêng tôi mà hầu hết các cựu quân nhân trong QLVNCH đều mang một hoài bảo là tranh đấu cho một đất nước Việt Nam không còn chế độ Cộng Sản,từ hoài bão đó tôi đem hết lòng mình đóng góp một phần nào cho công cuộc tranh đấu của người Việt Quốc Gia ở Hải ngoại.

Tôi sinh hoạt với Hội CSVSQTB Thủ Đức tiểu bang Washington từ khi Hội mới thành lập,những trở ngại lúc ban đầu cũng đã vượt qua bởi thiện chí của một số Niên Trưởng,Đồng Môn…Đem tấm lòng của mình phục vụ Hội. Thăng rồi trầm không mấy tổ chức nào mà tránh khỏi. Trong sinh hoạt những bất đồng về phương pháp làm việc cũng thường xảy ra,nhưng có nội quy của Hội là kim chỉ nam để Hội vươn tới. Sinh hoạt dân chủ là một cần thiết,cần thiết bởi lẻ chúng ta vốn chiến đấu cho sự Tự Do,Dân Chủ,cần thiết bởi lẻ chúng ta yêu Tự Do,Dân Chủ nên bỏ nước ra đi,phương pháp tôn trọng dân chủ đã cho Hội vượt qua những bất đồng ,tinh thần Dân Chủ là một yếu tố để bảo vệ một tổ chức,một Hội Đoàn…Hội Thủ Đức được thành lập ngoài mục đích tương thân tương trợ lẫn nhau Hội còn có mục đích góp phần vào công cuộc tranh đấu chung của người Việt Quốc Gia hải ngoại.Thuận lợi về con người là Hội quy tụ những người cùng một lý tưởng,lý tưởng đã được xây dựng khi bước vào trường Sĩ Quan Thủ Đức.Trong quảng đời còn lại sau những gian truân,nhọc nhằn… Tóc đã ngả màu vì sương gió ,có thể nói nữa đời thấm sương gió. Không mấy CSVSQTB Thủ Đức là không muốn đi nốt quảng đường của mình,không mấy ai không muốn giử trọn câu thề khi ra trường TỔ QUỐC- DANH DỰ-TRÁCH NHIỆM.

Lịch sử éo le thật sự đã xua đẩy chúng ta đến tạm dung trên đất người ,từ bỏ Quê Hương là một điều đau lòng,nhưng dù sao cũng may mắn hơn một số chiến hữu còn đang trong vòng kềm kẹp của Cộng Sản. Hôm nay đây làm gì để khỏi thẹn với lòng khi nghĩ đến Quý Niên Trưởng,Đồng Môn,bạn bè, chiến hữu đã ngả xuống cho Quê Hương ? Làm gì để không thẹn lòng khi biết các chiến hữu một thời đã cùng nhau sát cánh ngoài mặt trận,họ đang có cuộc sống cùng cực,một cuộc sống không có Tự Do,Dân Chủ ở quê nhà?

Kính thưa Quý Niên Trưởng,Quý Đồng Môn!

Quý vị đã biết tôi trong mọi sinh hoạt của Hội, trong Hội có những dị biệt nào ,tôi luôn chủ trương “Dĩ hòa vi quý” luôn cố gắng tìm một giải pháp êm đẹp để hàn gắn mọi bật đồng ,vì biết dù là bất đồng nhưng tình đồng môn vẫn đậm ,hơn nữa những bất đồng đó không phải là một bất đồng về Lập Trường Chính Trị. Hơn và thua ở xứ người,được và mất gì trong hoàn cảnh chúng ta hiện tại ? Danh và lợi gì ? ? ? Tất cả đã mất hết khi Cộng quân cưởng chiếm miền Nam thân yêu,vâng mất tất cả chỉ còn một điều không mất đó là tinh thần người chiến sĩ VNCH,tinh thần đó là niềm kiêu hảnh của chúng ta,những người đã từng trực tiếp chiến đấu bảo vệ sự Tự Do trong suốt hơn 20 năm.

Một Hội đoàn,nhất là một Hội Đoàn quân nhân như Hội CSVSQTB Thủ Đức được thành lập trong tình đồng môn,trong tình huynh đệ chi binh và trong tình huynh trưởng và đàn em …Ý nghĩ đó trong tôi thật đẹp,người đời thường nói “ Khi thua trận thì loạn quân,loạn quan” Câu nói này không đúng trong ý tưởng của các CSVSQTB Thủ Đức.Không ai có thể nghoảnh mặt để “loạn quân,loạn quan” ,không một cựu SVSQ nào trở mặt để “Mày tao chi tớ” . Trong Hội có những Niên Trưởng vói nhiều năm lính,có những đàn em với tuổi lính chưa được bao,hôm nay ngồi lại đây,ngồi lại với nhau không phải trên cổ áo,vai áo có những cấp bậc ,nhưng ngồi lại với nhau trên cổ,vai áo với chữ Alpha ,không gọi nhau như bao nhiêu chục năm về trước :Đại Úy,Thiếu Tá,Đại Tá,Tướng… Mà tiếng xưng gọi của ngày hôm nay thật dể thương,trìu mến : Niên Trưởng và Em. Vâng đúng thế!Có những Niên Trưởng đáng cha chú của đàn em,hôm nay ngang hàng sánh vai trong mọi sinh hoạt,cái chung đã đặt lên trên cái riêng.Còn gì cảm kích bằng khi một Niên Trưởng lớn tuổi nhận nhiệm vụ do từ đàn em xa lắc của mình phân công? Tình anh em sâu đậm quá bởi lẻ anh và em đang nhìn về một hướng để sống nốt những năm tháng lưu vong. Ngày tháng cứ vô tình trôi qua không để lại một dấu ấn nào nên chúng ta bám vào thời gian để sống,sống cho đáng sống ,tôi có thể mượn 2 câu thơ của Văn Thiên Trường một tướng quân nhà Tống khi bị quân Nguyên bắt ,họ chiêu dụ ông ,tướng Văn Thiên Trường trả lời“ Nhân sinh từ cỗ thuỳ vô tử _ Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh” (xưa nay hỏi ai không chết _ Hảy để lòng son chiếu sử xanh). Không gì là tuyệt đối ,không gì là vĩnh cửu ,chúng ta chắc ai nấy cũng đã có những lúc vinh hoa và cũng có lúc xuống tận cùng dưới vực thẳm? Có những thứ ngày hôm nay hiện hữu ngày mai tan biến,vô thường của cuộc sống là vậy.nhưng chỉ có cái TÌNH là vĩnh cửu,ngày mai đây khi một niên trưởng nằm xuống,đàn em còn lại có lúc suy tư nhớ tới Niên Trưởng của mình khi còn sinh hoạt .

Có điều gì cao quý,giá trị trong danh vọng ,địa vị…trong mộng tưởng của ngày hôm nay ? Để thay thế cái TÌNH ANH và EM? Khó quá,khó có gì để thay thế được .

Kính thưa Quý Niên trưởng,Quý Đồng Môn!

Thăng trầm trong sinh hoạt,tôi đã nghiệm ra được cái TÌNH là quý,Chúng ta đã nhận ra được sự cao quý của nó hay chưa?Chúng ta đã biết trân trọng gìn giử nó hay chưa? Tham vọng nào để xóa bỏ TÌNH cao quý đó? Đó chỉ là một thứ tham vọng điên cuồng. Đàn em nhỏ nhất năm nay cũng đã gần 60 ,với tuổi đời như vậy dù có tham hay vọng cũng chẳng được ,tuổi đã bắt đầu mỏi mệt,tuổi đã bắt đầu quên trước quên sau ,không nên tìm trong ảo vọng để đánh mất thực tế.

Thành lập Hội CSVSQTB Thủ Đức mục đích trước hết là tình Đồng Môn,có được tình Đồng Môn thì chắc rằng những mục đích khác không khó để thực hiện. May mắn của chúng ta là đã có được đào tạo chung một quân trường ,may mắn của chúng ta là cùng chung một lời thề,may mắn của chúng ta là cùng chung một lý tưởng và,còn nhiều may mắn khác để có một mẫu số chung.Tất cả những may mắn không đủ để các CSVSQTB Thủ Đức nắm tay nhau đi nốt quảng đường đời còn lại hay sao ? Chỉ có đầu óc không thực tế ,luôn sống trong ảo tưởng mới xóa bỏ tình Đồng Môn.

Biến cố Hội Thủ Đức Washington vừa qua ,hai người chủ xướng đã gạt bỏ hết tình đồng môn,biến cố đó đã xóa bỏ quy củ huynh đệ ở quân trường ,tôi chẳng bao giờ tưởng tượng nổi là có biến cố này chứ đừng nói là nghĩ đến. Tôi không thể nghĩ đến một đàn em Nguyễn Đồng Duy khóa 4/71 tuổi lính khi ra trường chưa đầy 3 năm và cũng chẳng tưởng tượng được một đồng môn Đặng Ghi đang sinh hoạt ở một tổ chức được gọi là “Trung tâm văn hóa” ,Đặng Ghi khóa 25 ,hai người này đã dày xéo tình huynh đệ bằng những lá thư,thông báo,có thể nói “cạn tàu ráo máng” với những lời lẻ đáng lý họ để dành cho quân thù . Nguyễn Đồng Duy với những thông báo bải nhiệm các đàn anh của ông ,NĐD xỉ nhục họ bằng những lời sai sự thật. Tôi là người đi trước anh Nguyễn Đồng Duy,tôi đã giúp anh rất nhiều trong thời gian anh làm chủ tịch Hội,thông báo sinh hoạt,thư mời,chương trình,bản tin… Tôi gúp anh để hoàn thành công việc ,tôi vui vẻ để tạo điều kiện cho anh Duy phát triễn Hội ,tôi hiểu anh Duy với khả năng hạn chế chưa biết điều hành Hội .Hôm nay anh Duy vất bỏ danh dự của anh bằng những thông báo bất chấp nội quy,bất chấp tôn tri trật tự… Không hiểu có lúc nào anh Duy tự vấn lương tâm về hành động của anh? Sự thù hận nào ngút ngàn trong anh để anh nói “Đã đâm thì đâm cho lút cán” Trong Hội là những Niên Trưởng ,đồng môn của anh …Không có kẻ thù ! Thật là tôi không thể tưởng tượng nỗi một sự giáo dục nào đã hình thành trong anh Duy???

Về phần anh Đặng Ghi,anh đến nhà tôi để yêu cầu ký vào thông báo bất tín nhiệm anh Trưởng ban lãnh Đạo Nguyễn Quốc Hùng ,tôi không đồng ý vì anh Ghi và Duy làm sai nguyên tắc hay nói đúng hơn là sai nội quy,anh Ghi đã trả lời tôi “ Tôi biết là sai nhưng vì đại cuộc” Tai tôi ù vì tưởng mình nghe nhầm,anh Đặng Ghi xuất thân từ một quân trường với tôi,những căn bản kiến thức chắc cũng có như biết bao đồng môn khác.Thế mà anh đã nói “Biết sai nhưng vì đại cuộc” Tôi không hiểu nổi anh muốn nói gì? SAI mà ĐẠI CUỘC sao? Không lẻ với anh những gì SAI,BẬY là ĐẠI CUỘC? Quý Niên Trưởng , Quý Đồng Môn có cho phép tôi nghĩ “ à! Té ra Hồ Chí Minh làm sai là đã đưa cả dân tộc VN xuống bần cùng,không quyền làm người… là vì ĐẠI CUỘC hay sao?” .

Hai anh Duy và Ghi tự tách rời mình ra khỏi Hội , hai anh chiếm đoạt danh xưng với những chức vụ Chủ Tịch,Tổng Thư Ký,Thủ Quỹ đã đem đến cho hai anh danh dự gì đây hay mất hết? Đã đem đến cho hai anh quyền uy gì đây hay hai anh bị chôn vùi? Tôi không nghĩ là có lấy được một CSVSQ TB Thủ Đức nào đi cùng hai anh để gọi là TÌNH ĐỒNG MÔN .

Kính thưa quý Niên Trưởng,Quý Đồng Môn!

Sự đổ vở ngày hôm nay trách nhiệm thuộc về ai? Về các niên Trưởng trong Hội? Tôi không nghĩ là vậy.! Bởi lẻ một Hội đoàn ở đây sinh hoạt với sự tình nguyện,trong sinh hoạt dựa theo nguyên tắc: sự tôn trọng lẫn nhau,lòng tự trọng,biết lẻ phải,căn cứ vào nội quy … .Hai anh Đặng Ghi và Nguyễn Đồng Duy đã xóa bỏ những nguyên tắc đó, sự đạp đổ đó của hai anh Ghi và Duy đã trái với tính nhân bản (chưa nói đến tình đồng môn) , sự đạp đổ của họ theo một ý thức thù hận,theo sự ích kỷ …xuất phát từ nội tâm của họ.Họ xỉ vả các niên trưởng ,đồng môn của họ để đoạt Hội ,dẫn đi theo chiều hướng sinh hoạt khác mà anh Đặng Ghi cho là “đổi mới,lột xác 100%…” Một tôn ti trật tự bị đánh đổ vì hai anh Ghi và Duy có ý nghĩ “cá mè một lứa”thì một quyền lực nào trong Hội ngăn cản họ? Theo tôi nghĩ các Niên Trưởng ,Đồng Môn trong những cơ chế Hội đã làm tròn nhiệm vụ.Tại sao tôi nói như vậy? Họ đã làm tròn thực sự khi đề ra lập trường 4 không (khai triễn từ nội quy),họ làm tròn trách nhiệm là đi đúng đường của quân trường đào tạo ra họ,những cấp chỉ huy của một quân đội yêu Tự Do,tôn trọng quyền Nhân Bản .Các Niên Trưởng không dẩn Hội đi vào lối đi có nhiều nhập nhằng,không ngửa tay xin những đồng tiền bất chính,không màng đến những danh dự ảo…lối đi này sẽ sập bẩy “Nghị quyết 36” mà CSVN quyết tâm thực hiện .Hôm nay đây hai anh Ghi và Duy đã xé rào đi theo chiều hướng khác ,không phải trách nhiệm của một ai như vài ba người hoan hĩ khi thấy biến cố xảy ra để rồi cố tình gán tội cho Quý Niên trưởng . Sự ý thức là một cần thiết trong sinh hoạt ,khi một ý thức không còn trong một người nào đó chắc chắn rằng danh dự của họ cũng đi theo luôn như trường hợp hai anh Ghi và Duy. Quý Niên Trưởng,Quý Đồng Môn đã theo dỏi cả hai bên (một là bên những người còn lại,hai là bên hai ông Ghi và Duy) ,chắc chắn quý vị đã hiểu rỏ hư thật như thế nào?

Hội CSVSQTB Thủ Đức tiểu bang Washington không còn hai anh Ghi và Duy nữa ,sự phản bội của họ đã xóa tên họ. Chúng ta vẫn sinh hoạt bình thường trong tình Đồng Môn,trong tương lai gần đây Hội sẽ có chương trình sinh hoạt,chương trình đó được phổ biến trong bản tin hằng tháng gởi đến đồng môn. Tôi kính chúc Quý Niên Trưởng,Quý Đồng Môn được nhiều sức khỏe.

Kính

CSVSQ Nguyễn Đình Lãng khóa 13

GIÓ MƯA LÀ CHUYỆN CỦA TRỜI

Vietsoul:21
Phó thường dân (8): Gió mưa là chuyn ca tri …

[tiếp theo kỳ trước: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu ]

Gió mưa là chuyn ca tri

c non là chuyn ca ngưi công dân”

(Phng thơ Nguyn Bính)

Cn tun nay phó thưng dân tôi nm bp nhà. Chng bun đi đâu vì tri hết mưa xong chuyn sang đ tuyết. Mưa vùng Tây Bc Hoa-kỳ này nhiu đến ni ngưi dân đa phương thưng t trào rng “Đã là ngưi Seattle thì nng không đủ sm màu da, ch dm mưa cho r sét.” (Seattlite don’t tan, we rust).

Nói thì nói vy thôi ch trung bình lưng nưc mưa rơi Seattle vn còn thp so vi các nơi khác trên toàn quc. Seattle đng hng th 44 sau c New York, Miami, và Boston. Nhưng (cái nhưng đáng k này) s ngày mưa Seattle thì có th đưc cho là “hơi bị” cao. 158 ngày trong năm, gn như là 50 phn trăm. Tm coi là ngày nng, ngày mưa c thay phiên nhau.

Nhưng đưc mt cái là mưa đây lai rai theo kiu mưa phùn lt pht. Không nng ht như mưa rào, mưa trôi ni thng rế, mưa trng tri trng đt, hay mưa lút mt lút mày. Hi mi sang đây phó thưng dân tôi my năm đu còn che dù khi đi mưa. Ri vì tt hay b quên, làm mt, nên riết cũng quen, và thế là t hai mươi my năm cho ti gi chng bao gi bn tâm che dù hoc mc áo mưa.

đây nếu năm nào mà không có tuyết và mưa ít thì các viên chc thành ph–gii chc tiu bang, công ty đin, s cung cp nưc—liên tc cnh báo và giáo dc ngưi dân tiết kim. Chuyn kêu gi điu tiết gim thiu s dng đin nưc đ hu bo đm cung cp nhu cu cho tư nhân và hng xưng nht là thi gian cao đim mùa hè. H nói dzy phòng h ch phó thưng dân tui thy cũng tùy. Vì vn có nhiu ngưi xài x láng chng gi gìn gì ráo tri, và bù li cũng nhiu ngưi đ ý x dng đin nưc cn thn. Tu chung hơn my chc năm nay tui hng bao gi thy ai phi chu thiếu nưc, thiếu đin.

a, gió mưa là chuyn ca tri … nói ti nói lui làm chi hè!

a, mưa thì mi có nưc … hng có mưa thì “ly tri mưa xung, ly nưc tôi ung, ly rung tôi cày, ly đy bát cơm, ly rơm đun bếp.”

Thiếu nưc là thy th ngáp ngáp ri. Thi vưt biên ngày nào làm sao quên ni! Không có nưc thêm vài hôm na thì phó thưng dân tui đã há ming cá ngáp ngoài Thái bình dương ri!

Nhưng nguy nht gi là mt nưc tut lut, là tiêu tùng vn vn con cháu vua Hùng à nghe…

Thiếu nưc, tha nưc, mt nưc

Nói ti t ng c thì phó thưng dân tui thit tình hng làm sao hiu ni nhng chuyn cc c thiếu nưc, tha nưc, mt nưc cái đt Vit Nam thi “hin đi” này.

Năm nào cũng hn hán, thiếu nưc nghiêm trng dn đến vic mùa màng tht bát. Thiếu nưc thì đưa đến thiếu đin. Đin cúp lia chia bt k đêm ngày, chng cha nơi đâu, có đến chết ngưi.

Thiếu đin thì lp tc có thiên tài đng ta no, có xây đp thy đin. Mi tnh mi vùng mnh ai ny làm, xây đp thy đin đ tăng trng nưc và công sut đin. Có nưc đâu mà tr! Nưc trên tri rơi xung, thưng ngun chy ra ch đâu phi c xây lên là có nưc, có đin.

C hai min đt nưc l thuc vào ngun nưc chính t sông Mê-kông và sông Hng. Hai ngun nưc đó gi đã cn kit, gim lưu lưng mt cách kinh hoàng. Sông Tin, sông Hu có nhng đon nưc cn tàu bè không chy đưc. Còn sông Hng thì trơ bãi cát ngang sông.

Vì sao? Chuyn gì đu ngun? Ai cn ai ngăn? Hay chăng là chuyn “l”?

Thit l hết sc nghen. Vit Nam bây gi thì gn như đng phi chuyn gì cũng là chuyn “l”. Tàu “l”, rau qu “l”, hoá cht “l”, go “l”, công nhân “l” … riết ri dám Vit Nam cũng thành nưc “l”.

Chưa xong. Hết thiếu nưc thì đến tha nưc. Toàn trò cc c. C mi ln mưa xung thì thành ph ta tha h ngp nưci. Ngp t mt cá, ngp lên đu gi, ngp ti tht lưng. Ngp cng, ngp đưng, ngp ch, ngp th dàn (th bè).

Triu cưng đó mà. Nghe mà bt mt. Hoa m chơi ch làm chi cho má nó khi.

Ngp nưc thì nói đi là ngp nưc cho nó gn, ch đng có đ tha cho sông cho bin. Ri thì thau chu, phao cho, thùng phi, thùng xp, tt c các phương tin di chuyn chiến lưc trong hai thành ph mang tên (cá) ng và th đâu Hà Nu. Nu nói thâu ru?

Thiếu nưc và tha nưc mà không sang qua, st li cho toi lòng nhau đưc. Nghit dzy! Nhưng chu vy sao? Thôi thì còn nưc còn tát ch biết sao gi.

À mà phó thưng dân tui có nghe c thế gii ch có mi Vit Nam là t ng “nưc” đ ch cho đt Vit Nam. Đt đi kèm vi nưc thành “đt nưc”, nghĩa là “nưc” bao hàm c đt và nưc. Nưc đi vi ngưi Vit Nam rt quan trng, bt ngun t nn văn minh lúa nưc. Văn minh ca nhng ngưi xâm mình chng thung lung, ca Lc Long Quân, v thy thn huyn t ging Lc Vit. Lc cũng là nưc. Tc là khi nói v Vit Nam là nói đến nưc.

Thế nên điu đáng s là Vit Nam đang dn dn mt nưc – mt bin, mt đo, mt đt, mt ch quyn – Còn ai bứng (trng) khoai đt này! Đó là đám ni-thc-dân Đng CSVN.

Cóc kêu vi tri!

Nói ti nưc thì phó thưng dân tui nh li câu chuyn con cóc là cu ông tri. Cóc ch nghiến răng kêu là tri mưa. Nhiu ngưi chc ai cũng quên đu đuôi câu chuyn rành mch ra sao mà ch nh đến đon “cóc nghiến răng tri mưa”. Nhưng mà có phi tht vy không? Hay là cóc c nghiến răng kêu tri mà tri vn cóc thèm đ ý?

Cóc kêu vi tri thì nhm nhò gì. Hãy đc vài dòng v s phn Phan Khôi, con cóc tía dưi thi VNDCCH năm 1954-1960:

Tiếng th dài và tiếng chép ming ca ông trong nhng ngày cuối cùng như còn vng li. Sinh thi, mi ln ông nói đến mt ni oan khut nào đó ca ngưi đi, ông vn thưng nhc đến tiếng cóc kêu vi tri! Gió mưa là do chuyn hoá Đông – Tây ca thi tiết, nhưng vn có ngưi tt bng tin rng: Tri mưa nh có cóc kêu.” (Trần Duy, Tưng nim v Phan Khôi đăng trên Talawas ngày 18/6/2008)

Còn thi CHXHCNVN thế k 21 thì sao? Mt con cóc kêu tri cũng chng đưc chi. Con cóc tía Cù Huy Hà Vũ đã chm ti thiên đình nhưng thưng hoàng đã sai đám thiên lôi ch đâu đánh đó dương búa sm sét, đóng gông vào cùm.

Cóc con thì dzy, còn tri (con) thì sao?

Thưng hoàng b chính tr đã chng ra r ca ngi cái “thiên đưng cng sn” đó sao? Có gì mà than vãn.

Phó thưng dân nghĩ li thì thy cũng hng trt. Thiên đưng cho tp đoàn ti phm vì h t tung, t tác mun làm gì thì làm, mun vơ vét, lam nham, lũng lm c nào cũng đưc.

H nói “làm theo năng lc hưng theo nhu cu” cũng trúng phóc luôn. Năng lc h hng có, h yếu/thiếu kh năng thì h ch làm lam nham thôi. Nhu cu thì ngưc li rt cao, nên h cn vơ vét hết đ tha mãn chúng. Đ tui nh nha: nhu cu xây đn th hii, nhu cu đi xế khng, nhu cu rau schiii, nhu cu nht d đế vươngiv.

Ch có đám nô-l-mi (phó) thưng dân thì đi vi h là không có nhu cu nhiu, li có năng lc lao đng cao nên phi đưc tn dng hết c trăm phn trăm. Ngưi nô l thì bù đu cm c làm vic, đâu có thi gi hoặc cn tiêu khin nên cơm hm, cà thiu, cháo rau qua ngày là quá l phi ri.

Th coi nè. Ai đi có cái anh chàng lao đng xut khu con thng cha mc dch nào đó hng biết. Va hc (hc xì ke), va làm (la) xong hai ba bng cp trong vòng my năm ngn hng rõ. Nhưng đến gi th 25 đăng đàn vào y viên Trung Ương sánh vai vi ngưi (S)ang k (T)rng. Gi l m vai công nhân làm chi cho mt cái thân! Hãy đình công lãng vic ri t đó phn đu thay tên thành Tun, đi h là Nông, đ thoát đi công nhân vô sn. T nhiên thành chàng Nông tun kitv dzô quyn, dzô tin là chc ăn nht.

Chưa hết. Gã cha ca thiếu ch Nguyn Thanh Nghvi thì ly ca thiên (h) tr đa cho tên này xài x láng. Y đưc (ngao) du hc trưng cha già đế quc M George Washington, hng phi trưng ĐH Đng (cha già dân tc) H Chí Minh à nha. Mi hc ra trưng (2006) “phục hổ, tàng long” ch vài năm sau (2009) “được” bổ nhiệm Phó hiu trưng ĐH Kiến Trúc TP HCM. Ri úm ba la ùm bà là thành là y viên trung ương (2011).

Tui nghĩ các sinh viên tr có kh năng, năng lc chc còn hơn tay này nhiu. Nhưng tiếc thay là các bn không làm sao “phn đu” đ được lt vào giai cp COCC, CCCC (con ông cháu cha, con cháu các c). Các bn nm trong giới vô sản cccc (con cóc cái cò) thành ra c nghiến răng kêu tri và ln li b ao kiếm ăn đi thôi. Bn nào không vic đúng ngh thì đi làm cu vn, công nhân v sinh vn dng sc cơ bp. Trng trách quyn li thì đ “tri con” BCT t nhiên no giùm.

Thi phế anh hùng (anti-heroic)

Các dân mạng thông rành thời cuộc, tình hình thế giới hơn phó thường dân tui thì ai cũng biết. Nhng cuc cách mng bo lc, chuyên chính giai cp hay ý thc h đang gn như bt kh thi trong hoàn cnh thế gii hin gi. Thi bây gi coi như là thi phế-anh-hùng (anti-heroic). Thi mt mình, mt nga Kinh Kha đã tàn, chỉ để tán trong trà dư tửu hậu. Thi bây giờ không ch mt lãnh t, mt thánh Gióng xut hin khai l, dn đưng.

Gi là thi ca ngưi cùng kh, không ý thc h, không phân bit giai cp, chính kiến. Thi ca nông dân mt đt, ca công nhân lương chế đói, ca ngư dân không bin chài bt, ca sinh viên không vic, ca ph n đi làm ôsin, ca tráng niên đi làm cu vn, ca tr em/c già lang thang bán vé s, ca ngưi rơm/ngưi rng lưu lc phương tri, ca thiếu n cô Kiu bán thân đ n.

Gi là thi s phn con giun cái kiến qun lên đòi làm ngưi, làm công dân vi đ nhân quyn dân quyn.

Tt c nhng ngưi đang thiếu nưc, thiếu cơm, không có ch quyn, hay đang dn dn mt nưc cũng phải biết t tp đoàn kết đng cm vi nhau.

Không chóng thì chy h cũng theo gương cóc tía nh bé cùng các ch cua ôsin, anh gu cu vn, đàn ong công nhân, ông cp dân oan, cô cáo sinh viên náo đng thiên đưng đòi mưa, có nưc làm ăn, có đưng sinh sng.

c là nưc ca nhân dân, ca đng bào ch đâu phi nưc mang tên XHCN hay đc tài cng sn. Đng bào sng trong nưc nhưng oái ăm thay nưc thì đã mt vào tay ni-thc-dân. Sao đng bào buc đành làm ngưi nô-l-mi khát nưc mà li phải phc v đám bo quyn tp đoàn ti phm b chính tr Đng CSVN?

Phải đòi bng đưc quyn công dân và quyn làm ngưi và cho mt mt xã hi chuyn đi tr nên t tế, lương thin. Quyết không sng chung vi “lũ”, vi “đ đu”, vi “chuyn thưng ngày huyn”.

Sinh viên đòi quyn có công ăn vic làm da vào kh năng ch không da vào thân thế con ông cháu cha, con cháu các c, hoc phe nhóm . Công nhân đòi quyn lãng công, đình công đ đòi hi và đt đưc ci thin điu kin công vic và lương bng tương xng. Nông dân đòi quyn hip hi, đưc tín dng, bình n giá c phân, ging. Ngư dân đòi đưc s bo v ca hi quân trong vùng lãnh hi quc gia không b khng b t tàu “l”. Thương nhân đòi hi đưc t do buôn bán hp pháp không b nhũng nhiu bi các quan thuế, quan thanh tra, quan th, quan quân …

Đng lot, đồng lòng, đồng hành sát cánh đòi lại quyền chính đáng. Nếu cóc nghe li bàn qua, tán li thì cóc đã nhy v đáy giếng cn nghiến răng ken két than tri trách phn. Nếu cóc mt mình mt thân thì gà tri đã m cho lòi óc. Cóc kết hp vi nhng con vt khác đem dũng khí và trí thông minh sáng to đ lên ti thiên đình đòi mưa, có nưc, đem sc sng cho vn vt. Cóc vn dng trí khôn dùng s trưng ca tng con vt đ chng đ li thiên lôi (công an còn đng còn mình, ch đâu đánh đó), gà tri (gà thiến gáy to t các kèn đng thau/Đông La), và chó (chánh án) nhà tri. Cóc kiên cưng, dũng cm đã quyết tâm cu mình và cu c muôn loài.

Cha ông chúng ta đã sng nhn nhc bao năm và ta còn phi sng nhn nhc bao năm na?

Đã có nhng ngày mà con ngưi lương tâm táng tn, con t cha, cháu t bà, bn bè t nhau. Đã có nhng ngày mà phm giá con ngưi b bôi nh, chà đp, xoá tên và xóa du vết ngưi (Phan Khôi, Lưu Quang Vũ, Nguyn Hu Cu, Trn Văn Sương). Đã có nhng ngày mà h tr thành ngưi lưu đày trên chính nưc h (Trn Đc Tho, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Lê Trn Lut) và là “k mt phép thông công” (Nguyn Mnh Tưng, Cù Huy Hà Vũ). Đang có nhng ngày mà s đu cáng, la đo trng trn là điu hin nhiên cho thi kỳ “đ đu” khi hàng lot tiến sĩ mác gi nm chc v quyn năng quan trng còn tiến sĩ hàng tht thì xách cp, son bài cho quan “tiến sĩ giy”.

Cha ông chúng ta đã sng nhn nhc bao năm và ta còn phi sng nhn nhc bao năm na?

Đang có nhng ngày mà chính quyn dùng phân, dùng bao cao su đ bôi bn, bôi nh nhân phm con ngưi. Đang có nhng ngày mà nhà nưc dùng đu gu, ti phm hành hung, gây hn, đ thương nhng công dân yêu nưc. Đang có nhng ngày mà “trung vi Đng” ti phm đ đưc quyn hành, bng lc. Đang có nhng ngày mà “hiếu vi dân quan (đy t)” đem li ô dù bao che ti ác.vii Nhng ngày dài lng chìm trong đau kh vn tiếp tc …

Cha ông chúng ta đã sng nhn nhc bao năm và ta còn phi sng nhn nhc bao năm na?

Có dăm ngưi lun bàn về thời cơ và phương án. Thi cơ đâu? Đến khi nào thì đ điu kin? Ch đi minh quân lãnh đo nào xut hin? Ai là ngưi quyết đnh thi đim cơ hi? Ai là ngưi xác quyết điu kin ch quan/khách quan, cn và đ? Chính tr gia nào pht c? Bình lun gia, chuyên gia nào phân tích rch ròi lên hiu bt đèn xanh? Phương án nào và n s nào ti ưu? Chuyn ln hay chuyn nh? Chuyn tht hay chuyn gi?

Phi chăng chuyn s đơn gin hơn khi mi chúng ta chn la ng x và hành đng t cu mình và cu muôn loài như chàng cóc bé nh. Có dũng khí đ tranh đu dành li quyn li nhân phm khi sinh ra đã có. Biết hp qun đ to sc mnh. Đem trí tu vn dng mi phương tin trong cuc đu tranh. Ngày mai còn nưc là do kết qu nhng gì bn làm không ít thì nhiu hôm nay.

Có cn bo h cái tuyên đoán điu gì s xy đến khi các lut gia lên tiếng đòi li nhân phm và t do cho đng nghip Lê Công Đnh, Cù Huy Hà Vũ, Lê Trn Lut?… Khi các sinh viên và công nhân vn đng đòi tr li t do cho nhng nhà đu tranh bo v gii lao đng Đoàn Huy Chương, Nguyn Hoàng Quc Hùng, Đ Th Minh Hnh … Khi các giáo dân công giáo, pht giáo, tin lành vùng lên đòi tr li nơi th phưng, chn cu nguyn. Khi các nông dân dân oan đòi đn bù, tr li đt đai bng chế. Và khi thế h tr tn dng trí tu, t tìm nhiu phương thc khác nhau đ hp qun, hip thông, h tr, chia vai, nương ta ln nhau đu tranh đòi li quyn làm ch đt nưc?

Chúng ta không còn nưc sng.viii

Thế k này là thế k ca trí tu tr vn năng, ca nhng ngưi cùng kh, cùng vươn lên đánh đ đc tài toàn tr, dành li đt dành li nưc.

Sc mnh ca thế k trong chính bn.

© 2011 Vietsoul:21

vi Xem 5

CON TIN LƯƠNG TÂM

 

Vietsoul:21

Con tin lương tâm

Không biết với các bạn thì sao chứ tháng Ba là tháng chấn động trong cuộc đời của tôi. Nó là tháng “khúc ngoặc” giữa đi và ở, giữa sống và chết, giữa còn và mất. Tôi may mắn nên được ở vế bên trái: đi, sống, còn. Tháng Ba mở đầu cho những biến chuyển kỳ lạ không lý giải được trong đời tôi. Vì thế tháng Ba đến như con chim báo bão cho những cảm xúc cuồn cuộn, dâng trào và bất chợt.

Những ngày tháng Ba

Tháng Ba (gãy súng) năm 1975 là tháng thọ nạn của miền Trung. Chiến trường sôi sục vùng cao nguyên và cực bắc miền Trung. Gia đình tôi di tản từ Qui Nhơn vào Cam Ranh đến Phú Quốc và trở lại Sài Gòn sau 30/4. Trốn chết.

Tháng Ba năm 1979, chiến trường Cam Bốt chưa chấm dứt thì chiến tranh biên giới Trung-Việt bùng nổ. Chuyến vượt biên lần thứ ba của tôi cuối cùng đã thành, tàu đánh cá LA1234 rời nước ra đi vượt biển. Sau một tuần lênh đênh trong bão tố, mưa giông tàu đã tấp vào một đảo hoang Mã Lai. Thoát chết.

Tháng Ba năm 2011, cuộc cách mạng hoa nhài đã nở hoa trên Tuisinia, Egypt và hương thơm lan toả khắp bắc Phi, Trung Đông, đến Á châu. Tháng Ba là tháng giao mùa. Liệu hoa nhài có nở trên đất khổ, nơi “tháng Ba bà già chết cóng”? Trố chết!

Tháng Ba với những oan khiên, khổ nạn đang diễn ra trước mắt. Người thì đang bị cầm tù (Cù Huy Hà Vũ, Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng) và sẽ ra toà sắp tớii. Người thì bị hành lên, hành xuống, chất vấn,

đe dọa qua các giấy/lệnh mời “làm việc” (Nguyễn Đan Quế, Tạ Phong Tần, Mẹ Nấm, Cha Lý). Người thì bị đánh đổ máu (Nguyễn văn Hướng), gãy cổ tử vong (Trịnh Xuân Tùng)ii. Người thì bị cưỡng chế, hành hung không cho hành đạo (Giáo Hội Tin Lành Mennonite, MS Nguyễn Thành Nhân, MS Thân Văn Trường)iii. Người thì bị bịt miệng để che chở những tội

phạm vô luân của quan quân tập đoàn tội phạm từ Ủy viên TW Đảng chủ tịch tỉnh, phó chủ tịch huyện, công an tỉnh, cán bộ hải quan, đến giám đốc ngân hàng (Nguyễn Trường Tô, Đinh Xuân Hùng, …)iv

Tháng Ba, tháng của lễ hội và một ngày âm lịch trọng đại gần kề, “Dù ai đi ngược về xuôi. Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng Ba”. Lễ hội chi cho hổ ngươi dòng giống Lạc Hồng nếu con cháu vua Hùng chưa quyết dành lại quyền làm chủ đất nước và để lũ nội-thực-dân CSVN bán cho nước “lạ”

Tù nhân lương tâm (Prisoners of conscience)

Những người thọ nạn vì đất nước, đồng bào kể trên chỉ là một số nhỏ trong những người còn lương tâm, có lý tưởng vì nước, vì dân, vì chính nghĩa. Họ bị bạo quyền vô lương đày đọa, giam cầm với những “án”, “tội” từ các điều “luật” xử bởi toà án (nhân dân) luật rừng (kangaroo court). Bất kể những cái án “chính trị” hay “hình sự” nào mà toà án luật rừng gán cho những người này đi nữa thì họ cũng cùng chung một phận người: tù nhân (của) lương tâm. Lương tri họ không cho phép im lặng hoặc dửng dưng không hành động khi thấy những điều sai trái, những bất công, những áp bức hằng ngày tái diễn ra trước mắt.

Họ lên tiếng. Họ hành động. Và họ bị bịt biệng, cùm tay.

Họ là ai? Họ có khác thường gì với chúng ta?

Họ là sinh viên, nhà báo, luật gia, nhà giáo, cựu chiến binh, công nhân, nông dân … Họ cũng như chúng ta.

Những anh chị em, chú bác, cô cậu của chúng ta đã trong vòng lao lý. Các người thân nhân quyến thuộc của họ cũng chịu những áp lực, cô lập, sách nhiễu không kém.

Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại. Trong lao tù họ bị áp lực tâm lý rất mạnh. Thiếu thốn vật chất từ miếng ăn, nước uống, chỗ ngủ, thuốc men thì con người cũng có thể tự điều chỉnh để cầm cự và thích nghi. Nhưng thiếu sự giao tiếp, trao đổi, và động viên với đồng bạn dễ đưa đến suy sụp tinh thần. Không gì tạo áp lực chấn động tâm lý mạnh hơn là cảm giác bị bỏ rơi trong từng ngày quên lãng. Và không gì gây phấn chấn nâng đỡ tinh thần hơn là biết được mọi người vẫn quan tâm, lo lắng, và đồng tình.

Những người tù nhân lương tâm này luôn mong được lương tri của xã hội và nhân loại đưa lưng để dựa vào. Lương tri của nhân loại là lương tâm của bạn và ta, của mỗi thành viên trong cộng đồng, xã hội, quốc gia, thế giới.

Con tin lương tâm (Hostages of conscience)

Oái ăm thay có những nơi mà lương tri thì thui chột và bị bán chác cho sự yên ổn cá nhân, cho an toàn nghề nghiệp, cho hãnh tiến thanh danh.

Có nơi mà quyền lực bạo hành đã buộc mọi người thành con tin (của) lương tâm dưới dùi cui, chó săn, còng cùm, hoặc miếng cơm manh áo.

Bạn bè, anh chị em, cô cậu, chú bác của chúng ta đang là tù nhân lương tâm. Bạn với ta là những con tin lương tâm. Chúng ta bị buộc phải mù, phải câm, phải điếc, phải làm ngơ.

Bạn và ta cần thoát ra cảnh đời làm con tin, tự giải thoát cho mình, và giải thoát cho các bạn tù.

Làm thế nào để thoát gọng kềm bạo lực?

Có lẽ chưa bao giờ hết cần phải có một sự thay đổi về nhận thức và hành vi: để chuyển hoá nỗi sợ thành hành động cũng như để hoá giải những đểu cáng bằng điều tử tế. Khi cái “đểu” lên đến tột điểm cùng lúc với sự tử tế bị vùi dập dưới bùn nhơ thì đó cũng là điểm bộc phát. Những hoa sen sẽ trổi dậy từ đáy bùn trong hồ và hương thơm của của những đóa hoa sẽ át cả mùi bùn.

Khi vui thì vỗ tay vào, đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai. Những người tù lương tâm có phải cám cảnh với hoàn cảnh như thế chăng? Bạn và ta có cảm thấy mình cùng chung hoạn nạn đó chăng? Có sự khác biệt gì chăng giữa người tù nhân lương tâm và một con tin lương tâm?

Bạn và ta nhận thức được rằng chúng ta (gồm cả họ) là một.

Bạn và ta đã sống trong sợ hãi. Bạn và ta sống với “lũ”, sống với “chuyện thường ngày ở huyện” đã quá lâu thành thử các hành vi đã bị điều kiện hoá thích nghi với nhận thức đó.

Nhận thức – hành động

Từ nhận thức đến hành động là khoảng cách hố sâu của nỗi sợ quán tính. Bước nhảy là sự chuyển hoá.

Hành động (hành vi) của con người không chỉ hoàn toàn điều khiểu bởi cái đầu theo tinh thần duy lý nhưng bởi con tim, bởi thói quen, và tục lệ. Không những chỉ có ý chí trội vật chất (will over matter, mind over body) mà ngược lại thân thể tiềm đựng thông tin (information) và trí tuệ (inteligence) nên cũng ảnh hưởng cảm nghĩ và nhận thức. Khi các hành vi, hành động thay đổi thì nó sẽ chuyển lối suy nghĩ.

Bạn và ta cùng làm những thay đổi nhỏ trong hành động để chuyển dời tâm điểm của nhận thức từ sợ hãi đến tử tế.

Những hành vi tương thân, đồng cảm nhỏ nhất sẽ chuyển hoá bạn và ta thành một khối sức mạnh vô bờ. Sức mạnh của sự tử tế, của tình người. Sức mạnh của chính nghĩa để (mà) thắng (thay) cường bạo.

Đã có một số người làm những hành vi (không) nhỏ ấy. Người buôn gió và các bạn hữu thăm viếng tặng hoa vợ hiền anh Cù Huy Hà Vũ. Em đường-đời-sỏi-đá viết tâm thư kêu gọi lương tri con người không quên ba người bạn trẻ.

Bạn và ta có thể làm những điều (không) nhỏ tử tế đấy không? Bạn và ta có thể dành một chút thời gian nào chăng cho các bạn trong cơn hoạn nạn? Bạn và ta đi qua nhà các bà mẹ, người vợ, thân nhân của những người đấu tranh dân chủ ngả mũ, gật đầu chào tỏ sự cảm thông cho hoạn nạn trong gia đình họ. Bạn và ta gởi những thiệp thư (postcard) với vài hàng thăm hỏi. Bạn và ta hãy đến thắp nén nhang cho người oan khuất. Bạn và ta đến tụ tập nơi các phiên toà sắp tới. Bạn và ta chuyển ngân giúp đỡ các gia cảnh bị cô lập không phương tiện kinh tế.v Bạn và ta không phân biệt trọng khinh người đấu tranh bị cùm gông hay kẻ thấp cổ bé miệng bị hà hiếp.

Những hành động (không) nhỏ tử tế ấy của một cá nhân là lời phản kháng hùng hồn nhất với bạo quyền. Nhưng khi ngàn ngàn hành động ấy gộp lại thì cái thiện sẽ vượt lên làm cái đểu cáng chùn bước, chột dạ, hổ ngươi. Nó sẽ tạo sinh một hiệu ứng đám đông dây chuyền với tác động như những con sóng tựa đầu nhau thành ngọn sóng thần.

Bạn và (chúng) ta là một. Sẽ có sự chuyển hoá nào khi bạn và ta cùng biểu lộ tình người tình thân và cùng đồng lý tưởng xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, bác ái.

Bạn và ta có thể tự tin rằng tất cả những hành vi (không) nhỏ tử tế ở các góc chợ, khu phố, ngõ hẻm, đường mòn sẽ dẫn bạn và ta qua ngã ba đến con đường cái quan. Con đường của lương tri Việt Nam, dân chủ, công bằng và bác ái.

© 2011 Vietsoul:21

NHẬN ĐỊNH TỪ SỰ HOANG TƯỞNG CỦA NGUYỄN ĐỒNG DUY

Bùi Quốc Hùng

NHẬN ĐỊNH TỪ SỰ HOANG TƯỞNG CỦA CỰU SVSQ NGUYỄN ĐỒNG DUY ĐẾN ÂM MƯU ĐÂM SAU LƯNG ĐỒNG ĐỘI CỦA CỰU SVSQ ĐẶNG GHI

Hội Cựu SVSQ Trừ Bị Thủ Đức Tiểu Bang Washington (Hội) nhiệm kỳ thứ tư với Cựu SVSQ Nguyễn Đồng Duy (Ông Duy) là trưởng Ban Điều Hành kiêm CT. Hội hoạt đông vừa tròn 1 năm. Trong khi cả nhân loại nói chung và các hội viên Hội đang chuẩn bị chào đón một Mùa Giáng Sinh trong an bình, thân ái và một Năm Mới như ý, tốt lành thì Ông Duy với sự thúc đẩy của Cựu SVSQ Đặng Ghi, một uỷ viên trong Ban Lãnh Đạo Hội, ra liên tiếp các Thông Báo ngày 20/12/2010 v/v “Bất Tín Nhiệm chức vụ Trưởng Ban Lãnh Đạo” của Cựu SVSQ Nguyễn Quốc Hùng, và Thông Báo ngày 24/12/2010 v/v “Thay Đổi Nhân Sự và Chức Vụ Ban Điều Hành” do Cựu SVSQ Nguyễn Công Ba, Phó CT Hội, ủy viên Ban Lãnh Đạo và Cựu SVSQ Bùi Quốc Hùng, TTK đang đảm trách. Hành động kể trên của hai Ô. Duy và Ghi được coi như một biến cố phá hoại nghiêm trọng Hội kể từ khi thành lập đến thời điểm này tính ra cũng gần trọn 10 năm. Ngay sau khi sự việc xảy ra, dư luận trong giới hoạt động cộng đồng, hội đoàn xôn xao, đặc biệt là sự quan tâm, ưu tư sâu sắc về tình trạng sinh hoạt và tương lai của Hội của các Cựu quân nhân QLVNCH và của hầu hết các niên trưởng, huynh đệ đồng môn xuất thân từ Quân Trường Mẹ Thủ Đức. Chúng tôi đã có dịp gặp gỡ, hàn huyên với rất đông anh em Cựu SVSQ/TB/TĐ trong các sinh hoạt công cộng của đồng hương tại các thành phố Seattle, Tacoma và Olympia. Ý kiến chung nhất được tất cả các huynh, đệ Cựu SVSQ bày tỏ là “đáng tiếc,” và “làm thế nào để hàn gắn và giữ vững Hội trong hoàn cảnh hiện tại và tương lai,” và rằng “sự xáo trộn của Hội là một sự đau long,” bởi vì “Chúng ta phải tìm đến nhau, ngồi lại bên nhau, chung lưng đấu cật, trong tình nghĩa huynh đễ chi binh, tình nghĩa đồng môn, tình nghĩa đại gia đình quân đội, phải cùng nhau ghé vai lo toan, góp lòng, góp sức, để làm được chút gì ích lợi cho Đất Nước và Dân Tộc.” (Trích trong phần Dẫn Nhập-Nội Quy của Hội, ngày 28/6/2003). Nhiều huynh, đệ phê phán: “Hội cũng như một hội ái hữu, làm gì đến nỗi phải đi rỉ tai, lén lút xin chữ ký để ra thông báo “Bất tín nhiêm,” và “Thay đổi nhân sự và chức vụ…” mà không mở những cuộc họp toàn thể 4 cơ chế trong Hội để giải quyết vấn đề; lại còn nguy hiểm hơn, đi xa hơn nữa, nào là “ngồi trên lưng cọp… đã đâm thì đâm cho lút cán…” (Trích chỉ thị của Ô. Ghi cho Ô. Duy, phổ biến trên mạng ). Vậy có điều gì ghê ghớm, trầm trọng trong sinh hoạt của Hội để đến nỗi Ô. Duy và Ghi phải viết ra trên giấy trắng mực đen và phổ biến rộng rãi cùng khắp từ báo chí đến trên mạng không gian ảo, hoặc là Ô. Duy và Ghi thi hành một độc kế từ những tổ chức, phe nhóm nào khác đã từ bao lâu muốn thâu tóm, chỉ huy, lũng đoạn, phân hóa và vô hiệu hóa Hội? Cựu SVSQ Nguyễn Đồng Duy: Sự hoang tưởng hiển lộ Khi đọc Thông Báo đề ngày 12/12/2010 của Ô. Duy gửi cho các hội viên của Hội và “Quý vị trên Diễn Đàn Điện Tử (Net), tất cả các thành viên trong 4 Cơ Chế Hội không khỏi kinh ngạc và thất vọng về nội dung trong bản Thông Báo. Buổi họp của Hội ngày 4/12/2010 chỉ để thảo luận về tổ chức buổi họp mặt Mừng Xuân Tân Mão chứ không phải để giải quyết những vấn đề cá nhân của Ô. Duy đã có từ trước với Hội ĐHQN-ĐN/WA. Hội viên lại càng ngạc nhiên và sửng sốt khi thấy Ô. Duy viết “…đã bầu tôi đảm trách chức vụ Chủ Tịch qua những tiêu chuẩn: Trình độ học vấn, Khả năng điều hành, Tư cách và Bản Lãnh.” Trước hết, Nội Quy Hội không có những quy định (vô lý và ấu trĩ) như vậy, bởi vì Ô. Duy chân ướt, chân ráo vừa được bầu vào Ban Lãnh Đạo Hội trong Đại Hội vừa qua thì làm sao 8 uỷ viên trong BLĐ Hội đánh giá Ô. Duy có đầy đủ những tiêu chuẩn (tự phong) nói trên. Chẳng qua, trong cuộc bầu chức vụ CT. Hội, tất cả 8 uỷ viên không một ai tự ứng cử và nhận sự đề cử, chỉ duy nhất Ô. Duy nhận sự đề cử của một uỷ viên và đương nhiên Ô. Duy trở thành Trưởng BĐH kiêm CT. Hội. Sự việc đơn giản, hiển nhiên như thế chứ có xét theo tiêu chuẩn, điều kiện chi đâu. Khi nói được bầu do các tiêu chuẩn kể trên, khác nào Ô. Duy tự ngồi trên thúng và do chính Ô. gánh mà thôi. Vì thế, khi được biết ngọn nguồn câu chuyện “tự phong” này, một huynh trưởng Cựu CT. Hội, Cựu Trưởng BLĐ đã phải buột miệng thốt lên “… Duy nói như thế khác nào chửi cha anh em mình.” Vì sao? Một khi gia nhập tổ chức Hội SVSQ, tất cả mọi hội viên đều như nhau, chỉ có một danh xưng duy nhất: “Cựu SVSQ”; bất kể cấp bực nào, chức vụ nào, khóa đàn anh hay khóa đàn em, cũng không kể tuổi tác, học lực và nhân thân ngoài xã hội. Đó là điều đơn giản, trong sáng với hai chữ “đồng môn” thân ái với tình huynh đệ chi binh, tình chiến hữu keo sơn. Chức vụ chỉ để phân nhiệm, làm việc cho Hội chứ có phải làm vương, làm tướng gì mà khoe khoang lên mặt. Có thể nói, trong Hội. Ô. Duy là một trong những người trẻ nhất, trẻ kể cả về tuổi đời và tuổi lính. Có thể Ô. Duy chỉ tuổi quân từ khi bước chân vô Trung Tâm Nhập Ngũ, rồi đến những tháng ngày thụ huấn ở quân trường, từ thời gian huấn nhục, giai đoạn 1 đến giai đoạn 2 và ra trường. Vào thời gian đó, khi vừa ra trường, cũng có thể Ô. Duy (số đỏ) lại được biệt phái về Bộ QGGD để tiếp tục gõ đầu trẻ, nghĩa là dạy bậc tiểu học (để rõ nghĩa hơn, Ô. Duy là một giáo viên tiểu học, tốt nghiệp Sư Phạm Qui Nhơn) . Sau này, ở Hoa Kỳ, Ô. Duy có cố gắng đi học lại và có bằng đại học thì cũng chỉ là điều kiện tốt để hội nhập và thăng tiến cho cá nhân ông Duy thôi chứ có liên quan đến ai đâu. Cho dù một ai đó có bằng cấp đầy mình cỡ Master, Ph. D thì cũng chỉ là sở trường về ngành chuyên môn, còn kiến thức tổng quát và nhân cách, đó mới là vấn đề. Ô. Duy lên án Ô. Hùng là Trưởng BLĐ mà “không hoạch định đường lối và phác thảo kế hoạch để đề ra cho BĐH triển khai, nghiên cứu và soạn thảo chi tiết thi hành, nhưng Ô.Duy quên hay cố tình quên không biết rằng “chính BĐH đề nghị, thiết lập những dự án công tác ngắn hạn và dài hạn, các chương trình hoạt động hàng năm của Hội, và đệ trình BLĐ duyệt xét.” (Điều 20-Chương V). Như thế, chẳng lẽ vai trò CT.BĐH do Ô. Duy đảm nhận chỉ là vai trò đại diện Hội với đi hia, đội mũ , mặc quân phục SVSQ để đi dự búa xua lễ hội không cần biết trắng, đen và nằm chờ sung rụng. Nếu quả thực như thế, Hội đâu cần Ô. Duy làm CT. chỉ để làm kiểng. Khi thay thế, bãi nhiệm (hay huyền chức-chữ nghĩa của Ô. Duy) chức vụ Phó CT. của Ô. Ba, Ông Duy phê phán Ông Ba “… không có đủ khả năng đảm nhận chức vụ nêu trên.” Sau này, trả lời trong một cuộc phỏng vấn của TB-NVNN, Ô.Duy nêu lý do cụ thể về cái được gọi là không đủ khả năng như sau: “Tôi và TTK lo bản Tin của Hội, phần còn lại tôi nhờ anh ta viết tên mỗi Hội viên trên Bản Tin, dán tem rồi ra bưu điện gửi đi, thế thôi, nhưng anh ta không chịu giúp tôi, và còn nhiều điều khác tôi không tiện trình bày nơi đây.” Còn nhiều điều khác? Có phải đó là việc Ô. Ba không chịu cúi đầu ký tên vào bản thông báo cũng như quyết định “bất tín nhiệm” Ô. Hùng trong nhiệm vụ trưởng BLĐ? Nực cười và cay đắng thay, một SQ Đại Đội Trưởng được đặc cách thăng cấp Đại Uý tại mặt trận, một huynh trưởng mà không đủ khả năng làm việc cho Ô. Duy chỉ vì “không biết le lưỡi dán tem.” Quý Niên Trưởng, Huynh đệ đồng môn có ai can đảm và nhiệt tâm đem khả năng làm tà lọt dán tem thư cho Ô. CT Duy nữa không? Về trường hợp TTK, trong thông báo thay đổi nhân sự, Ô. Duy viết rằng “… vì thường xuyên vắng mặt trong các buổi họp và Cựu SVSQ/NQH cho biết Cựu SVSQ/BQH xin tạm ngưng sinh hoạt với Hội trong vòng một (1) năm và hứa sẽ trở lại Hội khi sưc khỏe cho phép…” Điều này hoàn toàn sai! Tôi không xim tạm ngưng sinh hoại trong vòng môt năm. Đúng ra, gia đình tôi 4 người bị tai nạn xe “hit- n- run” trên đường 48 th East, Tacoma vào lúc 6 giờ chiều trong lúc tuyết đổ ngập trời ngày 22 tháng 11 năm 2010. Xe lật nghiêng, hư hỏng toàn bộ phía cửa sau đến cốp xe. Dĩ nhiên là tôi bị đau. Ngày 4/12/2010, Hội họp về tổ chức Mừng Năm Mới. Tôi không đi họp được. Trước đó. Ô. NQ Hùng gọi nhắc tôi đi họp. Tôi cho Ô. Hùng biết tình trạng sức khỏe và nhờ Ô. Hùng nói giúp, buổi họp tháng sau 1/1/2011 nếu có, tôi sẽ cố gắng đi họp. Chỉ có thế thôi! Trong vòng tháng trước (12/2010) đến tháng sau (1/2011) được Ô. Duy lắt léo là một năm, quả đáng phục. Sau buổi họp, Ô. Duy gọi hỏi thăm sức khỏe của tôi. Ô. Duy cũng nói muốn xuống thăm tôi nhưng cuối tuần phải đi làm, nếu đi thăm tôi phải xin phép nghỉ. Tôi gạt đi nói rằng thời buổi khó khăn có việc làm là tốt rồi, đừng xin nghỉ uổng lắm. Nào dè đâu, Ô. Duy không có đi làm ngày Thứ Bảy đó, và xuống Tacoma ăn giỗ. Tôi không biết nhưng nghe một anh bạn thân kể lại. Sau này, cũng trong cuộc phỏng vấn nêu trên, Ô. Duy lại bịa ra “…không viết đơn xin tạm ngưng sinh hoạt hoặc gọi điện thoại báo tin cho CT Hội, mà đương sự chỉ nhắn tin qua Cựu SVSQ. NQH, hành động này của đương sự thể hiện thái độ xem thường Hội Trưởng.” Trong sinh hoạt lấy điện thoại làm phương tiện, sao phải viết đơn? Giả dụ rằng Ô. NQH, Ô. NCB và tôi BQH có lỗi không soạn thảo kế hoạch, không biết lè lưỡi dán tem thư, xem thường Hội Trưởng… thì Ô. Duy là CT Hội cũng không có quyền đơn phương hay cấu kết với Ô. Ghi để bất tín nhiệm, thay thế, bãi chức hoặc huyền chức. Nghe kinh khiếp quá, cứ như Ô. Duy là CHT, với thuộc cấp; hoặc là Chủ nhân ông thuê người làm có trả lương tha hồ mà sai bảo. Ông Duy cần biết rằng vì nhu cầu nhân sự, Ông có quyền đề cử nhưng CT. Hội không có quyền bãi nhiệm, thay thế, hoặc bất tín nhiệm ai mà không thông qua BLĐ. “Nội quy, Chương V-Điều 19 ghi:CT. Hội có quyền bãi nhiệm thành viên trong BĐH với sự thông qua của BLĐ.” Nhưng các đương sự có “Quyền Biện Minh” trong các phiên xử. (Nội quy Điều 52-Chương XII) Trong vòng 1 năm trời, Ô. Duy chứng tỏ khả năng điều hành Hội ra sao? Như thế nào? Những điều trình bày trên là một sự chứng minh rõ nét nhất về khả năng của Ô. Duy. Ngoài ra, khi thành lập BĐH, Ô. Duy đã mời hai Cựu SVSQ, một là Trưởng BGS, giữ nhiệm vụ TTK kiêm Kế Toán và một là uỷ viên giữ chức vụ Thủ Quỹ. Ô hay! Thế là thế nào? BĐH của Ô. Duy vừa đá bóng vừa thổi còi sao? Ông muốn vô hiệu hóa vai trò của BGS để dễ bề thao túng? Vì sự thiếu nhân sự như vậy, tôi mới nhận vị trí TTK để Ô. trưởng BGS trở về vị trí chính thức. Tuy nhiên, vị trí TQ vẫn do Ô. uỷ viên BGS giữ cho đến ngày xảy ra biến cố. Và điều quan trọng cần nói là Ô. Duy cũng đã tự ý thay thế Ô. TQ một cách âm thầm.Thế mà Ô. Duy cứ đem nội quy ra hù thiên hạ, mà người ngoài đâu biết nội quy ra sao. Nhưng ngay cả Ô. Duy hiểu biết nội quy ra sao? Về tư cách và bản lãnh của Ô. Duy? Không có cách nào khác hơn nhìn về quá khứ của Ô. Duy trung chức vụ Hội Trưởng, Hội ĐH QN-ĐN/ WA. Nhiều người cay đắng và thất vọng trách cứ anh, em trong Hội là “đã biết đương sự như thế, sao còn giao chức vụ CT. Hội.” Đáng lẽ ra, Ô. Duy nên làm những gì tốt đẹp trong thời gian có cơ may ở Hội để rửa mặt cho sạch sẽ những vết chàm khi còn ở Hội ĐH, nhưng tiếc thay, bản chất khó đổi thay. Và bản lãnh? Âm mưu, dàn xếp đi xin chữ ký để ‘Bất tín nhiệm” đồng môn, huynh trưởng và thay thế, huyền chức những ai không chịu nghe lời sai bảo. Nghe Ô. Duy tự phong Ông “bản lãnh” chúng tôi cứ tưởng đang nằm mơ về chiến trường xưa với các kho đạn nổ banh trời.. Giờ đây, hai Ô. Duy không công nhận những thành viên còn lại của 4 cơ chế, sau những “bất tín nhiệm, bãi chức, huyền chức và thay thế trọn vẹn các thành viên trong BĐH, chỉ còn mình “ên”. Vậy thì, giờ đây, Ô. Duy làm việc, sinh hoạt với ai? Ai có can đảm và thiện chí đứng bên Ông? Chẳng may, một ngày đẹp trời nào đó Ô. kêu anh, em nhờ viết địa chỉ trên bao thư và dán tem, Nhưng vì không viết và không dán tem, Ô. lại nổi giận (tái mặt) sa thải thì tội nghiệp cho họ (hay cho chính Ô.) biết bao! Ô. Duy sa thải hết anh em vậy mà Ô. cứ ước mơ thành lập Quỹ Tương Tế mới là lạ, mà vô QTT thì hội viên phải đóng tiền lần đầu quy định lên tới $60-$70 Mỹ Kim. Lại tiền! Y chang ngày nào Ô. Duy vừa là HT. Hội ĐH vừa là TQ. Thật tiện lợi nhiều bề! Cuối cùng, sự hoang tưởng của Ô. Duy đã hiển lộ. Cựu SVSQ Đặng Ghi: Âm mưu đâm sau lưng đồng môn Ô. Đặng Ghi là Hội viên Hội khá lâu. Trước đó, Ô. Ghi đã là một khuôn mặt quen thuộc của cộng đồng Việt Nam tại Seattle & Vùng phụ cận với vai trò vận động thành lập Trung Tâm Văn Hóa và Xã Hội Người Việt Quốc Gia. Cho đến nay, dự án vĩ đại vẫn chưa thành hình dù tiền bạc quyên góp đã từng phen công bố trên báo chí. Dù muôn dù không, Ô. Duy cũng được nhận diện như là “một người làm văn hóa”. Tuy nhiên, biến cố phá hoại Hội do Ô. CT. Duy thực hiện lại có bóng dáng “nhà văn hoá” Đặng Ghi thấp thoáng đằng sau. Thực vậy, trong hành động “cạn tàu, ráo máng” triệt hạ anh em đồng môn hội viên và phá Hội của Ô. Duy, vai trò của Ô. Ghi là trung tâm; Ô. Ghi là nhân tố tích cực cố vấn, đạo diễn, chỉ huy và thúc đẩy Ô. Duy thi hành những âm mưu đen tối trong việc mưu chiếm và lũng đoạn Hội. Sau một loạt những “thông báo” gây xáo trộn Hội của Ô. Duy, trên mạng ảo – mà Ô. Duy gọi là “Diễn Đàn Điện Tử” người đọc thấy có một thư của Ô. Ghi gửi cho Ô. Duy, đề ngày 27/12/2010, lúc 11:30 A.M. với địa chỉ: GHI DANG dang4489148@yahoo.com. Nội dung thư mang toàn bộ những chỉ thị của Ô. Ghi-xưng là A. Ghi lệnh cho một đàn em là Ô. Duy thi hành. Nguyên văn thư này đã được Bản Tin Đặc Biệt của Hội đăng lại để Quý Niên Trưởng, Huynh, Đệ đồng môn thẩm định. Trong mục “Câu chuyện trong tuần” trên Saigon Radio, Ông Quốc Nam và tôi đã loan báo sự kiện Hội Cựu SBVSQ/TB/ TĐ/WA mà Ô. Quốc Nam gọi là một sự kiện chấn động trong sinh hoạt hội đoàn vào dịp đầu năm mới. Khi đề cập đến thư của Ô. Duy gửi cho Ô. Duy, nhưng lại được phổ biến rộng rãi trên mạng, tôi được đề nghị đọc nguyên văn lá thư, sau đó, tôi nói rằng tôi không tin thư này do Ô. Duy viết, vì nội dung chuyên chở những âm mưu thâm độc, nham hiểm, hận thù và vu cáo, hạ nhục người khác là hội viên đồng môn trong Hội. Tôi nói rằng tôi không tin lá thư do Ô. Ghi viết, vì rằng Ô. Duy là một “khuôn mặt văn hóa” của cộng đồng, và ông cũng đã và đang quyên góp, cổ võ việc xây dựng TTVH &XH/NVQG/WA, và hơn nữa Ô. Ghi là một đồng môn hội viên của Hội. Lá thư này chắc là do một ai viết để gây chia rẽ, xào xáo với mục tiêu là phá hoại Hội. Tuy nhiên, Ô. Quốc Nam cho biết trước khi loan tải tin tức, Anh đã gặp Ô. Duy để tìm hiểu và phối kiểm về lá thư và được Ô. Duy xác nhận chính Ô. Ghi là tác giả . Tôi nói Ô. Ghi dù gì cũng là một “người làm văn hóa” nay Ô. Ghi làm như thế thực là đau lòng. Ở đây, tôi muốn đưa ra một số những luận điểm trong thư Ô. Ghi gửi Ô. Duy. 1.“… những đồng môn chưa ra nhập Hội trước đây vì thấy những hội viên trong Hội như Nguyễn Q. Hùng, Đặng P. Diễm, Nguyễn Đ. Lãng theo phe cánh Phạm H. Sảnh, Tăng P. Trọng … chẳng làm được gì trái lại tạo ra xáo trộn trong cộng đồng, sau này lại them Bùi Q. Hùng, Huỳnh K. Anh vào trong Hội, họ lại càng chán ngán. Nay chúng ta, nhất là Duy đã tạo một bộ mặt mới, Hội đã lột xác 100% do đó anh em rất vui, anh được báo số người sẽ gia nhập vào Hội rất đông.” (Trích mục b). – Ô. Duy cáo buộc Hội theo phe cánh Phạm H. Sảnh, Tăng P. Trọng là một sự vu khống trắng trợn vì thành kiến. Thực vậy, ở trong Hội nhiều năm, Ô. Duy biết rằng “Hội hoạt động độc lập, nhưng về sách lược chính trị, kết hợp với các hội Cựu SVSQ Trừ Bị QLVNCH tại Hoa Kỳ, và trên toàn thế giới tạo thành TỔng Hội.” (Trích Nội Quy Hội-Điều 5:Tôn Chỉ, Chương I). Trong suốt 4 nhiệm kỳ qua 4 đời Hội Trưởng, quả thực Hội gặp nhiều thăng trầm, bị de dọa, mua chuộc, dụ dỗ, bôi lọ cũng không thiếu, nhưng Hội vẫn đứng vững trong tư thế một hội quân đội độc lập. Chính bản thân Ô. Ghi đã gặp thất bại nhiều lần khi Ô. đứng trước anh em hội viên trong Hội để cổ võ Hội Thủ Đức phải làm xã hội (sic!) Và Ô. Ghi vẫn trường kỳ chờ thời để đi tìm và thu phục anh tài trong Hội! 2.Nay chúng ta, nhất là Duy đã tạo một bộ mặt mới, Hội đã lột xác 100% do đó anh em rất vui, anh được báo số người sẽ gia nhập vào Hội rất đông.” (Trích mục b). “Một bộ mặt mới ??? Nhưng lại chỉ với khuôn mặt“nhà văn hóa” Đặng Ghi và Cựu HT. Hội ĐHQN-ĐN Nguyễn Đồng Duy; cả 2 đều là những khuôn mặt cũ, những vai tuồng cũ trên sân khấu đời vắng khách, ảm đạm đìu hiu. 3.“Hội đã lột xác 100%.” (Trích mục B) Hội là một thực tế và là một thực thể của những cựu SVSQ/TB/ TĐ hiện hữu, Hội không phải là loài rắn hàng năm phải lột xác để sinh tồn. Khi Ô. Duy và Ghi quyết liệt loại trừ anh em hội viên trong Hội, thì tất cả vẫn còn đó, tạm quên những bất toàn để tiếp tục xây dựng Hội ngoại trừ 2 Ô. Duy và Ghi ra đi. 4.Chúng ta phải chứng tỏ Hội đang hoạt động, và hoạt động rất mạnh … chứ Hội bất động như Long đề nghị là thất sách … rồi không còn ai ủng hộ và gia nhập vào Hội!!! kết quả như thế nào: thảm hại, rồi đâu vào đấy, cuối cùng chúng ta để cho những kẻ phá thối có cơ Hội muốn làm, muốn nói gì tùy tiện…” (Trích mục c) Nếu chỉ còn 2 Ô. Duy và Ghi hoạt động và hoạt động rất mạnh, tôi xin chúc mừng. 5.“cuối cùng chúng ta để cho những kẻ phá thối có cơ Hội muốn làm, muốn nói gì tùy tiện…” (Trích mục c) Tôi xin được nhắc đến câu danh ngôn của TT/VNCH Nguyễn văn Thiệu: “Đừng nghe những gì CS nói mà hãy nhìn những gì CS làm.” Cũng vậy, chúng ta đừng nghe những gì Ô. Ghi nói mà hãy nhìn những gì Ô. Ghi làm đối với Hội trong thời gian gần đây để biết ai là những kẻ phá thối và ai là người tuỳ tiện. 6.“Duy nên nhớ là Duy đang ngồi trên lưng cọp rồi, không thể hành động nào khác ngoại trừ chiến đấu tới cùng với sự khôn khéo, và can đảm, như Duy đã nói: “đã đâm thì phải đâm cho lút cán.” – Khi xử dụng thành ngữ “ngồi trên lưng cọp” Ô. Ghi biết rằng các ông đã hành động sai quấy và nguy hiểm nhưng thay vì sửa chữa lỗi lầm sau khi nhận ra, Ông Ghi lại xúc xiểm, dọa dẫm và khích tướng để Ô. Duy không thể làm khác được. Cũng vậy, khi xử dụng thành ngữ “đâm cho lút cán” cả 2 Ô. Duy và Ghi đã mặc nhiên coi huynh đệ đồng môn như kẻ thù cần phải tiêu diệt. Bằng giấy trắng mục đen, các Ô. Duy và ghi đã xử dụng những ngôn từ sắt,máu, đao to búa lớn đe dọa huynh, đệ đồng môn mà không e ngại phạm pháp và dư luận phê phán. 7.“Anh Long chẳng biết chúng ta trình bày gì trong Bản Tin, do đó Anh Long không biết tầm quan trọng của Bản Tin cùng với nội dung Bản Tin.” (Trích mục c) Hai Ô. Duy và Ghi vận động lôi kéo Cựu SVSQ Dương Đình Long, uỷ viên BLĐ vào cuộc, thảo luận đủ điều, tuy nhiên thực hiện Bản Tin thì quảng bá nhưng nội dung thì giấu biến không cho Ô. Long hay vì nội dung chứa những điều quan trọng. Như vậy, khi Bản Tin ra rồi thì mọi sự coi như xong, đúng, sai thế nào Ô. Long cũng phải chịu. Và đó là lề lối làm việc chứa đựng đầy tính cách lật lọng của 2 Ô. Duy và Ghi.Từ thực tế đó, ai còn niềm tin vào 2 ông. 8.Tuy nhiên chúng ta vẫn hoạt động ngầm bằng cách liên lạc với những anh em thân tình ở các thành phố để quy tụ từng nhóm…lúc này là lúc Duy chứng tỏ kết quả làm việc trong khả năng điều hành như thế nào cho bọn phá thối biết, chúng sẽ câm họng, nếu chúng lên tiếng chỉ làm cho thiên hạ cười chê chúng mà thôi.” (trích mục c- hết) Hai Ông Duy và Ghi đang muốn tổ chức và chỉ huy một hội đoàn quân đội theo thể thức hội đoàn bất vụ lợi mà hội viên đều cùng là anh em đồng môn và là SQ chỉ huy của QLVNCH, thế sao Ô. Ghi ra chỉ thị cho Ô. Duy phải hoạt động ngầm không khác gì một tổ chức bất hợp pháp, hoạt động trong bóng tối, hoặc như tổ chức “mafia” với những thanh toán sắt máu. Từ sự kiện này, dư luận đồng hương cho rằng Ô. Duy đang chuẩn bị “rút vô bưng”. Tóm lại, xuyên qua thư chỉ thị, khích tướng của Ô. Đặng Ghi gửi cho Ô. Duy cho thấy thật rõ âm mưu nguy hiểm và phản ảnh bộ mặt thật của Ô. Đặng Ghi: Trong lúc Ô. Ghi cổ võ xây dựng TTVH&XH thì Ông phơi bày sự vô văn hoá và vô luân của Ông công khai không cần che dấu đối với Hội. Những ngôn từ của Ô. Ghi và Ô. Duy hoàn toàn xa lạ với các Cựu SVSQ/TB/TĐ bởi vì các huynh đệ đồng môn Thủ Đức được huấn luyện không chỉ thuần tuý quân sự mà còn được huấn luyện về cả tư cách, tác phong để trở thành một SQ văn võ song toàn của quân đội. Vì nặng tình và thiết tha với màu cờ sắc áo Quân Trường Mẹ Thủ Đức, vì Danh Dự, Lẽ Phải, và sự gắn bó với Hội, tôi viết bài nhận định này trong nỗi buồn sâu sắc về tình người tráo trở, thay trắng đổi đen. Và như một số huynh đệ nói, nếu tôi biết mà không viết, thì ai viết.

Cựu SVSQ Bùi Quốc Hùng/TTK – March, 11, 2011

VÌ SAO NGƯỜI DO THÁI THÔNG MINH

Why Jews are intelligent ?

” Người Do Thái là dân tộc thông minh nhất thế giới, họ dường như được sinh ra là để làm chủ thế giới này”. Có bao giờ bạn tự hỏi tại sao họ lại thông minh như vậy? Tại sao họ lại được sinh ra với quá nhiều ưu việt như thế? Có phải tất cả đều là tự nhiên? Liệu Việt Nam chúng ta có thể tạo ra những thế hệ ưu việt như thế không? Tất cả câu hỏi trên đều có thể giải đáp được, ngoại trừ câu hỏi cuối cùng vì nó sẽ được trả lời bởi chính các bạn, những con người của dân tộc Việt Nam. Bài viết dưới đây được lược dịch từ luận án của một tiến sĩ nước ngoài với tiêu đề gốc là “Why Jews Are Intelligent” (tạm dịch là “Vì sao người Do Thái thông minh”). Bài viết rất hay và có ý nghĩa. Trước hết xin được cung cấp một số thông tin tìm hiểu được về IQ của người Do Thái. Hiện nay các nhà nghiên cứu về giáo dục và tâm lý tin rằng IQ TB của người Do Thái vào khoảng từ 107,5 đến 115 (sd15). Để so sánh thì IQ TB của thế giới là 100 và IQ của người Việt Nam (theo một khảo sát) là 94. Cách biệt sẽ không rõ ràng nếu chỉ nhìn vào những con số này. Mọi thứ sẽ trở nên thực sự khác biệt nếu như ta so sánh đến tỉ lệ “thiên tài” (IQ>=140 – cũng là mức yêu cầu của VNHIQ) trong số dân. Với IQ TB của dân số là 94 thì tỉ lệ “thiên tài” sẽ là 1/924 hay 0,1%, tỉ lệ này sẽ là 1/261 hay 0,4% nếu IQ TB là 100. Sự khác biệt sẽ cực lớn vì với mức IQ TB là 110 như người Do Thái thì tỉ lệ những người có IQ đạt mức thiên tài này sẽ lên tới 2,3% (nghĩa là cứ 100 người sẽ có hơn 2 thiên tài).Sau đây là bài dịch tác giả Thanh Hằng: “Bài này tôi lược dịch và tổng hợp từ nhiều nguồn, nhân dịp nghe chuyện người Do Thái và vì thầy hướng dẫn hiện tại của tôi là một Giáo sư người Do Do Thái. Để mở đầu, xin được trích dẫn rằng, dân số Do Thái ở Anh có tên tuổi khiến tôi đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Do Thái trên thế giới hiện nay vào khoảng xấp xỉ 13 triệu người (tức là khoảng 0.21% dân số thế giới – số liệu năm 2000), tức là cứ 470 người thì có 1 người Do Thái. Vậy nhưng, vào khoảng giữa thế kỷ 19, 1/4 các nhà khoa học trên thế giới là người Do Thái, và tính đến năm 1978, hơn một nửa giải Nobel rơi vào tay người Do Thái. Như vậy có đến 50% đóng góp cho sự tiến bộ của loài người chỉ do 0.21% dân số đảm nhiệm. Những tên tuổi lớn của thế kỷ 20 có thể kể đến như bộ óc thế kỷ Albert Einstein, Sigmund Freud, Otto Frisch, .v.v. đều là người Do Thái. Dù không phải là chủng tộc lớn, vậy nhưng không một nhóm chủng tộc nào có thể sánh được với người Do Thái về khả năng và thành tích vượt trội. Kết hợp với những tính cách di truyền của người Do Thái như tham vọng, ham hiểu biết, tích cực, trí tưởng tượng phong phú, bền bỉ, sự thông minh của người Do Thái thực sự đã là đòn bẩy khiến người Do Thái đứng đầu trong tất cả các lĩnh vực cuộc sống. Những tên tuổi Do Thái hiện nay có thể kế đến là nhà tài phiệt George Soros (người có thể làm khuynh đảo thị trường tài chính thế giới, được xem là người đứng sau sự sụp đổ hệ thống chính trị ở Đông Âu và khủng hoảng tài chính Châu Á 1997); các cựu và chủ tịch Ngân hàng thế giới World bank đương nhiệm đều là người Do Thái ví dụ như James Wolfensohn, Paul Wolfowitz, Robert Zoellick. Diễn viên điện ảnh thông minh và có học thức thuộc hàng top Hollywood hiện nay là Natalie Portman cũng là người Do Thái, vừa theo học đại học Havard và tham gia bộ phim siêu phẩm Chiến tranh giữa các vì sao”. Trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống như kỹ thuật, âm nhạc, khoa học và kinh doanh, 70% các hoạt động kinh doanh thế giới hiện nay đều do người Do Thái nắm giữ. Các lĩnh vực kinh doanh nổi bật như mỹ phẩm, thời trang, thực phẩm, vũ khí, khách sạn, công nghiệp phim ảnh (kể cả Hollywood và các trung tâm điện ảnh khác). Trong năm thứ 2 đại học, vào tháng 12 năm 1980, tôi định đến California và tôi nảy ra ý tường, tôi tự hỏi sao trời lại cho họ những khả năng siêu phàm như vậy, liệu có điều gì trùng hợp chăng, loài người có thể tạo ra những người giống họ như việc sản xuất hàng hóa từ nhà máy không? Luận văn của tôi mất 8 năm để tập hợp thông tin từ tất cả các nguồn tin chính xác như đồ ăn, văn hóa, tôn giáo, sự chuẩn bị khi mang thai, .v.v. và tôi đem so sánh với những chủng tộc khác. Hãy bắt đầu bằng việc chuẩn bị cho thai kỳ. Ở Israel, điều đầu tiên tôi nhận thấy đó là người mẹ khi mang thai sẽ thường xuyên hát, chơi đàn, và luôn cố gắng giải toán cũng chồng. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy người mẹ luôn mang theo sách toán và đôi khi tôi giúp cô giải bài. Tôi hỏi cô, ‘việc này có phải là giúp cho thai nhi?’. Và cô trả lời, ‘Đúng vậy, tôi làm thế là để đào tạo đứa trẻ từ khi còn trong bụng mẹ như vậy nó sẽ trở nên thông thái về sau.’ Và cô tiếp tục làm toán cho đến khi đứa trẻ được sinh ra. Một điều khác tôi nhận thấy là đồ ăn. Người mẹ rất thích ăn hạnh nhân (almonds), chà là (dates) cùng sữa tươi. Bữa trưa cô ăn bánh mỳ và cá (không ăn đầu), salad trộn với hạnh nhân và những loại hạt khác vì họ tin rằng thịt cá tốt cho sự phát triển trí não nhưng đầu cá thì không. Thêm vào đó, theo văn hóa của người Do Thái, người mẹ khi mang thai sẽ cần phải uống dầu gan cá. Khi tôi được mời đến dùng bữa tối, tôi thấy rằng họ luôn dùng cá (phần thịt ở mình cá), họ không ăn thịt vì họ tin rằng thịt và cá khi ăn chung sẽ không tốt cho cơ thể. Salad và các loại hạt là điều bắt buộc, đặc biệt là hạnh nhân. Họ luôn ăn hoa quả tươi trước bữa chính. Lý do là vì họ tin rằng việc ăn bữa chính trước rồi hoa quả sẽ khiến chúng ta buồn ngủ và khó tiếp thu bài ở trường. Ở Israel, hút thuốc là điều cấm kỵ. Nếu bạn là khách thì không nên hút thuốc trong nhà họ, họ sẽ lịch sự mời bạn ra ngoài để hút thuốc. Theo các nhà khoa học ở đại học Israel, chất nicotine sẽ phá hủy những tế bào cơ bản trong cơ thể đồng thời ảnh hưởng đến gen và DNA (tế bào di truyền) dẫn đến sự thoái hóa bộ não. Đồ ăn cho trẻ cũng luôn trong sự hướng dẫn của cha mẹ. Đầu tiên, hoa quả ăn cùng với hạnh nhân, sau đó là dầu gan cá. Theo đánh giá của tôi, những đứa trẻ Do Thái đều biết 3 thứ tiếng, ví dụ như tiếng Do Thái, Ả rập và tiếng Anh. Từ khi còn nhỏ, trẻ em đã được học đàn piano và violin, và đây là điều bắt buộc. Làm như vậy vì họ tin rằng điều này sẽ làm tăng chỉ số thông minh của trẻ và sẽ khiến con họ trở nên thông minh. Cũng theo các nhà khoa học Do Thái, sự rung động của âm nhạc sẽ kích thích bộ não và đó là lý do vì sao có rất nhiều thiên tài người Do Thái… Từ lớp 1 đến lớp 6, những môn học ưu tiên trẻ em được dạy các môn về kinh doanh, toán học, khoa học. Để so sánh , tôi có thể nhận thấy trẻ em ở California, chỉ số IQ của chúng khoảng 6 năm về trước. Tất cả trẻ Do Thái đều tham gia vào các môn thể thao như bắn cung, bắn súng, chạy bộ vì họ tin rằng bắn cung và bắn súng sẽ rèn luyện cho bộ não trở nên tập trung vào cách quyết định và sự chính xác. Ở trường trung học, học sinh sẽ giảm dần việc học khoa học mà sẽ học cách tạo ra sản phẩm, đi sâu vào những kiểu bài tập thực tế như vậy. Dù một số dự án/bài tập có vẻ nực cười và vô dụng, nhưng tất cả đều đòi hỏi sự tập trung nghiêm túc đặc biệt nếu đó là những môn thuộc về vũ khí, y học, kỹ sư, ý tưởng sẽ được giới thiệu lên các viện khoa học hoặc trường đại học. Khoa kinh doanh cũng được chú trọng ưu tiên. Trong năm cuối ở trường đại học, sinh viên sẽ được giao một dự án và thực hành. Họ sẽ hoàn thành nếu nhóm của họ (khoảng 10 người/nhóm) có thể tạo ra lợi nhuận 1 triệu USD. Đừng ngạc nhiên, đây là thực tế và đó là lý do vì sao một nửa hoạt động kinh doanh trên thế giới là của người Do Thái. Thiết kế mẫu thời trang mới nhất của Levis là của khoa kinh doanh và thời trang của trường đại học Israel. Đã bao giờ bạn thấy họ cầu nguyện chưa? Họ sẽ luôn lắc đầu vì họ tin rằng hành động này sẽ kích thích và cung cấp nhiều oxy cho não. Điều tương tự giống như người Hồi giáo khi cầu nguyện họ phải quỳ lạy cúi đầu. Và hãy xem những người Nhật Bản, cách họ cúi đầu và người Nhật Bản cũng có rất nhiều người thông minh, họ thích ăn sushi (thịt cá tươi). Liệu đây có phải là sự trùng hợp? Trung tâm thương mại của người Do Thái tập trung ở thành phố New York, và chỉ phục vụ cho người Do Thái. Nếu ai đó trong cộng đồng Do Thái có ý tưởng hay có thể sinh lời, hội đồng người Do Thái sẽ cung cấp khoản vay không lãi suất và đảm bảo việc kinh doanh này phải phát triển. Vì lý do này, Starbuck, Dell, Coca-Cola, DKNY, Oracle, Levis, Dunkin Donut, các bộ phim Hollywood và hàng trăm hoạt động kinh doanh khác đều nằm dưới sự tài trợ của cộng đồng Do Thái. Sinh viên Do Thái tốt nghiệp từ khoa y dược ở New York được khuyến khích đăng ký với hội đồng này và được phép hành nghề tư với khoản vay không lãi suất này. Hút thuốc sẽ khiến bộ não bị thoái hóa. Trong chuyến thăm của tôi đến Singapore năm 2005, điều khiến tôi ngạc nhiên là những người hút thuốc bị coi như đồ bỏ đi và giá một bao thuốc là khoảng 7 USD. Cũng giống như ở Israel, việc hút thuốc là cấm kỵ và Singapore đã hình thành cách quản lý giống như ở Israel. Đây cũng là lý do vì sao hầu hết các trường đại học của Singapore đều thuộc đẳng cấp cao, dù Singapore chỉ nhỏ bằng Mahattan. Hãy nhìn sang Indonesia, đâu đâu mọi người cũng hút thuốc và giá một bao thuốc chỉ rẻ bèo khoảng 70 xu USD. Và bạn có thể đếm được số trường đại học của họ, những gì họ sản xuất, những gì họ có thể tự hào, công nghệ ư? Họ còn chẳng thể nói được thứ ngôn ngữ nào ngoài ngôn ngữ của mình, vì sao họ khó có thể sử dụng tiếng Anh thành thạo? Liệu đây có phải là do việc hút thuốc? Bạn hãy tự suy nghĩ nhé. Trong bài nay tôi không động chạm đến vấn đề tôn giáo hay chủng tộc. Đó là vì sao người Do Thái khá kiêu ngạo, và vì sao họ luôn bị săn đuổi từ thời Paraoh cho đến Hitler. Đối với tôi đó là vấn đề về chính trị và sự tồn vong. Điểm cuối cùng trong bài này là liệu chúng ta có thể tạo ra những thế hệ giống như những người Do Thái? Câu trả lời có thể ở dạng khằng định đó là chúng ta cần thay đổi thói quen ăn uống hàng ngày, cách làm cha mẹ, và tôi đoán rằng chỉ trong 3 thế hệ, việc này có thể làm được. Điều này tôi có thể quan sát được từ đứa cháu của tôi. Chỉ mới 9 tuổi cậu đã viết được bài luận 5 trang về đề tài ‘Vì sao tôi thích cà chua?’. Cầu chúc cho chúng ta được sống yên bình và thành công trong việc tạo ra những thế hệ tương lai tài giỏi cho nhân loại dù bạn thuộc bất kỳ chủng tộc nào. Bổ sung: Theo truyền thống người Do Thái, những học giả, nhà khoa học được khuyến khích kết hôn với con gái của những thương nhân vì theo họ, con cái sinh ra sẽ là sự kết hợp của cả giáo dục hàn lâm và giáo dục thực tế. Chính sự coi trọng thương nhân và kinh doanh cũng như học vấn đã đưa họ lên vị trí hàng đầu trên thế giới và khiến cả thế giới ngả mũ cúi đầu. (khác hẳn với văn hóa ‘sỹ, nông, công, thương’ của VN và Châu Á). Những chính sách của Hoa Kỳ trước đây và của Obama hiện tại cũng đều chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của các nhà tài phiệt người Do Thái.”

Thanh Hằng

HIỆN TƯỢNG NGUYỄN ĐỒNG DUY CỦA HỘI CSVSQTB THỦ ĐỨC/WA

Huỳnh Kim Anh

 Trong sinh hoạt cộng đồng thường xảy ra một số hiện tượng khác lạ của một vài cá nhân,những hành động của họ khiến người bàng quang chú ý,trên diễn đàn internet cũng thấy điều đó.Tại tiểu bang Washington hiện tượng mới nhất xảy ra,hiện tượng này không giống như những hiện tượng khác đã xảy ra trước đây,đó là HIỆN TƯỢNG NGUYỄN ĐỒNG DUY ,một hiện tượng quái gở,35 năm cộng đồng tiểu bang Washington đây là lần đầu tiên,chúng ta thử tìm hiểu hiện tượng quái gở này.

Khi một người bị màn vô minh che khuất,nhận thức của họ sai ,dẫn đến những việc làm vô cùng tai hại. Nguyễn Đồng Duy thì khác,y không nhận thức sai. Nguyễn Đồng Duy thực hiện những gì đi ngược với lẻ phải,anh thừa nhận việc trái với lẻ phải như là một chân lý.Y lúc đầu đánh lừa chính anh,trong triết học gọi “mình tự đánh lừa mình” là nguỵ tín,ngụy tín là một thái độ tự lừa dối mà không biết . Muốn hiểu ngụy tín,có thể so sánh với sự lừa dối thông thường mà chúng ta thấy. Nói dối hay lừa gạt trong sự việc này có nghĩa “có người lừa dối và có người bị lừa dối” . Người lừa dối biết điều mình dối người khác và cố ý lừa dối.Nếu người lừa dối không biết mình dối,thì đó chỉ là một sự lầm lẫn đáng tiếc,chứ không đáng trách.Trái lại trong ngụy tín,người lừa dối và người bị lừa dối chỉ là một. Mới đầu người ta giả vờ tin là thật một điều người ta biết là không thật,nhưng vì giả vờ mãi,đóng kịch hoài, cuối cùng đén lúc quên mất mình giả vờ,đóng kịch và tin thật điều mình giả vờ cho là thật. Ngụy tín là một niềm tin.

** Tại sao có thể ngụy tín xảy đến cho người nào đó?

Con người có thể có thái độ ngụy tín là vì cơ cấu đặc biệt của ý thức,con người là thế này ,thế kia,nhưng có thể từ chối tình trạng thế này,thế kia của chính nó và sống như thể nó không phải là thế này ,thế kia. Cơ cấu ý thức của người này bao gồm khả năng phủ nhận đó và chính khả năng này tạo ra ngụy tín,vì nếu con người là thế nào mà cứ y như vậy,bày tỏ ra như thế thì không thể ngụy tín được,nhưng trái lại ,sự từ chối cái người ta là như thế,sống như không phải là cái đó và tin thật như vậy mới có ngụy tín.

** Ngụy tín để làm gì?

Có thái độ ngụy tín xảy ra trường hợp đòi hỏi chúng ta phải quyết định và chọn lựa một trong hai thái độ,hai giá trị và đảm nhiệm của sự lựa chọn đó. Chính vì không muốn chọn lựa dứt khóat nên ý thức tuy thực sự đã có lựa chọn dứt khóat nhưng vẫn muốn che dấu không dám nghĩ tới nhìn nhận lựa chọn đó và làm như thể là mình chưa lựa chọn dứt khóat để được hưởng thụ cả hai thái độ,đồng thời muốn tránh những khó khăn,đòi hỏi của hai thái độ,muốn cả hai mà không muốn dính líu,gắn bó dứt khoát với một bên nào,có như không,không mà như có . Nguyễn Đồng Duy là người như vậy,một sản phẩm của sự lừa dối.Những người đã từng sinh hoạt với Nguyễn Đồng Duy ở Hội Đồng Hương QNĐN nói “ Nguyễn Đồng Duy không bao giờ nghe theo lẻ phải,y luôn nghe theo điều sai” ,họ dựa theo việc làm để nói như vậy,nhưng xét và phân tích cho hết lý thì Nguyện Đồng Duy không nghe theo cái sai ,y không nghe theo mà cái sai đó ở sẳn trong tâm của y khi gặp môi trường thích hợp thì ký sinh trùng đó sinh sôi nẩy nở .

Khi Nguyễn Đồng Duy gia nhập một Hội Đoàn nào,mục tiêu của y nhắm tới là chức vụ đứng đầu Hội,chức vụ chủ tịch,hội trưởng rất hấp dẩn đối với y. Nguyễn Đồng Duy làm chủ tịch Hội Đồng Hương Quảng Nam Đà Nẳng chưa hết một nhiệm kỳ ,y đã bị ban chấp hành của Hội truất phế với tội danh thâm lạm tiền quỷ của Hội .

1/ Tại sao nguyễn Đồng Duy được bầu làm chủ tịch Hội CSVSQTBTĐ/WA ?

Các Hội đoàn ở Hải ngoại hầu hết đều gặp trở ngại là “khủng hoảng nhân vật đứng đầu Hội”( chủ tịch,hội trưởng …) .

Hội Thủ Đức đại hội để bầu cử năm 2009,đại hội này bầu lại cũng như bầu bổ sung thêm một vài thành viên trong 4 cơ chế,Nguyễn Đồng Duy mon men vào ban lảnh đạo của hội,theo nội quy của hội thì những người nào nằm trong ban lãnh đạo mới được làm chủ tịch ,đại hội hôm đó không có một sự dàn xếp nào cả,đúng theo tinh thần dân chủ.Như chúng ta biết người tự nguyện ứng cử không có chỉ có đề cử mà thôi,phần nhiều người được đề cử khi nhận cũng rất miễn cưởng,Nguyễn Đồng Duy được nguời quen đề cử y là ứng viên trong ban Giám sát,Nguyễn Đồng Duy từ chối ứng viên vào cơ chế này. Vì sao y từ chối ? Y từ chối vì nằm trong ban này không được làm chủ tịch. Sau đó một người khác đề cử y là ứng viên trong ban lãnh đạo ,Nguyễn Đồng Duy chấp nhận.Buổi bầu cử hôm đó con số ứng viên vào các cơ chế ngang với con số Hội cần bổ sung,tất cả đương nhiên trúng cử (hầu hết các hội đoàn đề gặp trường hợp này). Nguyễn Đồng Duy trúng cử vào ban lảnh đạo.

Theo nội quy của Hội tất cả những người trong ban lảnh đạo họp lại để bầu lên một chủ tịch ,một số người được đề cử chủ tịch,không ai nhận cả ,đến lượt đề cử Nguyễn Đồng Duy,y ba điều bốn chuyện rồi chấp nhận làm chủ tịch ,Hội không có sự chọn lựa nào khác,hơn nữa không ai có thể hiểu thấu lòng dạ bẩn thỉu của Nguyễn Đồng Duy.

Được làm chủ tịch hội CSVSQTB Thủ Đức NĐD mừng rở như một chiến thắng lớn,y mừng rở vì như vậy là trả thù được những mối thù ,mối thù thứ nhất của Nguyễn Đồng Duy là ông Võ Tấn Kha cựu chủ tịch hội CSVSQTB Thủ Đức/WA,ông Kha là người khinh bỉ NĐD ra mặt,theo lời ông Kha thì khi thành lập Hội Thủ Đức ,NĐD nhận mua giúp huy hiệu Thủ Đức cho một số anh em và được tình nghi là ăn lời? Từ đó Duy ghét ông Kha ( cọng thêm chuyện gia đình với nhau),chính Nguyễn Đồng Duy thốt ra sau khi trúng cử vào ban lảnh đạo “ Tôi nói với vợ tôi là khi tôi ở trong ban lảnh đạo có người tức ói máu” vợ tôi hỏi “Ai?” tôi nói “Võ Tấn Kha” nói xong Nguyễn Đồng Duy cười hỉ hả.(cũng cần nói thêm là khi Hội mới thành lập NĐD ứng cử vào một cơ chế của Hội nhưng không trúng cử,từ đó Nguyễn Đồng Duy bỏ Hội). Mối thù thứ hai là những người trong ban chấp hành hội đồng hương QNĐN,ban chấp hành này đã truất phế Nguyễn Đồng Duy với tội danh THÂM LẠM TIỀN QUỸ của Hội.

2/ Những việc làm của Nguyễn Đồng Duy trong thời gian làm chủ tịch.

Người mà Nguyễn Đồng Duy nhờ cậy nhiều nhất là niên trưởng Nguyễn Đình Lãng,mọi sinh hoạt trong Hội NĐD đề nhờ niên trưởng Lãng giúp,xin ý kiến…Duy không biết cách điều hành một Hội,mặc dù anh ta luôn khoe khoang là đã từng làm chủ tịch nhiều Hội Đoàn . Đầu óc của Duy là đầu óc của một kẻ có tâm xà,tính toán gian manh ,không bao giờ NĐD làm theo con đường chính đại,y luôn quanh co ,một ví dụ để thấy rõ về NĐD.Ông Trưởng ban lảnh đạo(niên trưởng Lãng XLTV trưởng ban lảnh đạo) đề nghị y triệu tập một buổi họp về việc một hội viên vi phạm trầm trọng nội quy của Hội gây mất uy tín của Hội, y né tránh không muốn triệu tập,được thúc dục mãi Duy đứng ra tiệu tập nhưng yêu cầu niên trưởng Lãng làm chủ tọa buổi họp đó,sắp một chương trình cho buổi họp,Duy cũng đánh lừa ,y sắp việc chính xuống mục linh tinh và mục linh tinh(không quan trọng) lại để trong mục “mục đích buổi họp”.Đã nhiều lần các thành viên trong 4 cơ chế nhắc nhở để y sửa sai,song Duy không chịu nghe. Trong con người NĐD đã thành hình một ý thức phi đạo đức,y xem việc đi ngược đó là một chân lý.

3/ Tại sao Nguyễn Đồng Duy được đồng hương QNĐN cứu khi y bị ban chấp hành truất phế chức HỘI TRƯỞNG ?

Một câu hỏi đã được đặt ra như vậy? Nguyễn Đồng Duy là một con người xấu xa nhưng,tại sao lại được cứu vớt?

Một số vị trưởng thượng Quảng Nam đứng ra tổ chức bầu cử lại Hội Đồng Hương QNĐN không phải là để cứu Nguyễn Đồng Duy,họ dư biết NĐD là người thực sự có lem nhem (những bằng chứng từ ngân hàng đã được ban chấp hành lúc đó đưa ra),bầu cử lại ,NĐD đâu có làm Hội Trưởng mà sợ tai tiếng (thậm chí lúc đó y muốn ứng cử vào Ban Chấp Hành nhưng không ai đề cử ). Có một vấn đề mấu chốt cho sự việc này khiến cho có cuộc bầu cử vì : Ban Chấp Hành truất phế Nguyễn Đồng Duy quá vội vả để đi đến sai nội quy của Hội. Đồng hương QNĐN không muốn tạo thành một tiền lệ cho Hội là :Ai muốn làm gì thì làm bất chấp lẻ phải và luật lệ đã đồng ý với nhau. Nguyễn Đồng Duy số đỏ trong sự việc này.

Đến ngày hôm nay thắc mắc đó không còn nữa,NĐD đã được mọi người biết đến,sự khinh bỉ càng gia tăng,đến nổi một người khá quen với y đã thốt lên khi sự việc Hội Thủ Đức xảy ra “Th…Duy đã vào bưng rồi”.

4/ Âm mưu của Nguyễn Đồng Duy về việc thành lập quỹ tương tế cho Hội CSVSQTB Thủ Đức?WA .

Một Hội Đoàn ở hải ngoại nhất là các Hội Đoàn quân đội được thành lập ngoài việc đấu tranh chính trị,còn có mục tiêu không kém phần quan trọng đó là tương tế,Hội Thủ Đức cũng vậy. Trước thời kỳ Nguyễn Đồng Duy làm chủ tịch,Hội Thủ Đức cũng có tương tế,việc tương tế nằm trong nội quy của Hội ,rất đơn giản là ai bệnh hoạn Hội đi thăm,ai mệnh chung Hội chia buồn cũng như phân ưu vòng hoa,dù đơn giản nhưng tình vẫn đậm không một gia đình đồng môn nào trách được . Khi Nguyễn đồng Duy lên làm chủ tịch tôi đề nghị Hội nên chú ý thêm việc tương tế như : Nếu có Hội viên nào qua đời,mỗi hội viên còn lại đóng 5 đồng hoặc 10 đồng …tuỳ theo quy định để có tiền thong thả đi phúng điếu…Vấn đề này Hội Đồng Hương QNĐN thực hiện . Hội đồng hương QNĐN là Hội Đồng Hương nên không có Hội viên,bất cứ một đồng hương nào qua đời ,Hội xuất tiền quỷ ra mua vòng hoa phúng điếu .Khi thành lập quỹ tương tế lúc đó Hội QNĐN mới thu nhận Hội viên ,những người gia nhập nạp đơn để trở thành hội viên Hội Tương Tế QNĐN ,cứ một người mệnh hệ ,mỗi hội viên còn lại đóng $5.00 để phúng điếu người quá cố.

Hội Thủ Đức là một Hội có Hội viên,mỗi hội viên đóng tiền niên liễm là $25.00 ,không thể nào lập hội tương tế riêng biệt (Hội viên tương tế riêng),như vậy chẳng khác gì hai Hội trong một Hội,điều này gây những mâu thuẩn trong Hội ,sự mâu thuẩn đó là giửa hội viên tương tế và hội viên CSVSQTB Thủ Đức . Trong bản điều lệ của ông Duy và Ghi có nói ở điều 2(thành phần và phạm vi hoạt động) là: “Việc tham gia quỹ tương tế có tính cách tự nguyện,ngoại trừ thành viên của 4 cơ chế của Hội đương nhiên phải đi đầu tham gia quỹ tương tế”. Điều này có nghĩa những ai là Hội viên Hội CSVSQTB Thủ Đức/WA không bắt buộc vào Hội viên quỹ tương tế và người gia nhập hội Tương Tế cũng không cần phải là Hội Viên Hội CSVSQTB Thủ Đức ( Hội viên tương tế đóng lần đầu là $15.00 USD ,sau đó nếu có Hội viên nào mất thì Hội Viên còn lại đóng $10.00). Chúng ta thử đặt những câu hỏi để thấy bất lợi cho việc lập quỹ Tương Tế riêng.

    1) Nếu ông A là một Hội Viên Hội CSVSQTB Thủ Đức (đóng tiền niên liễm $25.00/năm) nhưng không gia nhập Hội Viên tương tế,khi mất sẽ được Hội đối xử như thế nào?

    Trước đây khi một Hội viên chính thức của Hội CSVSQTB Thủ Đức mất,Hội Đã làm thủ tục như sau:

    _ Phúng điếu bằng vòng hoa

    _ Đăng báo chia buồn

    _ Phủ cờ nếu có yêu cầu của Hội viên(trước khi chết) hoặc của người thân.

      2) Bây giờ thời NĐD làm chủ tịch,nếu có một Hội Viên HộiCSVSQTB Thủ Đức(đóng tiền niên liễm $25.00/năm) mất thì sao ?

      _ Hội có bổn phận đăng báo chia buồn và phúng điều bằng vòng hoa hay không ?

      _ Hội có phủ cờ VNCH nếu có yêu cầu của tang quyến không?

      a) Nếu có : Như trước đây.

      b) Nếu không : Tại sao trước đây làm được mà bây giờ NĐD làm không được??

        3) Nếu ông A chỉ là Hội Viên tương tế (không vô Hội Viên Thủ Đức) ,khi mất sẽ được đối xử như thế nào?

        Theo như bản điều lệ tương tế của Nguyễn Đồng Duy và Đặng Ghi thì sẽ được:

        _ Được phủ Quốc Kỳ nếu có yêu cầu phải đóng $50.00 mua cờ.

        _ Mỗi Hội Viên còn lại đóng $10.00 để phúng điếu hoặc phân ưu.

          4) Nếu ông A là Hội viên Thủ Đức vừa là Hội Viên Tương Tế khi mất sẽ được đối xử như thế nào?

          Điều này không nghe nói đến chúng ta hiểu ngầm là được đối xử như người gia nhập Hội Viên tương tế.

          So sánh phần (3) và (4) chúng ta thấy sự đối xử như nhau,như vậy gia nhập Hội Viên Thủ Đức làm gì để phải đóng tiền niên liễm $25.00/năm?

          Nếu một Hội Viên Thủ Đức (không tương tế)mất đi không được phân ưu ,phúng điếu vòng hoa thì còn gì là tình đồng môn hơn nữa tiền niên liễm để làm gì?

          Chúng thấy sẽ có những mâu thuẩn với nhau,tạo những tai tiếng xấu cho Hội. Nếu một Hội Viên tương tế mất được Hội CSVSQTB Thủ Đức chăm lo nhiều hơn như:Vòng hoa lớn hơn,đăng nhiều báo hơn hoặc cở lớn hơn…Điều này sẽ gây ngộ nhận cho nhiều người là: Tại sao có sự đối xử khác biệt như vậy? Ai là người đứng ra giải thích,tại sao tạo ra rắc rối như vậy?

          Ông Đặng Ghi và Nguyễn Đồng Duy không có khả năng soạn một bản điều lệ,chúng ta đọc những bài viết của của Đặng Ghi thì thấy rỏ nhất về khả năng lý luận của y,những lý luận của y quá nhiều chổ hở,một người không có khả năng lý luận như vậy không thể nào soạn được một điều lệ hay bản nội quy.

          Một câu hỏi nữa được đặt ra : Tại sao hai ông Ghi và Duy tha thiết thành lập tương tế? Có phải hai ông ưu tư ,lo lắng cho các CSVSQTB Thủ Đức hay không? Hay là một mưu đồ gì khác?

          Trong bản điều lệ tương tế có nói đến quỹ tương tế được điều hành bởi hai cơ chế độc lập với Hội CSVSQTB Thủ Đức. Sự điều hành độc lập như vậy là điều không nên vì như vậy : Hội Tương Tế là Hội thứ hai trong một Hội.

          Đặng Ghi và Nguyễn Đồng Duy cố ý như vậy để chuẩn bị tách Hội CSVSQTB Thủ Đức ra làm hai,sự tách rời này rất hợp lẻ vì hai Hội (một là Hội Viên Thủ Đức ,hai là Hội Viên Tương Tế). Kế hoạch lập Tương tế thất bại,không thể nào tách Hội Thủ Đức ra làm hai một cách hợp lý được,hai ông này chơi luật rừng để chiếm Hội ,dẩn Hội đi theo con đường có một lập trường không phải là của người Quốc Gia chân chính,một lập trường chống lại lập trường 4 không của Hội.

          5/ Về vấn đề giấy phép:

          Nguyễn Đồng Duy lên Bộ Nội Vụ tiểu bang Washington loại bỏ những người có tên trong giấy phép ,thay thế vào đó là Đặng Ghi với hai chức vụ là Tổng Thư Ký và Thủ Quỹ . Trong giấy phép hiện nay có tên Nguyễn Đồng Duy (chủ tịch),Đặng Ghi (Tổng Thư Ký kiêm Thủ Quỹ),Đào Quang Thân(trưởng một Board),chúng tôi liên lạc với ông Thân để hỏi cho rỏ,ông Thân cho biết là ông không hề hay biết gì về sự việc này,ông Duy bỏ tên ông Thân vào nhưng không hỏi ý kiến.

          Làm trò cướp giật đó xong Nguyễn Đồng Duy ra thông báo Hội của ông là hợp pháp còn những người còn lại trong Hội nếu lấy danh xưng Hội CSVSQTB Thủ Đức là bất hợp pháp.Trò của NĐD chỉ bịp được một số ít người mà thôi,chúng tôi đã va chạm quá nhiều về vấn đề giấy phép,chúng tôi xin được nói thật rỏ để đồng môn khỏi thắc mắc,tránh sự lừa bịp của Nguyễn Đồng Duy.

          Xin một giấy phép rất dể dàng,chỉ cần vài ba người là xin được ,không cần chứng minh về Hội của mình như thế nào,mất $10.00 là có một giấy phép.

          1/ Giấy phép của Hội CSVSQTB Thủ Đức /WA đứng tên Nguyễn Đồng Duy (chủ tịch),Đặng Ghi(Tổng Thư Ký kiêm Thủ Quỹ) có cố định không? Nguyễn Đồng Duy nắm đằng cán tức nắm giử Giấy Phép Hoạt Động của Hội CSVSQTB Thủ Đức/WA ? Không ai có thể thay đổi???

          Người viết bài này có quá nhiều kinh nghiệm về vấn đề giấy phép của một Hội Non-Profit . Khi ban chấp hành QNĐN truất phế Nguyễn Đồng Duy,họ đã lên Bộ Nội Vụ ở Olympia loại bỏ tên Nguyễn Đồng Duy (chủ tịch) để thay thế vào người khác ,NĐD biết được lên Bộ Nội Vụ đóng $10.00 để lấy lại giấy phép( đứng tên NĐD),phía Ban Chấp hành truất phế NĐD lên đổi lại ,dằng co hoài ,ai siêng đổi thì đứng tên người đó . Sau đó Hội Đồng Hương QNĐN mới được đồng hương bầu cũng gặp vấn đề tranh chấp với những người truất phế NĐD .Người viết bài này có lên Bộ Nội Vụ gặp Luật Sư của Bộ Nội Vụ trình bày chi tiết sự việc và được trả lời “ Hội các anh là một Hội Non-Profit chúng tôi chẳng biết bầu bán lúc nào,chúng tôi không thể không renew nếu có yêu cầu,miễn là những người đó có tên trong Ban Chấp Hành(Điều Hành…) của các ông ,chỉ trừ khi nào có lệnh của tòa án mới cố định là tên của ai. Sau đó chúng tôi không đi đổi nữa,cái cần thiết là đồng Hương tin ai,ủng hộ ai?Sinh hoạt như thế nào? Chứ không phải là giấy phép.

          Giấy phép của Hội CSVSQTB Thủ Đức hiện nay đứng tên Nguyễn Đồng Duy,chúng tôi những những người còn lại không muốn chơi trò con nít đổi qua đổi lại,chỉ cần tốn $10.00 là bỏ tên NĐD ra mà thôi, nhưng làm như vậy để làm gì? Một trò cười cho thiên hạ tranh giành nhau tờ giấy ( giấy phép chỉ có giá trị khi Hội Đoàn đó muốn có FUNDING,chúng tôi phân tích phía dưới ).

          ** Giá trị của giấy phép .

          Giấy phép là cần thiết và có giá trị khi Hội Đoàn đó muốn tiến đến việc xin FUNDING để sinh hoạt . Một Hội Đoàn muốn xin tiền để hoạt động trước hết Hội đó phải chứng minh những hoạt động của mình,một Hội bất vụ lợi không dính dáng gì đến chính trị để xin giấy miễn thuế ,dù Hội có tiền quỹ bao nhiêu cũng khỏi khai thuế,còn một Hội không có giấy miễn thuế chỉ được giử một số tiền nhỏ(dưới $10,000.00) nếu lớn sẽ bị đánh thuế khoảng 20% đến 25% tổng số tiền có). Khi được như vậy Hội sẽ được chính Phủ rót tiền xuống ,một Hội nhận được FUNDING như vậy không được dính đến chính trị,không phân biệt thành phần chính trị.

          Để hiểu thêm một chút nữa về những cái của một Hội Đoàn,chúng tôi đã phân tích về giấy phép ở phần trên,sau đây chúng tôi nói đến ACCOUNT của Hội đó.

          Khi ban chấp hành QNĐN trước đây truất phế NĐD,y chạy ra ngân hàng yêu cầu ngân hàng là account của Hội QNĐN tạm ngưng (không gởi vào hay rút tiền ra). Phía truất phế Duy cao tay ấn hơn (có quen biết với nhân viên ngân hàng,họ hiểu rỏ luật lệ một account của Hội Non-Profit ),nên họ lấy trọn số tiền của Hội mà NĐD đứng tên,NĐD chạy đôn chạy đáo để lấy lại số tiền đó nhưng không được (số tiền khoảng $5,000.00) Tại sai như vậy?

          Hội QNĐN mới được bầu lại ra ngân hàng để mở một account cho Hội,người viết bài này đã trình bày sự việc về account của NĐD bị những người truất phế y lấy tiền mà không có sự đồng ý của y,nhân viên ngân hàng trả lời rất rỏ ràng về sự việc này,ngân hàng không chịu trách nhiệm gì cả vì là một Hội Non-Profit hoặc một vài công ty cổ phần cũng vậy,có những ông đứng đầu bị loại bỏ chức vụ ,người này không chịu bàng giao và bỏ trốn để gây rắc rối cho công ty hoặc Hội nên ngân hàng sẳng sàng giao cho những người trong board của họ (dĩ nhiên họ xuất trình đủ chứng từ về những người điều hành là ở trong Hội đó,công ty đó…). Nay thì Nguyễn Đồng Duy loại bỏ ông Thủ Quỹ Trương Trung Tâm thay vào đó là Đặng Ghi.Số tiền này là tài sản của Hội có nghĩa là công sức đóng góp của các thành viên 4 cơ chế. Không hiểu Nguyễn Đồng Duy có nhớ bài học của Hội Đồng Hương QNĐN về tội danh THÂM LẠM TIỀN QUỸ không? Hay ông vẫn chứng nào tật nấy?

          6/ Nguyễn Đồng Duy được lợi gì và mất gì trong việc cướp Hội CSVSQTB Thủ Đức/WA?

          a) Lợi gì?

          _ Nguyễn Đồng Duy được lợi là được làm chủ tịch muôn năm vì,có đồng môn nào thay thế chức chủ tịch của Duy đâu (sợ mang tiếng xấu).

          _ Nguyễn Đồng Duy được nhập bọn với những rác rưới,tội phạm,láo khoét…

          _ NĐD mang hia đội nón để được thành phần nêu trên giới thiệu

          b) Mất gì?

          _ Danh dự xuống bùn đen

          _ Những người từng ủng hộ NĐD nay xa lánh

          _ Đồng Hương QNĐN với Duy khinh bỉ thêm

          Kết Luận:

          Để kết luận bài viết “Hiện tượng Nguyễn Đồng Duy” tôi nêu ra 3 tổ chức(hội đoàn) mà Duy tham dự và,tư cách của Duy được những người trong Hội Đoàn,tổ chức đó đánh giá.

          ** Hội Đồng Hương QNĐN tiểu bang Washington: Nguyễn Đồng Duy bị truất phế vì tham lạm tiền quỹ của Hội (xin xem phần chứng minh ở phần cuối bài viết).

          ** Khóa 4/71 Thủ Đức : Nguyễn Đồng Duy tự phong cho anh ta là trưởng ban vận động để nối kết đồng môn cùng khóa ( vận động bằng cách qua email). Khi khóa tổ chức họp khóa ở Washington DC,Trưởng ban tổ chức họp khóa là anh Dương Tùng Lâm gọi điện thọai cho Duy (Duy không có nhà hoặc không bắt phôn) ,anh Lâm đã nhắn “ Duy mày khùng vừa vừa chứ ,chương trình ở đâu mà mày đẻ ra như vậy,tau và anh em cùng khóa sẽ không tiếp mày ở Washington DC trong ngày họp khóa( không đúng nguyên văn nhưng nội dung hoàn toàn là như vậy).

          ** Hội CSVSQTB Thủ Đức tiểu bang Washington: Hầu hết trong 4 cơ chế đề khinh thường Nguyễn Đồng Duy,khinh thường về khả năng (không biết điều khiển một buổi họp)của Duy và tư cách (nói láo),bản tính của y đã lộ rỏ về biến cố của Hội .Duy bị bải nhiệm.

          Duy gọi điện thoại tâm sự với người quen ở xa,y nói huyên thuyên trong đó có câu nói đại khái là : Bọn họ khi dể tôi quá. Người quen với Duy nói lại với người bạn của ông ta (hai người này không dính gì đến Hội)về những gì Duy nói ,người bạn sau khi nghe xong nói “ Tất cả những gì thằng Duy nói là láo hết chỉ có một điều nó nói đúng 100%,điều đó là những người trong các cơ chế đều khinh nó cả. (Thật chí lý).

          TIN NHANH VỀ ĐẠI HỘI THỦ ĐỨC/WA

            XUÂN LAN  Tường trình

          Theo thư mời ký tên ông Nguyễn Đồng Duy là chủ tịch Hội CSVSQTB Thủ Đức/WA .Buổi đại Hội bất thường được tổ chức tại nhà hàng Jumbo vào lúc 11:00 AM ngày 02 tháng 4 năm 2011.Thư mời ghi: Quý Niên Trưởng và Quý Hội Viên Cựu SVSQTB Thủ Đức và các quân trường khác.

           Tôi đến nơi vào khỏang 10 giờ 30 ,một số các ông bận đồng phục màu vàng đứng ngoài hành lang, tôi cũng nhận thấy co cảnh sát đứng gát phía trước,tôi đi thẳng vào trong phòng hội, bà vợ của ông Nguyễn Đồng Duy sừng sộ hỏi tôi “ Vào đây làm cái gì…” Tôi trả lời “ Vào quay phim chụp hình chứ làm gì” bà Phụng(vợ Duy) lên giọng vợ của chủ tịch “ Không được quay phim chụp hình…” Liền lúc đó có giọng nói “ Cứ tự nhiên đi.,không sao cả…..” tôi nhìn thì ra đó là anh Phạm Văn Thân (anh Thận là người quen với tôi từ lâu,cũng có vài ba lần ăn nhậu chung…) .Nhưng sau đó ông Đặng Ghi,ông Dương Đình Long bảo tôi ra ,họ nói với Cảnh Sát đuổi tôi ra ,Cảnh Sát giải thích lung tung về nhiệm vụ của anh ta,một lát sau một ông bận đồ vết bảo tôi ( sau đó tôi hỏi mấy người quen hình như ông đó cũng là cảnh Sát)“Vào thì vào nhưng không được chụp hình” tôi trả lời “ Vào mà không quay phim chụp hình thì vào làm gì?”.

          Tôi lòng vòng một lát nơi hành lang thấy mấy ông Thủ Đức đi vào ,trong số đó cũng có vài ba người tôi quen. Không lâu họ kéo ra và cho biết ông Đặng Ghi nhờ Cảnh Sát đưổi họ ra vì nhà hàng đó ông Đặng Ghi thuê mở đại Hội cho tổ chức của ông,ông Đặng Ghi không muốn những người mà ông cho là nguy hiễm dự đại Hội. Tôi tìm hiểu và được biết đó là những người trong 4 cơ chế của Hội Thủ Đức,những người này chống lại việc ông Nguyễn Đồng Duy và Đặng Ghi xé bỏ nội quy của Hội để làm theo ý của hai ông. Tôi cũng còn thấy một flyer dán trước lối vào,flyer này nội dung là cấm những người nào có tên liệt kê không được dự đại Hội. Tôi thấy một Đại Hội hơi lạ ở xứ tự do này,một Đại Hội mời người ta đến để rồi nhờ Cảnh Sát đuổi không cho dự. Tôi sẽ tường trình chi tiết về sự việc này nay mai để đồng hương được rỏ.

           Xuân Lan (BM)

          VỢ CỦA BILLGATE SỐNG NHƯ THẾ NÀO?

           

          Làm từ thiện không chỉ đơn giản là ký séc chi tiền

           Là vợ của người đàn ông giàu nhất hành tinh nhưng Melinda không mấy quan tâm đến những cửa hàng thời trang sang trọng, những loại mỹ phẩm đắt tiền hay những tác phẩm nghệ thuật danh giá. Thay vào đó, suốt ngày bà chúi mũi vào những chuyện đại loại như… chu trình sống của con muỗi. Một người phụ nữ hơi bất thường chăng?
          Ngay sau khi cưới nhau, vợ chồng Bill Gates bắt đầu làm từ thiện nhưng làm một cách dè dặt, trong đó có lần tặng máy vi tính xách tay cho các ngôi làng ở khu vực cận Sahara (Phi châu).
          Nhưng rồi hai người nhận ra người dân lục địa đen cần thức ăn để no bụng và thuốc men để chống lại cái chết hơn là phần mềm Windows xa xỉ. Thế là họ tậu bao nhiêu là sách về các bệnh lây lan vì ký sinh trùng, về hệ miễn dịch, về cách phòng bệnh…
          “Bạn không thể nói về chuyện tài trợ cho thuốc chống sốt rét nếu như bạn không hiểu rõ chu trình sống của con muỗi. Làm từ thiện không chỉ đơn giản là ký séc chi tiền”,
          Melinda nói.
          “Tại sao lại phải nhọc công đến thế? “
          Melinda có thể tận hưởng một cuộc sống trong nhung lụa, dành thời gian chăm sóc con cái.
          “Khi cưới nhau, tôi và Bill định khi về già sẽ chia sẻ tiền bạc với người khác.. Lần đầu tiên chúng tôi đến châu Phi là nhân một chuyến đi săn năm 1993.
          Chúng tôi không thể nào tận hưởng thiên nhiên hoang dã vì cảnh tượng mọi người đi chân đất, phụ nữ phải vừa bế con vừa xách nước đi hàng cây số và bởi lời mời từ một bộ lạc về việc dự buổi lễ cắt âm vật phụ nữ.
          Sau đó về nhà, chúng tôi tìm đọc Báo cáo về phát triển thế giới năm 1993 và không khỏi giật mình. Trẻ con đang chết hàng loạt chỉ vì căn bệnh tiêu chảy và những loại bệnh cơ bản mà trẻ con ở nước chúng tôi đã được tiêm vắc-xin.
          Chúng tôi tự thấy mình phải có trách nhiệm tìm hiểu sự thật và càng tìm hiểu, chúng tôi càng thấy không thể chờ vì bệnh tật không đợi chúng tôi. Tôi đi vòng quanh thế giới để xem điều gì đang xảy ra.
          Nỗi sợ hãi khi quay về quá khủng khiếp đến độ tôi không dám hy vọng. Nhưng rồi bạn thấy đó, kinh tế đang thay da đổi thịt ở các nước phát triển và tự nó cải thiện mọi chuyện. Điều đó đã vực Bill và tôi dậy”.
          “Chúng ta có xem rẻ mạng sống của người Phi châu hơn mạng sống của chúng ta không? Bill và tôi cho rằng không có sinh linh nào mang giá trị hơn hay kém so với sinh linh khác. Chính sự công bằng này là lý do để quỹ từ thiện của chúng tôi hoạt động”
          Quỹ từ thiện Bill & Melinda Gates (BMGF) bắt đầu hoạt động với quy mô nhỏ vào năm 1997 rồi chính thức khai trương vào năm 2000. Vợ chồng Gates đã cam kết sẽ trao tặng hết 95% tài sản khổng lồ của mình (hiện ước tính khoảng 46 tỉ USD). Vắc-xin và tạo hệ miễn dịch cho trẻ em là mục tiêu chính của quỹ.
          Đến nay BMGF đã chi tổng cộng 28,8 tỉ USD. Hồi đầu năm, BMGF đã tặng cho Liên minh Vắc-xin và miễn dịch toàn cầu (Gavi) 750 triệu USD – một trong những món quà cá nhân lớn nhất lịch sử.
          Những lần tài trợ trước đó của vợ chồng Bill Gates đã giúp tiêm phòng viêm gan siêu vi B cho 43 triệu trẻ em, giúp giảm 39% tỷ lệ trẻ em bị sởi…

          Ngoài ra, BMGF còn chi mạnh cho các dự án khoa học nghiên cứu vắc-xin và thuốc men, trong đó phải kể đến chương trình trị giá 35 triệu USD để thử nghiệm vắc-xin chống sốt rét ở Zambia.
          Hẳn nhiều người sẽ ngạc nhiên vì ông bà Gates không dành phần lớn tài sản của mình để lại cho con cái. Hiện họ đang có 3 đứa con nhỏ nhưng Melinda không tỏ ra lo lắng:
          “Bất cứ lúc nào gia đình tôi nói tới chuyện tài sản, chúng tôi đều nói đến trách nhiệm phải trao tặng nó cho thế giới. Các con của chúng tôi đã có tài khoản riêng của chúng.
          Không phải lúc nào chúng muốn mua gì cũng được nấy mà phải đợi đến những dịp như sinh nhật mới được tặng hay đợi cho đến khi chúng tự để dành đủ tiền”.
          Hiệp hội Bill & Melinda Gates đã chi bao nhiêu cho ai?
          Tính đến đầu năm 2005, tỷ phú này đã cam kết số tiền 28 tỷ USD cho nhiều dự án cứu tế, từ thiện, y tế và giáo dục. Tức ông đã đem cho không đến 38% tổng tài sản của mình.
          9,3 tỷ USD là tổng số tiền mà tỷ phú giàu nhất thế giới Bill Gates đã chi cho các công cuộc từ thiện cứu tế và giáo dục thông qua hiệp hội mang họ tên mình thành lập vào năm 2000.

          Chúng được chia ra như sau:

          - Sức khoẻ: 5,4 tỷ USD (gồm chi An lược sức khoẻ toàn cầu, 2,3 tỷ USD nghiên cứu trị HIV/AIDS, bệnh lao và y tế sinh sản, 1,5 tỷ USD; các bệnh lây lan khác, 1,1 tỷ USD; nghiên cứu phát triển công nghệ y tế toàn cầu, 0,4 tỷ USD; nghiên cứu y tế, chiến dịch y tế toàn cầu…, 0,1 tỷ USD)
          - Giáo dục: 2,4 tỷ USD
          - Chương trình xây dựng thư viện toàn cầu: 0,3 tỷ USD
          - Những dự án đặc biệt khác: 0,6 tỷ USD
          - Các chương trình từ thiện ở khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương: 0,6 tỷ USD.

          HỘI THỦ ĐỨC/WA CỦA ĐẶNG GHI ĐẠI HỘI BẤT THƯỜNG_ SỰ KIỆN VÀ SUY TƯ

           Xuân Lan

           Một độc giả gọi báo cho tôi biết(tôi ít đọc những tờ báo đó) Hội CSVSQTB Thủ Đức mở đại hội bất thường đăng trên tờ NgườiViệt Ngày Nay. Theo thư mời ký tên ông Nguyễn Đồng Duy là chủ tịch Hội CSVSQTB Thủ Đức/WA .Buổi đại Hội bất thường được tổ chức tại nhà hàng Jumbo vào lúc 11:00 AM ngày 02 tháng 4 năm 2011.Thư mời ghi: Quý Niên Trưởng và Quý Hội Viên Cựu SVSQTB Thủ Đức và các quân trường khác.

           I Tường Trình (sự kiện).

          1/Chưa khai mạc:

          Tôi đến nơi vào khỏang 10 giờ 30 ,một số các ông bận đồng phục màu vàng đứng ngoài hành lang, tôi cũng nhận thấy có cảnh sát đứng gát phía trước,tôi đi thẳng vào trong phòng hội, bà vợ của ông Nguyễn Đồng Duy sừng sộ hỏi tôi “ Vào đây làm cái gì…” Tôi trả lời “ Vào quay phim chụp hình chứ làm gì” bà Phụng(vợ Duy) lên giọng quyền uy và đầy thù hận của một “phu nhân”chủ tịch “ Không được quay phim chụp hình...” .Trong đầu tôi suy nghĩ “ Ghê quá !bao nhiêu năm mình sống với chế độ Cộng Sản Việt Nam ,mình chưa chứng kiến một cảnh nào như vậy,các chủ tịch xã,trưởng công an hoạnh nộ với dân là thường nhưng tôi chưa thấy “phu nhân” của các ông đó lên giọng “quyền uy” như “phu nhân” của chủ tịch Nguyễn Đồng Duy . Liền lúc đó có giọng nói “ Cứ tự nhiên đi.,không sao cả…..” tôi nhìn thì ra đó là anh Phạm Văn Thân (anh Thận là người quen với tôi từ lâu,cũng có vài ba lần ăn nhậu chung…) , giọng nói anh Thận nhẹ nhàng ,êm ái,lịch sự …Hoàn toàn trái ngược với bà Phụng(vợ NĐD),tôi thầm nghĩ “Đúng là Quan có khác”,nhưng khi tôi nhớ lại vở bi kịch mà anh Thận đã đóng khi còn ở VN với một người trong tổ chức của anh ( tôi sẽ nói ở phần suy tư)thì cảm tính của tôi cho hay lời nói của anh Thận vừa rồi “đó chỉ là vở hài kịch”Sau đó ông Đặng Ghi,ông Dương Đình Long với gương mặt đầy hận thù bảo tôi ra ,ông Đặng Ghi tôi có nói chuyện một lần trong dịp Thủ Đức tổ chức tết, hôm đó tôi không để ý về tác phong,tướng mạo của ông ta lắm,nay vì cách đối xử của ông với tôi nên tôi hơi chú ý về ông một chút,tôi thấy liền những nét nổi bật của ông Đặng Ghi “Râu rìa lông ngực”,tôi có đọc sách tướng số cho biết đồng thời dựa theo đó mà chọn bạn… Bằng trực giác tôi chẳng tin ông Đặng Ghi làm điều gì chính trực. Phần ông Dương Đình Long đây là lần đầu tôi gặp ,với khuôn mặt hơi rổ của ông trông thật dữ tợn, nhìn từ ông Đặng Ghi qua ông Long khiến tôi nhớ đến hình ảnh bọn công an với những khuôn mặt đằng đằng sát khí bắt tôi khi tôi ra cản xe ủi đất của một công ty Nhật ủi đất nhà tôi( VC lấy đất của gia đình tôi bán cho ngoại Quốc),tôi nghĩ thầm “ cũng bộ đồ vàng,đất nước Tự Do mà cũng cảnh này ghê thật”.Tôi thấy anh Trịnh Quang Minh ,tôi nói “Anh Minh họ đuổi tôi ra” ,anh Minh trả lời “ Tau không ở trong ban tổ chức”,anh Minh và tôi cũng khá quen,tính anh nhanh nhẹn vui vẻ,nay thì anh đổi khác “tau không ở trong ban tổ chức”,tôi không năng nỉ để anh “cứu” tôi,tôi kêu anh cho vui thôi và cũng ngầm báo cho anh biết “phe của anh là thế đó”,tôi dư biết là anh Minh không ở trong ban tổ chức,tôi biết anh từ lâu,anh là mẩu người đi giúp cho thiên hạ,khiên bàn ghế,dọn dẹp vệ sinh…Một con người khôn lanh.

          Họ nói với Cảnh Sát đuổi tôi ra ,Cảnh Sát hỏi tôi ID báo chí,tôi không có,(có đời nào một website mà xin phép ,một tờ nguyệt san phổ biến tin tức cộng đồng,không quảng cáo lấy tiền ,xin phép để làm gí?xứ này thuế là quan trọng ,trốn thuế là tù ngay,tôi làm báo để lột mặt nạ những ai gian dối chứ đâu có lấy tiền ,chỉ bỏ tiền túi thì phép với tắc vô ích). Rồi ông giải thích lung tung về nhiệm vụ của ông,về quyền của người thuê chổ…Trong khi đó một “ phu nhân” nữa đưa máy hình chụp tôi một cách sống sượng với khuôn mặt đầy thù hận,tôi nhìn bà chợt nhớ đến khuôn mặt mụ phù thủy trong phim hoạt họa “Bạch Tuyết và Bảy Chú Lùn”,mụ phù thuỷ đặc biệt với cái mũi két ,(mặc dù người đàn bà này với khuôn mặt na ná nhưng mủi không két)chiếc mủi tượng trưng cho kẻ tàn ác,xảo quyệt …Sau này tôi hỏi ra đó là “hiền thê” của ông Nguyễn Trọng Nghị,tôi biết ông Nghị vì chiếc mủi két dể nhớ của ông.Một lát sau một ông bận đồ vết bảo tôi ( sau đó tôi hỏi mấy người quen hình như ông đó cũng là cảnh Sát)“Vào thì vào nhưng không được chụp hình” tôi trả lời “ Vào mà không quay phim chụp hình thì vào làm gì?”.

          Thật lạ và khó hiểu “Cấm chụp hình và quay phim”.Một việc làm chính đại ắt cần phổ biến rộng rải,Đại Hội một Hội lớn lại cấm chuyện đó,thật là “Bất Thường”,hình ảnh video cần được đưa đi khắp nơi để mọi người biết chứ,tôi vào quay phim hoàn toàn có lợi cho họ,hình ảnh video không cho ai xuyên tạc được ,chính nghĩa là chính nghĩa ,không ai bóp méo để trở thành bất chính,tại sao lại cấm có gì mờ ám chăng? Tôi lại đặt một giả thuyết khác là ông Đặng Ghi,Nguyễn Đồng Duy nghi tôi là VC? Nếu là VC thật thì càng tốt chứ sao,VC đi phổ biến tin tức giùm thì tốt,hay là họ sợ những hình ảnh các quan được post lên nét VC biết mặt ,ghim họ và không cho họ về “thăm quê”,thế thì khốn quá,té ra chống cộng chỉ trong bóng tối mà thôi.Một Đại Hội Bất Thường đúng nghĩa của nó (tôi hiểu chữ bất thường là: Không bình thường”.

          Tỵ nạn Cộng Sản mà lại gặp cảnh Cộng Sản,hay là “tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa” chán quá ,tôi đi lại tiệm cà-phê ,ly cà-phê lúc này có lẻ làm mình tỉnh táo hơn trong mớ bầy nhầy”này. Tôi uống cà-phê và nghĩ miên mang,như là chuyện trong mơ,lùng bùng trong tâm trí ,tôi chẳng tin chuyện này vừa xảy ra,tôi thất vọng thật sự,thất vọng vì từ trước đến nay tôi vẫn tin tưởng ở tâm,ở trí của thành phần này. Tôi nhìn về hướng cửa nhà hàng(nơi đại Hội),một số người lố nhố phía đứng tập trung ở đó,tôi đoán “lại có chuyện bất thường”,tôi đi lại nơi đó và, đã thấy một vài người quen trong Hội Thủ Đức,họ ra về.

          2/ Sau khi tôi không được quay phim chụp hình:

          Tôi tìm hiểu và được biết đó là những người trong 4 cơ chế của Hội Thủ Đức,những người này chống lại việc ông Nguyễn Đồng Duy , Đặng Ghi ,Nguyễn Thành Khánh và Dương Đình Long xé bỏ nội quy của Hội để làm theo ý của “quan thầy” . Tôi cũng còn thấy một flyer dán trước lối vào,flyer này nội dung là cấm những người nào có tên liệt kê không được dự đại Hội. Tôi làm một cuộc phỏng vấn những người không được tham dự đó ,người đầu tiên tôi phỏng vấn là ông Đặng Phùng Diễm khóa 4 Thủ Đức,vị cao niên nhất.

          _ Kính thưa chú !chú có biết là họ sẽ không cho chú dự đại hội bất thường này không mà chú đến?

          _ Chúng tôi biết chứ,khi họ thông báo đại Hội tại một nhà hàng ,chúng tôi biết được thâm ý của họ,đây không phải là nơi công cộng,họ phải trả tiền khi xử dụng nơi này,luật là người bỏ tiền ra thuê mướn có quyền yêu cầu Cảnh Sát mời những ai mà mình không thích,chúng tôi biết Đặng Ghi ,Nguyễn Đồng Duy và phe nhóm của họ (những người trước đây bỏ Hội vì nhiều lý do) không kể bất cứ thủ đoạn nào để chận đứng sự thật,chúng tôi biết nhưng vẫn đến,nếu chúng tôi không đến họ sẽ tuyên truyền láo khóet “ Bọn chúng làm sai nên không dám đến…”.Sự việc này xảy ra để đồng môn Thủ Đức nhận diện rỏ hơn về Đặng Ghi ,Nguyễn Đồng Duy,Nguyễn Thành Khánh,Dương Đình Longv.v…

          _ Cám ơn chú.

          (Tôi tiếp tục phỏng vấn ông Nguyễn Đình Lãng.)

          _ Kính thưa chú ! Chú cảm thấy vui hay buồn khi không được dự Đại Hội?

          _ Vui lắm chứ sao lại buồn,họ không dám cho chúng tôi vào chứng tỏ họ làm sai,họ sợ sự thật,họ sợ chúng tôi vạch những gian trá,xé bỏ nội quy Hội của họ trước đồng môn.

          _ Thưa chú! Tôi thấy nhốn nháo ở hành lang,sự thể như thế nào?

          _ Chẳng có gì cả,chúng tôi những người không được dự nói chuyện với những người đồng tình với Đặng Ghi,cậu có thấy tấm flyer dán trước cửa đó không?

          _ Tôi vừa đọc xong.

          _ Tôi hỏi Dương Đìng Long [“ ai dán cái này ,có phải anh không?” Dương Đình Long trả lời “không”. “Thế thì hai tên khốn nạn đó dán phải không?(ám chỉ NĐD&ĐG)” ĐDL trả lời “hai tên khốn nạn đó dán”] ,trước đó (lúc chúng tôi vừa mới tới)ông Nguyễn Trọng Nghị đến gặp tôi và nói “ Anh nói vơi cụ Diễm là bớt nóng chút,bình tỉnh để hòa giải,tôi nhận xét hai bên đều sai hết…”phần tôi là vậy,cậu muốn biết thêm những người khác nói gì với đám đó thì hỏi các ông ấy để rỏ .

          _ Một câu hỏi nữa,chú tin vào những lời nói của ông Nghị,ông Long,ông Thận,ông Minh…không?

          _ Tôi biết họ quá mà ,đó là những lời của vở kịch.

          _ Khi người Cảnh Sát giải thích để mời các chú ra,các chú có nói gì với Cảnh Sát?

          _ Chúng tôi nói với ông ấy là ông làm chứng cho chúng tôi,chúng tôi đến đây không có một hành động nào hết,ông mời chúng tôi ra theo luật thì chúng tôi ra.Ông làm chứng về điều này ,có thể họ vu cáo để mạ lỵ cho chúng tôi đến đây để phá họ và đã bị Cảnh Sát đuổi.Người Cảnh Sát đồng ý sẳng sàng làm chứng .

          _ Cám ơn chú nhiều

          Tôi gặp từng người còn lại để hỏi ,xin ghi lại đây những nét chính để quý độc giả được rỏ. Ông Vũ Trung Bình khi ra khỏi phòng hội thấy ông Nguyễn Thành Khánh ngồi ở ghế nơi tiếp tân ,cũng cần nhắc lại là ông Khánh trước đây làm chủ tịch rồi đến ông Duy,từ ngày ông Duy làm chủ tịch ,ông Khánh bị bệnh nặng không đến sinh hoạt Hội hơn một năm,nay thì ông đến với Đại Hội bất Thường để làm chủ tọa.Ông Bình hỏi ông Khánh “ Anh và tôi có còn đồng môn nữa không?” ông Khánh không trả lời.

          Ông Huỳnh Kim Anh thì nói chuyện với ông Trịnh Quang Minh và Phạm Văn Thận,ông Huỳnh Kim Anh hỏi ông Thận “ Mày có thấy chuyện này sai không,Nguyễn Đồng Duy làm bậy như vậy mà mày ủng hộ sao? Phải còn liêm sĩ chút chứ!…” Ông Thận trả lời “ Tau thấy Đại Hội là tau tới,tới để sắp ghế sắp bàn…” HKA “ Được rồi nhưng Nguyễn Đồng Duy,Đặng Ghi làm bậy mày ở trong đó mày có phản đối không?” ông Thận làm thinh.Cón ông Trịnh Quang Minh thì nói chuyện huyên thuyên thời xa xưa,hai ông Thận và Minh đều xác nhận là Đặng Ghi,Nguyễn Đồng Duy không cho một số người tham dự là sai,là trái .Theo lời ông HKA kể lại là cùng lúc đó ông Nguyễn Văn Lực HO tay bắt mặt mừng với HKA,khi ông Lực nói rất nhiều có vẻ bực tức (cũng trong vở kịch)về việc ông Đặng Ghi không cho một số người tham dự ,ông Lực nói “ Chúng tôi đến đây là để hòa giải,nếu như thế này thì tôi dự làm gì,tôi sẽ phản đối chuyện này v.v và v.v”.

          Ông Vũ Trung Bình có nói với các ông Phạm Văn Thận,Trịnh Quang Minh là “ Các anh có nói lên sự thật hay không,chúng tôi hy vọng các anh nói lên sự thật……” Trả lời ông Bình là sự im lặng.Còn một số người khác nữa cũng đặt vấn đề về sự việc này,nhưng đặt là đặt,đặt chơi cho vui chứ chẳng đi về đâu khi lòng TỰ TRỌNG của những kẻ chủ xướng đã mất .

          Tóm lại câu chuyện ở hành lang là “Những kẻ đồng lỏa đều ngậm họng hoặc xả lả hoặc trả lời vuốt ve những câu hỏi của những người chống lại ông Đặng Ghi .Những người đồng lõa này có thể họ cho là họ “biết làm chính trị”.

          3/ Trong Đại Hội :

          Ông Đặng Ghi đọc một bản cáo trạng lên án 3 ông Nguyễn Quốc Hùng,Nguyễn Công Ba,Bùi Quốc Hùng. Sau đó họ đề nghị các ông Nguyễn Hữu Ký,Hà Thúc Ưa ,Nguyễn Ngọc Xuân vào ban lãnh đạo,đặt biệt ông Hà Thúc Ưa ra điều kiện “ không được bút chiến với phe bên kia,vì họ không xứng đáng để chúng ta nói chuyện…” Những người mà ông Ưa cho là không xứng đáng là những người ông Ưa tìm họ bắt tay từng người khi vừa bước vô phòng,ông Ưa còn gọi điện thoại cho các ông Nguyễn Quốc Hùng,Nguyễn Đình Lãng trước ngày Đại Hội. Đúng là một con người …Tôi xin để các vị CSVSQTBBTĐ điền vào cho hợp lý .(phần bầu bán linh tinh tôi không tường trình)

           II Suy Tư:

           Câu chuyện Đại Hội Bất thường của ông Đặng Ghi và Nguyễn Đồng Duy với sự hổ trợ năng nổ của một số ông xuất thân từ một quân trường lớn nhất Đông Nam Á khiên tôi có những ý nghĩ ,đây cũng là mối suy tư của tôi.

          Đây là những suy nghĩ chân thật của tôi,những suy nghĩ của một người đi học dưới mái trường xã Hội Chủ Nghĩa ở bậc trung học,tôi kém may mắn hơn những vị CSVSQTB Thủ Đức ,những vị này hưởng được nến giáo dục của một thể chế Tự Do,Nhân Bản …Ở các trường phổ thông,và hơn thế nữa các vị này được xuất thân từ một trường Võ Bị lớn nhất vùng Đông Nam Á,các vị này đã được gánh vác trách nhiệm của một người chỉ huy,một người mà trong thời chiến người dân tin tưởng,một người mà những cậu bé ở bậc tiểu học như tôi kính trọng ,ao ước mau lớn để trở thành như các vị đó. Trí não của tôi bắt đầu thu nhận sự hiểu biết kha khá thì Đất Nước vở tan,tiếp nhận sự giáo dục của một cậu bé bậc tiểu học còn sơ sài quá,thế hệ của chúng tôi kém may mắn thật,kém may mắn là ý tưởng bắt đầu có (vào bậc trung học) thì bị nhồi nhét một nền giáo dục với những hận thù,được nhồi nhét những ý tưởng cuồng tín của một chủ nghĩa,chúng tôi những học sinh lúc đó đang ngồi đáy giếng,khoảng không quá nhỏ nhoi đó,chúng tôi biết được gì? Chúng tôi không có cái để so sánh… Nếu không có gia đình nói lại,kể lại cũng như giáo dục chắc chắn bây giờ tôi đây là một người mang nhiều hận thù,tôi đây xử sự với gia đình,với bạn bè…từ nền giáo dục của Cộng Sản,nền giáo dục đó sẽ khiến tôi độc tài,lổ mản,nói láo,lừa lọc,hoang tưởng ,thủ đoạn để hại kẻ khác hay dùng những ngôn từ tồi tệ vân vân và vân vân… Trở lại vấn đề của buổi Đại Hội Bất Thường ,tôi qua Mỹ hơn mười năm nay,tôi không ở trong một tổ chức nào,một Hội nào ngay cả Hội Đồng Hương,nhưng tôi thường đi đến những nơi Lễ Lộc của Người Việt tỵ nạn tổ chức,tôi đến vì tôi quý trọng thể chế Tự Do của VNCH,tôi đến vì tôi biết được sự hy sinh của QLVNCH,tôi tôn trọng những quân nhân VNCH,họ chịu nhiều khổ đau ,nhất là sau cuộc chiến trong những trại cải tại của VC . Một sự ngạc nhiên đến với tôi nếu nói đúng hơn là một cái “xốc”(shock),tôi không thể ngờ được,bây giờ thì không tin được điều đã xảy ra trên xứ Tự Do này,cái “xốc”(shock) vì đã đặt nhiều hy vọng nơi những vị quan thời VNCH,nếu một tổ chức dân sự nào(đồng hương,ái hữu…) chắc tôi không nói đến,nhưng đây là một tổ chức của các vị chỉ huy,nòng cốt hay nói một cách khác là giới trí thức của quân đội VNCH,tổ chức này mở đại hội ,đăng báo thư mời phổ biến khắp nơi trong tiểu bang,họ mời những Đồng Môn của họ,những người cùng chiến tuyến vào sinh ra tử với họ,những người quân nhân thường gọi cái tình đó là HUYNH ĐỆ CHI BINH ,Họ mời đến để rồi họ dùng quyền tổ chức thuê nhà hàng(nơi đại hội) để nhờ Cảnh Sát không cho những ai mà họ không thích,những người mà đối lập với họ,những người mà họ cảm thấy không phải là phe của họ. Một xã hội dân chủ là một xã hội luôn có những thành phần đối lập nhau,có đối lập mới có sự công bằng,mới ngăn ngừa được độc tài… Thế mà những người xưng là CSVSQTB Thủ Đức thể hiện tính độc tài của họ. Với những khuôn mặt hôm đó,một ông Đặng Ghi,một ông Dương Đình Long cộng thêm những “hiền thê” của các ông ấy,ông bà nào cũng thể hiện “một nổi căm hờn”,căm hờn với ai đây? Những người họ không muốn có mặt trong đại hội hôm đó là kẻ thù hay đồng môn? Nếu là kẻ thù thì những người đó đã làm gì cho ông Đặng Ghi ,cho ông Nguyễn Đồng Duy cùng các “hiến thê”??? Những người các ông cấm đó đã gieo đau thương,tang tóc cho gia đình các ông hay sao??? Còn Những người Cộng Sản thì sao??? Căm thù hay hòa giải ???

           Tôi đã quen thân với anh Phạm Văn Thận ,Trịnh Quang Minh.. Các anh là thần tượng của tôi trong những năm tháng trước đây,các anh đã kể những câu chuyện trong trại tù,sự kiên cường của sĩ quan QLVNCH,sự liêm sĩ cùng tinh thần chống lại độc tài của các anh trong tù ngục như: Không ăn chung với bọn tay sai (antenna),dù đói có thể chết nhưng không thèm cục đường,bi thuốc lào,viên thuốc ...của những thành phần đó,tôi ngưởng mộ các anh quá ,tôi nghe các anh kể ,tôi không khỏi thẹn với lòng mình,tủi thân vì thế hệ của chúng tôi không chịu đựng,hy sinh như các anh. Thế hệ chúng tôi thua xa các anh nhiều về mọi mặt ,giờ đây trong buổi đại hội đó các anh là những nhân tố tích cực ủng hộ sự độc tài đó,các anh đứng về phía tà ,tôi nói tà vì bất cứ một tổ chức nào cũng có những quy định của tổ chức đó,các anh biết Ông NĐD,Đặng Ghi đã làm quá sai thế mà các anh đứng về phía đó,những oai hùng của những năm tháng trong quân ngũ đã mất hết? Những liêm sĩ,thể diện các anh đã giử được trong trại tù nay mất hết,chỉ vì lòng ích kỷ nhỏ nhen,tôi dám kết luận như vậy bởi lẻ khi các anh gặp những người đối lập với Đặng Ghi ,họ hỏi các anh không trả lời được,khi gặp họ các anh giả nhân,giả nghĩa với những lời lẻ xảo quyệt,những lời lẻ mà các anh nói ra đáng lý để dành cho những tên cộng nô,có lẻ đến đây các anh hay những vị nào không hiểu hết câu chuyện sẽ hỏi “ Những ông đó nói gì khi gặp những người đối lập với Đặng Ghi?” Tôi đã tường trình ở trên tuy nhiên cũng cần nhắc lại để liên tục tư tưởng của quý vị. Anh Thận nói là anh nghe nói Đại Hội là anh đến để sắp bàn ghế,anh Minh nói anh đến để hòa giải ,tụi nó làm bậy quá …Còn những ông Nguyễn Trọng Nghị,Nguyễn Văn Lực với những lời lẻ của một kẻ đạo đức . Các anh đã lừa chính các anh? Những việc làm của các anh đó ,các anh có dám kể thật lại cho con các anh nghe không? Các anh có dám nói như thế này không? “Các con thân yêu của cha(ba) trong việc tổ chức đại hội vừa qua của những người làm quan thời VNCH,ba đã ủng hộ Đặng Ghi,NĐD… dù biết họ làm sai nội quy,ba cũng gặp những người bạn trước đây của ba,ba đã đánh lừa họ,đời phải lọc lừa các con ạ! Có lọc lừa mới có thành công,Hồ Chí Minh lọc lừa,thủ đoạn nên thành công.Nhân bản,đạo đức như Ông Nguyễn Thái Học,Phan Chu Trinh…Đều thất bại các con ạ! Vân vân và vân vân…” . “Quân Tử thì hòa còn Tiểu nhân thì hùa” .

           Tôi suy nghĩ,tôi ưu tư về việc làm của các ông CSVSQ Thủ Đức vừa qua,cũng như những hoạt động của các ông trong cộng đồng. Tôi nhắc lại là rất cảm phục các ông.Trong tù các ông không ngồi chung,nói chuyện,ăn chung…với bọn Antenna (bọn tay sai báo cáo với cán bộ VC) ,khiến tôi phân vân ,chẳng lẻ tụi Antenna đó quan trọng ,nguy hiễm hơn bọn liên hệ với VC,giao thương buôn bán,làm từ thiện với CSVN hay sao? Quan trọng hơn nên các anh không ngồi chung,còn bọn này không gì nguy hiễm nên các anh nhận sự bảo trợ của họ,nhận ơn mưa móc đó…Các anh có nghi ngờ những điều tôi nói về những người,những tổ chức mà các anh đứng dưới trướng đó là không thật không? Tôi vu cáo cho họ ? Những bằng chứng đã được nêu ra ở www.biamieng.com. Tôi không hồ đồ nói những thành phần đó là VC,tôi không vô liêm sĩ để vu khống cho các anh là VC,nhưng các anh cũng không thể trách tôi được khi tôi nói các anh “ ngồi chung với những thành phần liên hệ VC”.

          Quân Nguyên bắt được Tướng Trần Bình Trọng ,tướng Nguyên hỏi ông: Có muốn làm Vương đất Bắc không? Trần Bình Trọng khẳng khái trả lời : “Thà làm quỷ Nước Nam ,chứ không thèm làm vương đất Bắc.Ta đã bị bắt chỉ có một chết mà thôi ,can gì mà phải hỏi lôi thôi”. Tiền nhân chúng ta sao mà oai dũng thế! Cho làm vương mà chẳng thèm,chấp nhận cái chết vinh quang. Bây giờ một ơn mưa móc nhỏ nhoi nào đó há để mất hết sĩ tiết hay sao? Ôi! Đất nước còn lâu mới thoát cảnh điêu linh.

          Mai đây,mốt nọ khi đất nước được Tự Do,các ông này về xây dựng đất nước ,các ông này với chức vụ chủ tịch xã,phường trưởng… thì tội cho dân quá,các ông quan này chẳng thua gì VC,ở đây không quyền bính thật,không tiền nhiều (chỉ danh ảo,chút tiền còm của đại gia bố thí) mà còn như vậy đó,còn dùng những thủ đoạn của thời man khai hoặc đúng hơn là cách hành xử của chủ nghĩa Cộng Sản . Nhìn sự kiện vừa qua tôi có thể kết luận “ Chẳng thua chi Việt Cộng”, kết luận như vậy có hầm hồ không? Năm tháng cứ trôi nhanh các ông CSVSQTB Thủ Đức đã già hết ,trẻ nhất cũng xấp xỉ sáu mươi(60),sân si,thù hận,mưu mô xảo quyệt làm gì nữa,sống một cuộc sống ngay thẳng để con cháu noi theo mới là đáng quý,coi như vậy chứ những việc làm xảo trá của các ông đồng hương đều biết hết,các đồng môn của các ông đều rỏ cả,bằng chứng là cái mà các ông gọi là đại hội bất thường đó ,số tham dự vừa quay phim,đàn bà vỏn vẹn chỉ có 34 người ,trong số đó tôi biết chắc có hai người “xem các ông giở trò gì?”. Tôi chẳng nghĩ ra các ông làm như vậy rồi được gì? Phải chăng để một ngày nào đó chết đi được đám người “xà bần” đi đám cho đông? Nhưng tôi tin chắc rằng không đông bằng một Nguyễn Tấn Dũng chết,một Phạm văn Đồng chết., một sếp sòng băng đảng cướp giựt chết đi cũng nhiều đàn em đưa đám lắm chứ!Các ông có tin như vậy không? Còn câu chuyện Ông Già và biển cả ,ngư ông khi vào đến bờ con cá ông câu được chỉ còn bộ xương,không người đón rước ông ngoại trừ cậu bé đem đến cho ông một ly cà-phê,ông già quá mản nguyện với hạnh phúc đang có,câu chuyện quá cảm động để làm ngọn đuốc cho chúng ta noi theo.Ích gì những nhố nhăng của cuộc sống với đầy gian manh. Tôi suy tư về sự kiện các ông CSVSQTB Thủ Đức/WA mở đại hội bất thường,trong đại hội đó góp mặt những khuôn mặt hận thù,góp nhặt những lọc lừa trong mỗi con người,góp nhặt những bà vợ quan lố lăng bất lịch sự khi đưa những chiếc máy hình của họ lên chụp những người đến dự để nói lên sự thật … Và tôi nghiệm thấy được lý tưởng,dân chủ,tự do chỉ ở chót lưởi ,đầu môi của những người trong đại hội bất thường. Tôi xem phim “Chúng tôi là những người lính” ,sau những trận đánh ác liệt ,lính Mỹ đã thắng nhưng tổn thất không ít,vị chỉ huy nói với người phóng viên “ Tôi không bao giờ tha thứ cho tôi”,người phóng viên ngạc nhiên “ Tại sao vậy” “Vì tôi không chết trong khi họ ( lính của ông)chết” . Đẹp quá, câu nói hay quá,tôi không phải là quân nhân,tôi còn cảm động huống gì các ông phải không?Các ông không chết,các ông đang sống và đang bị sự phồn hoa làm mù mắt,đọc bài viết của bà vợ tướng Hưng các ông có thẹn lòng khi làm điều bất chính? Sự kiện vừa qua của các ông có hằng trăm ,hàng ngàn lời để nói,sự kiện này khiến tôi suy tư và viết.

           III. Kết Luận:

          Thời VNCH tôi chỉ học ở bậc tiểu học,còn quá nhỏ ,tôi chưa có trách nhiệm gì về Đất Nước,bổn phận của tôi là lo học để cha mẹ khỏi buồn,ở bậc trung học tôi học ở nền giáo dục của xã hội chủ nghĩa,nếu hôm nay đây tôi có làm sai ,lọc lừa,gian xảo,lưu manh,điếm đàng , chạy theo VC.v.v Thì tội của tôi cũng đáng được tha thứ ,còn các vị CSVSQTB Thủ Đức được hưởng nền giáo dục đầy nhân bản,các vị được đào tạo với TỔ QUỐC_ DANH DỰ _ TRÁCH NHIỆM mà quý vị gian xảo,lọc lừa, chạy theo tay sai vc,làm lợi cho vc… Thì tội này đáng xử bắn.

          Không đến nổi bi quan cho lắm bởi lẻ, CSVSQTB Thủ Đức ở tiểu bang này chắc lên đến hàng ngàn người,trong đại hội bất thường của ông Đặng Ghi chỉ có hơn 30,ngó đi,ngó lại,dòm tới ,dòm lui cũng những khuôn mặt quen thuộc đó,những khuôn mặt H.O với nón mủ nồi màu cam,những người này ở đâu cũng có,họ làm lễ chào cờ cho một tổ chức trưng bày sách vở từ Việt Nam đem qua,tổ chức này làm Lễ Tết theo Tàu(năm con Thỏ)họ không chào cờ khi khai mạc…Ôi thôi là chán,họ còn để danh lưu truyền cho con cháu bằng bộ đồ mà họ gọi là đồng phục H.O,một bộ đồ mà từ chân đến đầu là của quân đội.Trước đây tôi nghĩ là họ có ý đồ xóa bỏ những quân phục của VNCH,chúng tôi lên án họ,nay thì “Cám ơn” họ bởi lẻ tôi cũng đã nghiệm ra “ May quá nếu họ bận những bộ quân phục VNCH với những việc làm của họ trong cộng đồng thì nhục cho quân lực VNCH quá ,bây giờ họ bận bộ đồ mới của họ thì họ muốn làm gì thì làm,các ông cựu quân nhân QLVNCH khỏi lo nhục lây.”Cám ơn “những người có sáng kiến.

          Những lời nói của tôi có đánh động được lương tâm của các ông đó không nhỉ? Khó lắm,nhưng tôi vẫn nói ,nói để đồng môn của các ông biết,nói để đồng hương rỏ.Tôi ao ước những suy tư của tôi được các ông trả lời .Thành thật với nhau là tốt,không gì hơn là trực diện với vấn đề ,tôi muốn học hỏi nơi các ông xuất thân từ trường sĩ quan với những lời giải thích “Việc làm của bốn ông Đặng Ghi,Nguyễn Đồng Duy, Nguyễn Thành Khánh,Dương Đình Long đúng hay sai?”Với sự kiện xảy ra như vậy,tôi đã suy tư như thế có đúng không ? Mong các ông gọi cho tôi ,tôi sẳn sàng gặp bất cứ ai để làm sáng tỏ sự kiện đã xảy ra ,nếu các ông cho rằng những suy tư của tôi về sự kiện đó là quá hồ đồ .

           Xuân Lan

           Đ.T : (206) 551-3307

           Kính gởi đến quý vị vụ xử án luật sư Cù Huy Hà Vũ,để so sánh với “Đại Hội Bất Thường” của các ông Đặng Ghi,Nguyễn Đồng Duy,Nguyễn Thành Khánh và Dương Đình Long(không khác gì mấy.)

           Án 7 năm tù cho ông Cù Huy Hà Vũ

          Phiên tòa sơ thẩm xử ông Cù Huy Hà Vũ tội Tuyên truyền chống Nhà nước XHCN theo Điều 88 Bộ Luật Hình sự kết thúc nhanh chóng vào đầu giờ chiều hôm 04/04 tại Hà Nội.

          Tin mới nhất cho hay tòa tuyên án 7 năm tù, cộng 3 năm quản chế tại gia cho ông Vũ, chỉ nửa tiếng sau khi nghỉ ăn trưa họp lại.

          Tuy nhiên người thân của ông đặt câu hỏi về tính hợp pháp của phiên tòa, vì đồng loạt cả bốn luật sư bào chữa cho ông đã tuyên bố ngừng tham gia từ cuối buổi sáng khi yêu cầu cung cấp tài liệu của họ không được tòa đáp ứng.

          Thông tin cập nhật về phiên tòa, tuy được lưu truyền rộng rãi trên các trang mạng, không được nhắc tới trong các bản tin của báo chí chính thống.

          Các nhân chứng cho hay ngay từ sáng sớm, bên quanh Tòa án Nhân dân TP Hà Nội, nơi phiên xử diễn ra, hàng rào an ninh được thắt chặt.

          Tuy nhiên điều đó cũng không ngăn cản hàng trăm người đổ tới theo dõi phiên tòa mà một số báo chí nước ngoài nhận định là “lớn nhất Việt Nam” trong một thời gian.

          Tòa bắt đầu xử vào khoảng 8 giờ sáng, nghỉ trưa vào lúc 12 giờ và mở lại vào đầu giờ chiều.

          Hãng thông tấn Pháp AFP nói ông Cù Huy Hà Vũ đeo cà vạt đã xuất hiện trước tòa.

          Chủ tọa phiên tòa là ông Nguyễn Hữu Chính, Chánh tòa Hình sự, TAND TP Hà Nội.

          Xử công khai?

          Có bốn luật sư tham gia bào chữa cho ông Vũ.

          Sau phần đọc cáo trạng, trước khi bắt đầu tranh tụng, các luật sư nêu yêu cầu cung cấp tài liệu liên quan cáo trạng cho ông Cù Huy Hà Vũ nhưng tòa đã bác yêu cầu này.

          Bởi vậy, theo thân nhân ông Vũ có mặt bên ngoài tòa, các luật sư đã ‘ngừng tham gia’. Thế nhưng, phiên tòa vẫn được tiếp tục và tuyên án.

          Báo chí nước ngoài chỉ được cử hai đại diện tới theo dõi đưa tin phiên xử cùng một số thành viên ngoại giao đoàn.

          Báo Thanh Niên trong bản tin ngắn hôm thứ Hai nói phiên tòa diễn ra “công khai” trước sự chứng kiến của báo chí trong và ngoài nước.

          Tuy nhiên, hãng AFP đưa tin chỉ có một số ít nhà báo và nhân viên ngoại giao được vào quan sát phiên tòa qua màn hình vô tuyến với chất lượng âm thanh xấu, trong một phòng họp ở bên cạnh.

          Phóng viên của hãng này có mặt bên ngoài tòa án cũng bị mời đi.

          Những ngày gần đây, trên các diễn đàn mạng và các trang blog đã có nhiều lời kêu gọi người dân đổ tới 43 Hai Bà Trưng, địa chỉ tòa án, để ủng hộ ông Cù Huy Hà Vũ và thân nhân, trong ngày xử án mà một số tổ chức người Việt gọi là ‘Ngày V’.

          Một nhân chứng nói với BBC: “Giao thông trên phố Hai Bà Trưng (8g30-9g sáng) bị ách tắc nghiêm trọng.”

          Công an khuyến cáo đám đông bên ngoài giải tán

          Công an cũng dựng rào chắn đường xung quanh tòa án.

          Trong số những người tới theo dõi vụ xử có luật sư bất đồng chính kiến Lê Quốc Quân. Ông đã bị ngăn cản không cho đứng trong đám đông ở bên ngoài.

          Blogger Người Buôn Gió, người cũng đã có mặt tại hiện trường sáng 04/04, nói với BBC rằng ông Lê Quốc Quân đã bị công an đưa đi chỗ khác. Bản thân blogger này cũng bị cảnh báo nếu không rút lui sẽ ‘bị bắt’.

          Giới chức khuyến cáo đám đông bên ngoài giải tán về nhà.

          Chống Nhà nước

          Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà, phu nhân ông Cù Huy Hà Vũ, đã được phép vào trong phòng xử án. Tuy nhiên em gái ông, bà Cù Thị Xuân Bích, không được giấy mời để vào tham dự.

          Cáo trạng của tòa nói trong thời gian 2009-2010, ông Cù Huy Hà Vũ đã có nhiều bài viết, bài trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài và đăng tải trên mạng internet với nội dung ” tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”.

          Nếu bị xử là có tội, ông Vũ có thể lãnh án tù giam lên tới 12 năm.

          Ngay trước phiên tòa, một số giáo xứ đã tổ chức thắp nến cầu nguyện cho vị tiến sỹ luật, người đã từng trợ giúp luật pháp cho giáo dân trong một số vụ rắc rối với chính quyền.

                                      Công an dẩn Luật sư Cù Huy Hà Vũ ra tòa

          Khi một dân tộc cùng quyết tâm đòi Tự Do_ Dân Chủ

           

          Khi một dân tộc cùng quyết tâm đòi Tự Do – Dân Chủ
          Hồng Lạc

          Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.”

          Trào lưu dân chủ từ Bắc Phi và Trung Đông đang phả hơi nóng vào gáy chúng ta! Có thể dùng “ngôn ngữ bóng đá” để mô tả một thực tế đang diễn ra mà ngay cả những tờ báo nhà nước cũng không thể đứng ngoài. Sau những biến động lớn ở Bắc Phi và Trung Đông mà đỉnh điểm là hai cuộc biểu tình kết thúc khá chóng vánh ở Tunisia và Ai Cập thì khá nhiều người cho rằng, thời cơ cho một cuộc cách mạng dân chủ ở Việt Nam đang tới gần. Có nhiều bài viết liên quan đến sự kiện Tunisia, Ai Cập, Bắc Phi và Trung Đông. Có nhiều bài viết nói đến một cuộc biểu tình lớn sẽ xảy ra ở Việt Nam trong một tương lai không xa. Có nhiều bài viết nhắc đến hiện trạng phong trào dân chủ Việt Nam chưa được tổ chức tốt và có nhiều bài viết lo ngại một sự chuyển đổi không được chuẩn bị kỹ càng, không được một lực lượng đối lập đủ sức tiếp nhận. Có nhiều ý kiến so sánh một Tunisia và Ai Cập không có đối lập đủ lớn vẫn có thể thành công chóng vánh thì liệu một Việt Nam nếu xảy một cuộc biểu tình có đem lại thắng lợi và thời điểm nào là thích hợp cho sự chín muồi của một cuộc cách mạng? Đâu là nhân tố để đảm bảo sự thắng lợi? Chúng ta phải làm gì và tổ chức ra sao để một sự chuyển đổi có thể diễn ra trong thế chắc thắng? v.v. và v.v.

          Vì vậy, người viết nhận thấy không thể chậm trễ hơn để hoạch định một lối đi khả dĩ trong nhận thức chung của mọi người dân và là lúc cần đưa ra một sự nhìn nhận sát thực để có thể đánh giá thời cơ và vận hội của con đường dân chủ. Với việc để ngỏ bài viết (các bài đều có tiêu đề nghi vấn) sẽ giúp chúng ta cùng nhau bàn đến các vấn đề mà con đường dân chủ sẽ phải đối diện để từ đó, rút ra những kết luận hay tìm ra những bước đi thích hợp trong một tiến trình được chuẩn bị đầy đủ.

          I. Nền dân chủ Việt Nam sẽ đến từ đâu?

          1) Nền dân chủ Việt Nam có thể đến từ sự chuyển hóa chế độ cộng sản?

          Chế độ độc đảng cộng sản hiện nay có thể tự chuyển hóa hay không và nếu có thì nó sẽ chuyển hóa như thế nào và làm sao để nó tránh khỏi một con đường mà cũng khá nhiều quốc gia đã rơi vào khi vừa thoát chế độ độc tài lại rơi vào chế độ dân chủ giả hiệu một đảng khác Đảng Cộng Sản (ĐCS) thống lĩnh độc tôn? Để trả lời được câu hỏi này thật không dễ dàng và nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong phần này, chúng ta sẽ cùng nhau đánh giá những khả năng có thể xảy ra khi chế độ độc tài tìm con đường thoát thân khỏi vũng lầy mà vẫn giữ được những lợi thế nhất định cho họ:

          Khả năng 1: Chính quyền nới lỏng cho các lực lượng đối lập phát triển và dẫn tới một cuộc tổng tuyển cử dân chủ đa đảng.

          Có lẽ con đường này là mong muốn của nhiều người vì nó là con đường để tránh được những tổn thất cho tất cả các phía, mặc dù vậy thì trong lịch sử chưa từng xảy ra kiểu chuyển hóa này vì ĐCS thường lo sợ nếu điều này xảy ra thì ĐCS sẽ không thể cạnh tranh được với các chính đảng khác trong thế đuối do hình ảnh mà tất cả các ĐCS để lại là những vết nhơ khó xóa lấp. Thực tế thì tại một số quốc gia Đông Âu và Liên Xô cũ sau cách mạng nhung thì ĐCS vẫn hoạt động bình thường nhưng không thể đánh bại các chính đảng khác để tái lập chính quyền. Điển hình của thực tế này là lãnh tụ ĐCS Nga Duganov đã nhiều lần tranh chức Tổng thống nhưng đều thất bại. Thực tế tại Việt Nam thì hình ảnh ĐCS còn xấu hơn các đảng Marxist khác vì Việt Nam đã trải qua một thời gian phát triển kinh tế thị trường và hầu hết các quan chức đảng đều bị chìm trong cơn bão tham nhũng trầm trọng và tệ mua quan bán chức trắng trợn nên trong mắt người dân nói chung, ĐCS đồng nghĩa với một đảng xấu xa vừa đáng sợ, đáng xấu hổ vừa đáng ghét.

          Vì vậy, khả năng 1 khó xảy ra và thực tế đến tận bây giờ đã có thể khẳng định là chưa có bất kỳ tín hiệu nào cho thấy khả năng này xảy ra. Nếu tới đây Quốc hội đi tới việc sửa chữa Hiến pháp 1992 và bỏ điều 4 thì khả năng 1 vẫn còn là một bí ẩn khó đoán.

          Khả năng 2: ĐCS tự chia tách thành hai đảng theo hai nhóm cấp tiến và bảo thủ, nhóm cấp tiến sẽ lấy tên khác và từ bỏ chủ nghĩa Marx–Lenin, phát triển lực lượng và cạnh tranh với ĐCS.

          Khả năng 2 trùng với suy nghĩ của một số các vị lão thành cách mạng muốn có sự “đa nguyên” để tránh độc tài nhưng ngại đặt ra vấn đề mất – còn của ĐCS, tuy nhiên nếu suy xét thì thấy khả năng 2 tồn tại nhiều vấn đề khiến cho ĐCS né tránh hoặc con đường dân chủ sẽ phát triển theo xu hướng cực đoan, phi dân chủ (dân chủ giả hiệu) sau:

          Nếu ĐCS tách thành hai thì cũng đồng nghĩa với việc cho phép đa nguyên chính trị, điều này đồng nghĩa với việc ĐCS sẽ phải cho phép thành lập các đảng phái khác ngoài ý muốn của họ, điều mà ĐCS đang lo sẽ dẫn tới mất độc quyền kiểm soát quốc gia. Vì vậy, nếu ĐCS chọn xu hướng này cũng có nét tương đồng với khả năng 1 nhưng ĐCS chủ động hơn trong việc khởi đầu con đường dân chủ đa nguyên – đa đảng.

          Nếu cho phép tách đôi thì ĐCS sẽ nhanh chóng trở nên lép vế trước “nửa đối lập” kia và về phía nửa đối lập mới chia tách sẽ có thể trở thành một dạng như đảng Nước Nga thống nhất của ông Putin hay đảng Nhân dân Campuchia của ông Hun Xen .v.v. và đảng này sẽ trở thành một đảng thống soái xã hội và gây sức ép lên đời sống chính trị quốc gia và kết quả là đất nước vẫn không có được dân chủ và các tệ nạn xã hội do các đảng viên ĐCS gây ra vẫn tồn tại lâu dài và con đường dân chủ của đất nước sẽ còn kéo dài không biết đến bao lâu.

          Nếu tách đôi thì giới chóp bu ĐCS vẫn có thể thống lĩnh cả hai đảng, trong khi đó, họ chưa hề được trang bị những kiến thức dân chủ nên các đảng này khó từ bỏ con đường đã dẫn đất nước đến sai lầm. Mặt khác, khi một đảng phái tách ra từ ĐCS, sẽ có nhiều người dân xin gia nhập vào đảng mới này và sẽ khiến cho đảng mới thành lập chiếm thế áp đảo, làm mất sự đối trọng cần thiết cho một trật tự chính trị dân chủ cần có sau khi chuyển đổi.

          Khả năng 3: Một số nhân vật chủ chốt trong ĐCS liên kết và thoả thuận ngầm làm một cuộc chính biến tương tự Liên Xô năm 1991, điều này dễ xảy ra nhất khi đất nước bị rơi vào trì trệ sâu không thoát ra được khiến người dân oán thán gây áp lực cao lên ĐCS. Tình hình Việt Nam sắp tới có nét giống Liên Xô những năm 1985-1990 (giai đoạn cải tổ trước đảo chính) khi ĐCS tìm cách nới lỏng sự kiểm soát tập trung của Đảng và nhà nước trong một số lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội (ở Việt Nam chưa thể hiện rõ như ở Liên Xô). Về tự do hóa ngôn luận mà Liên Xô đã áp dụng thì vẫn còn là điều chưa thể dự đoán ở Việt Nam. Về bầu cử cạnh tranh và tiến đến loại bỏ sự can thiệp của các cơ cấu đảng vào kinh tế và một số mặt của đời sống chính trị xã hội đã được Liên Xô thực thi trong giai đoạn này thì ở Việt Nam đang hô hào trước kỳ bầu cử quốc hội sau đại hội XI của ĐCS. Nhưng những nỗ lực cải cách của Liên Xô đã không thu được kết quả như mong đợi và một cuộc đảo chính đã xảy ra ở Liên Xô vào năm 1991. Với những diễn biến chính trường Việt Nam thì nếu khả năng này xảy ra sẽ theo hai kịch bản sau:

          a) Nền chính trị sẽ dễ dẫn tới một sự lệch cực, các thành viên chóp bu của ĐCS sẽ trở thành những Yeltsin, Putin… của Việt Nam và nhanh chóng thiết lập một trật tự mới mà không có ai bị trầy da trốc vảy gì cả, bộ mặt mới của thế chế có vẻ giống dân chủ được tạo nên giống một hình chiếu từ phiên bản cũ, các chính đảng khác có thể ra đời nhưng không thể cạnh tranh với đảng vừa thoát thai từ ĐCS.

          b) Các thành phần cấp tiến chiếm ưu thế và thực hiện một lộ trình dân chủ thực sự tương tự như các quốc gia Đông Âu. Điều này khó xảy ra ở Việt Nam hơn do phe bảo thủ vẫn mạnh hơn phe cấp tiến và điều quan trọng là đa số họ đều đã nhúng chàm và lo sợ sẽ bị “dính đòn hồi mã thương” nếu chính biến hướng tới một nền dân chủ thực sự.

          2) Nền dân chủ VN đến từ phong trào dân chủ của nhân dân

          Phong trào dân chủ được hiểu là từ trào lưu trải rộng và không ngoại trừ bất cứ thành phần nào của xã hội, nó xuất phát từ trong nước hay từ nước ngoài, nó đến từ ước vọng của những người dân bình thường cho đến mong muốn thoát khỏi vũng lầy giả dối của chính những người cộng sản. Nó là hệ quả của bất cứ chế độ cai trị độc tài nào và chế độ độc tài càng hà khắc bao nhiêu càng khiến cho khát vọng dân chủ của mọi người dân càng lớn bấy nhiêu. Vậy, đâu là những khả năng có thể xảy ra mà điểm xuất phát là từ phong trào dân chủ, chúng ta sẽ cùng xem xét các khả năng và những giả định theo chủ quan của người viết.

          Khả năng 4: Một số tướng lĩnh quân đội và nhiều vị lão thành cách mạng, nhiều nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ cùng ký vào một bản kiến nghị Quốc Hội cho phép lập một đảng (ví dụ) Đảng Dân Chủ Xã Hội (ĐDCXH) bên cạnh ĐCS, đảng này chủ trương một nước Việt Nam tự do, dân chủ và bình đẳng. Số người ký vào bản kiến nghị lên tới hàng chục, sau đó tăng lên hàng trăm ngàn người.

          Sau đây là những giả định:

          Một bản “thỉnh nguyện thư” cho phép thành lập ĐDCXH tương tự như “kiến nghị dừng dự án khai thác bauxite (cả hai năm 2009 và 2010 lên tới 5-6 ngàn chữ ký)” được khỏi xướng từ một hay một số trang mạng như boxitvn, DanLuan, ĐCVonline… chẳng hạn nhưng lại được hưởng ứng rầm rộ và số chữ ký tăng nhanh.

          Một số tờ báo như báo điện tử ĐCSVN, QĐND, CAND, ANTG.v.v. lên tiếng phản bác và kêu gọi ĐCS mạnh tay với những kẻ “lợi dụng quyền tự do dân chủ”, “những kẻ phản động”.

          Trước yêu cầu khó chối từ vì nó phù hợp với hiến pháp nước CHXHCNVN, Quốc Hội với gần 100% đảng viên ĐCS chọn giải pháp im lặng.

          Mặc dù không được chấp thuận thì ĐDCXH được thành lập vào một ngày đẹp trời trên cơ sở của một bản cương và những người ký vào bản thỉnh nguyện thư (TNT) sẽ trở thành những đảng viên ĐDCXH.

          Con số đảng viên mới ngày càng đông, một số đảng viên ĐCS trả thẻ đảng và xin gia nhập ĐDCXH.

          Một số người dân cũng bắt đầu xin phép lập đảng phái khác theo như những gì mà ĐDCXH đã làm.

          Một xã hội đa nguyên chính trị hình thành nhanh chóng.

          ĐCS họp phiên bất thường quyết định thay đổi số phận của đảng bằng cách đổi tên, từ bỏ chủ nghĩa Marx–Lenin và con đường XHCN.

          Trước yêu cầu của ĐDCXH và một số đảng phái khác, một cuộc tổng tuyển cử đã diễn ra với sự giám sát của Liên Hợp Quốc, đánh dấu một chặng đường dân chủ của đất nước.

          Khả năng 5: Một cuộc biểu tình trong cả nước được bắt đầu từ một cuộc biểu tình cỡ vài ngàn người tại Hà Nội, Đà Nẵng hoặc Sài Gòn… sau đó lan nhanh trong cả nước.

          Sau đây là những giả định:

          Trên mạng internet và điện thoại di động (ĐTDĐ), nhiều tin nhắn được truyền đi kêu gọi xuống đường tiếp sức cho cuộc biểu tình.

          Chính quyền cho lực lượng an ninh truy bắt một số người, một số vụ đụng độ xảy ra khiến một số người bị thương hoặc tử nạn, đoàn biểu tình đưa nạn nhân (hoặc quan tài) tiến thẳng về UBND các thành phố lớn.

          Lực lượng an ninh được tăng cường với hơi cay, bom xăng, vòi rồng để chặn đoàn biểu tình.

          Lực lượng dân chủ bắt đầu phát đi tuyên bố “ngày xuống đường vì dân chủ, chống tham nhũng độc tài”.

          Ngày “xuống đường vì dân chủ, chống tham nhũng độc tài” được hưởng ứng rộng khắp cả nước, trên khắp các nẻo đường ở Hà Nội, Hải Phòng, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Sài Gòn, Cần Thơ v.v., hàng trăm ngàn người tràn xuống các ngả phố trung tâm giương cao các biểu ngữ đòi tự do, dân chủ, chống độc tài đảng trị, chống tham nhũng, đòi quyền bầu cử dân chủ, đòi bọn tham nhũng và bọn tham quyền cố vị từ chức và trao quyền cho nhân dân…

          14 thành viên Bộ Chính Trị ĐCS họp khẩn cấp, nhiều ý kiến được đưa ra khá xung đột, một số ý kiến chọn giải pháp nói chuyện với đoàn biểu tình, một số ý kiến chọn giải pháp răn đe bằng việc huy động xe tăng và thiết giáp.

          Sau cuộc họp của Bộ Chính Trị, giải pháp đưa ra là điều động các binh chủng tăng – thiết giáp án ngữ các lối vào trung tâm các thành phố lớn, sẵn sàng chờ lệnh. Bộ Thông Tin và Truyền Thông (4T) được phép gây tắc nghẽn mạng internet và dịch vụ tin nhắn trên ĐTDĐ.

          Tổng thống Mỹ và một số nguyên thủ ở Châu Âu và Tổng thư ký Liên Hợp Quốc ra lời kêu gọi lãnh đạo Việt Nam hãy tôn trọng ý kiến người dân để thực thi một nền dân chủ. Các vị nguyên thủ của hầu hết các quốc gia trên thế giới (ngoại trừ Trung Quốc, Cu Ba, Bắc Hàn, Lào, Campuchia và một số các quốc gia còn dưới ách độc tài) lên tiếng ủng hộ cuộc xuống đường của người dân Việt Nam đòi tự do và dân chủ, đòi quyền con người và chống tham nhũng.

          Lực lượng quân đội có xu hướng đứng về phía nhân dân để đòi quyền tự do dân chủ, họ không thể bắn vào đồng bào ruột thịt của mình, họ sẽ đứng về phía nhân dân.

          Bộ Chính Trị ĐCS họp phiên khẩn thứ hai để tìm cách đối phó tình hình, lệnh giới nghiêm ở các thành phố lớn được ban bố.

          Người dân bất chấp lệnh giới nghiêm, thậm chí càng nhiều người đổ xuống đường vì đây là cơ hội đem lại cuộc sống tự do, chống lại bọn tham nhũng hại dân hại nước.

          Bộ Chính Trị ĐCS họp phiên thứ ba ra tuyên bố sẽ thương lượng với người dân, hứa sẽ thay đổi hiến pháp, tổ chức bầu cử “dân chủ”.

          Người dân không chấp thuận lời kêu gọi giả dối đó, họ đòi ban lãnh đạo ĐCS từ chức để mở ra một cuộc tổng tuyển cử công bằng.

          Tóm lược:

          Trên đây là 5 khả năng có thể xảy ra cho một cuộc chuyển hóa dân chủ Việt Nam. khả năng 4 có nét tương đồng với khả năng 1 nhưng có những khác biệt. Ở khả năng 4 thì phe dân chủ đã chủ động thực hiện một phong trào đòi đa nguyên chính trị sau đó thì ĐCS mới thay đổi theo, còn khả năng 1 thì ĐCS bắt buộc phải mở cửa cho đa nguyên chính trị ra đời để có thể cứu vớt ĐCS. Câu hỏi được đặt ra ở đây là liệu ĐCS còn đủ tỉnh táo để chọn một lối thoát cho mình trước khi họ có thể bị đánh đổ bởi khả năng 5 hay khả năng 3 trong sự xem xét để né tránh xảy ra khả năng 2 hay không?

          Chuyển hóa dân chủ ở Việt Nam là tất yếu sẽ xảy ra theo bất cứ khả năng nào nói trên. Để tránh sự trả giá bằng máu và sự huỷ hoại kinh tế, văn hoá và để con đường dân chủ có thể tới nhanh nhằm thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, ĐCSVN cần có những quyết định chính trị kịp thời và phù hợp với xu thế của thời đại. Về phía những con người đang mong muốn đất nước đổi mới thực sự, muốn một đất nước tự do dân chủ và minh bạch, muốn đất nước nhanh chóng thoát khỏi những thảm hoạ khôn lường về chính trị, kinh tế, quốc phòng, giáo dục, đạo đức xã hội v.v. hãy hành động sáng suốt và kịp thời, hãy gác bỏ mọi ý nghĩ ngờ vực và chia rẽ, hãy vì chính cuộc sống của những người dân khốn khổ để cứu nguy cho dân tộc. Lịch sử sẽ không chờ đợi ai nếu người đó chần chừ.

           II. ĐCSVN có dễ dàng chủ động con đường dân chủ?

          Xin nói ngay là không và không! Vậy, lý do nào khiến cho ĐCS không thể chủ động con đường dân chủ đúng nghĩa (không phải là con đường biến thể từ độc tài cộng sản sang độc tài phi cộng sản bằng cách chia tách đảng hay làm một cuộc chính biến). Để thấu rõ câu trả lời này, chúng ta cần mổ xẻ tất cả các yếu tố tạo nên nhận định nói trên:

          1) ĐCSVN luôn chống lại những diễn biến theo xu hướng dân chủ và họ coi những diễn biến này là “tự diễn”, “diễn biến hòa bình”, là “cách mạng màu”, “cách mạng nhung”. “Chiến lược chống diễn biến hòa bình” đã trở thành một cụm từ có trong mọi tài liệu của Đảng. Sau đại hội XI, ông Trương Tấn Sang, Thường trực Ban Bí Thư, người dự kiến sẽ ngồi vào chiếc ghế Chủ tịch nước còn dành hẳn một bài viết dài nói về vần đề này. Vì vậy, khi đã coi là “đảng sách” là tránh phải “tự sát” thì ĐCS sẽ không dễ dàng từ bỏ “chiến lược” mang màu sắc phản dân chủ này.

          2) Mô hình tổ chức của ĐCS là không cho ai có một thực quyền tuyệt đối có tiếng nói quyết định, kể cả Tổng Bí Thư, mọi vấn đề lớn nhất đều do biểu quyết của một tổ chức (đảng trong đảng) là Bộ Chính Trị và trong trường hợp nếu hai phần ba trong số 14 UVBCT đồng ý thì vấn đề cũng chưa hẳn đã ngã ngũ, vì vậy, nếu một vài ý kiến nêu ra việc chuyển hóa theo xu hướng của “tự diễn” thì họ sẽ “dính đòn hồi mã thương” ngay lập tức nên cách tốt nhất là cứ “vũ như cẩn” mà làm. Lịch sử đã chứng kiến một số UVBCT phải lập tức ra đi vì đề đạt con đường đa nguyên chính trị như Nguyễn Cơ Thạch, Trần Xuân Bách.

          3) Trong một thể chế đảng lãnh đạo toàn diện như hiện nay và Bộ Chính Trị được coi là một ông “vua tập thể” thì những lợi thế đang cho 14 UVBCT mọi quyền hành tuyệt đối đi đôi với quyền lợi sát sườn không dễ gì buộc họ phải nhường cho ai khác “quyền lực là thứ ma túy khó cưỡng”. Vì vậy các ông “vua tập thể” sẽ chỉ nói không và không với việc họ bị san sẻ quyền lực, bị đe dọa mất đi quyền lực cũng như gián đoạn quyền lực do có sự cạnh tranh chính trị và chiêu bài về công trạng của riêng ĐCSVN trong việc dành độc lập từ Thực dân Pháp, Đế quốc Mỹ vẫn là cái tấm lá bùa hộ mệnh thường xuyên được sử dụng một cách có ý đồ, có tổ chức, có bài bản và bản thân người viết đã từng nghe một người cùng cơ quan nói ra khi anh tham dự lớp học đối tượng ĐCS tại Học viện Hành chính Quốc gia, đường 3-2 Sài Gòn, nguyên văn như sau: “Ông thầy dạy lớp đối tượng nói có lý, chẳng lẽ ĐCSVN dành được chính quyền nay lại trao cho người khác”. Tương tự lời ông Đinh Thế Huynh, UVBCT, Tổng biên tập báo Nhân Dân:

          “Ở Việt Nam không có nhu cầu đa nguyên, đa đảng và dứt khoát không đa nguyên đa đảng. Bởi một lẽ đơn giản, chúng tôi đã từng thử nghiệm đa nguyên đa đảng thông qua cuộc tổng tuyển cử năm 1946, với nhiều đảng tham gia Quốc Hội. Nhưng đến khi thực dân Pháp quay lại xâm lược nước tôi thì chỉ có Đảng Cộng sản cùng với nhân dân Việt Nam chiến đấu chống lại và giành thắng lợi trước thực dân Pháp. Và nay, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn đang tiếp tục lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc”.

          4) ĐCSVN chủ trương thực hiện dân chủ XHCN, nhà nước pháp quyền XHCN mà thực chất là kiểu dân chủ trá hình, dân chủ giả hiệu, dân chủ mị dân cao siêu. Thực chất thứ dân chủ mà ĐCS đang thực hiện chỉ là “Bộ Chính Trị chủ” nằm trong “dân chủ trong đảng” giả hiệu và pháp quyền XHCN với “giam giữ không cần án”, “xử kín”, “án bỏ túi”. Vì vậy, khi đã đi theo một dạng thức được định hình như vậy thì việc thay đổi về mặt nhận thức là không tưởng và ĐCSVN “đâm lao cứ phải theo lao” là điều nằm trong tầm nhận thức chung của họ.

          5) ĐCSVN đã chìm sâu vào tham nhũng thể chế có hệ thống và nạn mua quan bán chức len lỏi từ cấp cơ sở đến trung ương, điều này làm cho họ ý thức về việc phải trả giá nếu đất nước có được dân chủ và minh bạch. Khi đó, khối tài sản khổng lồ sẽ bị các tổ chức tài chính, các ngân hàng nước ngoài phong tỏa trong khi họ chưa kịp tẩu tán an toàn. Mặt khác, quyền lợi con em, gia tộc dự kiến sẽ tiếp nối sợi chỉ đỏ gắn liền với chức quyền của họ và sự tồn tại của thế chế sẽ bị mất. Vì vậy, ĐCSVN bắt buộc phải nói không với dân chủ và minh bạch.

          6) ĐCSVN đã lún sâu vào sai lầm trên mọi phương diện quản lý nhà nước và xã hội. Chính sai lầm sẽ chỉ đẻ ra sai lầm thêm vì khi sai lầm, họ sẽ cố bưng bít thông tin, bưng bít dư luận, khi càng bưng bít thì những sai lầm, thiếu sót, sự bất hợp lý, sự thiếu khoa học, sự vô trách nhiệm sẽ có cơ hội ngoi lên cao và chính những điều này lại làm cho họ càng phải bưng bít nhiều hơn nữa, cứ vậy, cái vòng kim cô xoay tròn ngày càng thắt chặt làm cho ĐCSVN chẳng những không bớt đi sai lầm mà còn sai lầm nhiều hơn và trầm trọng hơn và vì vậy, việc mở rộng dân chủ sẽ bị từ chối vì trong vòng xoáy của sự sai lầm, sẽ không có chỗ cho cái tốt và cái thiện.

          7) Châm ngôn có câu “con khóc mẹ mới cho bú”. Đòi hỏi dân chủ thường xuất phát từ những người dân gây nên áp lực lên chính quyền buộc chính quyền phải nhìn nhận quyền lợi của người dân và trao trả quyền lợi cho họ nhưng trong điều kiện người dân Việt Nam bị bịt tai, che mắt, bị cách ly, chia tách và thông qua hệ thống tuyên truyền đồ sộ một chiều nhằm ru ngủ, nhồi sọ, làm hoa mắt. Với hệ thống triết lý, tư tưởng rập khuôn, bó buộc chỉ trong mớ thuyết lý Marx–Lenin đã bị lịch sử đào thải thì người dân Việt Nam đa phần bị ngu hóa. Họ luôn sống trong nỗi lo sợ và phải e dè khi nói lên chính kiến của mình vì với các điều luật 88 và 79 Bộ Luật Hình Sự, sẵn sàng nhốt bất cứ ai nói và viết ra những điều mà họ cho là tốt cho đất nước. Trong điều kiện đó thì những đòi hỏi hầu như là phân tán và yếu ớt và ĐCS dễ dàng phủ tấm màn nhung đẹp đẽ che đậy cái hũ “dân chủ XHCN” thối hoắc của họ.

          8) Trong thời đại hội nhập và toàn cầu hóa, Việt Nam đang tham gia vào tất cả các tổ chức quốc tế, điều này giúp nền kinh tế phát triển, đời sống người dân đỡ hơn trước nhưng nó lại làm giảm vai trò gây áp lực đối với VN của Liên hợp quốc, các chính phủ dân chủ, các tổ chức quốc tế đang tài trợ và làm ăn với VN và cộng đồng kiều dân VN ở nước ngoài để buộc chính quyền VN phải có sự thay đổi theo hướng dân chủ.

          Đó là 8 lý do để có thể khẳng định là ĐCSVN sẽ không chủ động đưa đến một con đường dân chủ đúng nghĩa và con đường dân chủ của Việt Nam sẽ chỉ có thể được tạo nên bằng một cuộc chính biến hay từ chính người dân tự đứng lên dành lấy. Điều này cho phép chúng ta loại ra ngoài những ý nghĩ mong muốn cho một sự đổi thay tốt đẹp được chính những người cộng sản.

          Hồng Lạc


          MỘT LẦN GẶP GỠ

          MỘT LẦN GẶP GỠ

           Nguyễn Quốc Hùng

           Một lần gặp gỡ ông Trịnh Quanh Minh(TQM) ở khu Phước Lộc Thọ (Seattle), chúng tôi trao đổi một số vấn đề về cái được gọi là ĐẠI HỘI BẤT THƯỜNG của hai người Đặng Ghi và Nguyễn Đồng Duy. Thiết nghĩ nên viết lại đây để mọi người quan tâm cùng biết.

          Hôm đó có việc cần ghé vào khu thương Phước-Lộc-Thọ(PLT) tôi trông thấy Ô. TQM đang băng qua đường hướng về đúng nơi tôi đâu xe. Chờ Ô Minh đến sát bên, tôi mở cửa bước xuống xe. Ô Minh thấy tôi thì dừng lại bắt tay và nói:

          - À! Hùng khỏe không?

          - Chào anh! Tôi khỏe chứ, có gì đâu mà không khỏe. Tôi có điều muốn nói là các anh đã hành xử tệ quá. Sao lại đuổi chúng tôi ra khỏi phòng Hội không cho tham dự?

          - À! Cái này tôi không biết. Tôi có ở trong ban tổ chức đâu mà có quyền đuổi hay không?

          - Đúng, nhưng anh là một trong 28 người viết BẢN TÂM THƯ kêu gọi mọi người ngồi lại với nhau và hòa giải cơ mà?

          - Thì đúng vậy nhưng tôi và Phạm văn Thận chỉ đến với tư cách tham dự theo lời mời của BTC. Với lại tôi đã ra khỏi Hội Thủ Đức thì làm sao có ý kiến gì được.

          - Anh giải thích như vậy tôi thấy không đúng. Trước hết, chúng tôi ghi nhận một điểm son cho 28 vị đăng lời kêu gọi này. Các vị có lòng muốn mọi đồng môn quan hệ với nhau trong tình anh em, dẹp bỏ những bất đồng để cùng sinh hoạt. Các anh dù không còn là hội viên của Hội mà nghĩ được như vậy là điều tốt. Tuy nhiên sự việc không phải như thế vì nếu có lòng thật sự thì tại sao khi tham dự ĐẠI HỘI BẤT THƯỜNG(ĐHBT) mà các anh không có nổi lấy một ý kiến phản đối hành vi đuổi chúng tôi? Chúng tôi chấp nhận đối thoại và tất nhiên chúng tôi tôn trọng Bản Nội Quy của Hội, chúng tôi biết tôn trọng điều lệ ĐHBT của Đặng Ghi(ĐG) và Nguyễn Đồng Duy(NĐD). Các anh tham dự với tư cách gì? Sự việc đúng sai tất nhiên khi chưa nghe đủ từ hai phía thì không thể nói đúng sai ở đâu. Nhưng hành vi đuổi chúng tôi ra khỏi ĐHBT và có dán bên ngoài cửa vào một thông báo danh sách tên những người không được tham dự ĐHBT, đó là một hành động hoàn toàn không mang tính chất TÌNH NGHĨA ĐỒNG MÔN gì hết, qua đó có thể nhận biết được phải trái ở bên nào. Các anh giữ im lặng, đồng tình với những lời lẽ kết tội 6 người trong số còn lại của 4 Cơ Chế Lãnh Đạo Hội, các anh chấp thuận bầu bổ sung những vị trí ủy viên khiếm khuyết theo lời để nghị của ĐG và NĐD, vậy điều đó chứng tỏ các anh chẳng có TÂM gì hết mà chỉ là những người đồng chủ trương với 2 tên ĐG và NĐD phá Hội Thủ Đức mà thôi.

          - Tôi không như vậy, ông cứ hỏi Ô Nguyễn Đình Lãng là ông Nguyễn Trọng Nghị đã nói gì với ông Lãng…

          - Không anh Minh, tôi không cần biết những gì mà các anh nói với chúng tôi ở bên ngoài ĐHBT, những việc các anh làm trong ĐHBT lúc đó đủ cho chúng tôi biết các anh là ai. Ông Nguyễn Đình Lãng đã trả lời phỏng vấn của báo Bia Miệng rất ngắn gọn và tóm tắt bằng câu: “đó chỉ là lời lẽ của một vở HÀI KỊCH RẺ TIỀN”. Tôi cũng đồng ý với nhận xét của Ô Lãng. Trưóc khi ĐHBT của ĐG và NĐD tiến hành, ông Hà Thúc Ưa có gọi phone cho tôi vào lúc 10 giờ đêm, ông Ưa hỏi tôi về thông báo ĐHBT đăng trên các báo NVNN và PĐ, ông ra vẻ ngặc nhiên(sic). Tôi đã trả lời ông Ưa là tôi không biết gì về cái gọi là Đại Hội đó, tuy nhiên tất cả những gì xảy ra cho Hội thì chúng tôi đã đưa lên Bản Tin của Hội đầy đủ và rõ ràng, Bản Tin của Hội cũng đã gửi qua bưu điện cho anh Ưa, dù chính anh Ưa đã tự tuyên bố từ nhiệm và ra khỏi Hội ngay trong buổi họp vì bất mãn NĐD dám chê anh Ưa đã vô trách nhiệm, không tích cực bán vé trong việc tổ chức Tết 2010. Có nghĩa là anh Ưa đã không còn là Hội viên của Hội từ đần năm 2010, nhưng chúng tôi vẫn gửi Bản Tin đến để anh biết tình hình của Hội, anh Ưa còn nói là chúng nó đòi đâm là đâm cho lút cán nữa. Nay anh Ưa tham dự ĐHBT và nhận là Ủy Viên BLĐ của Hội, đồng thời anh phát biểu:” Tôi nhận lời với điều kiện là các anh không được bút chiến với họ(tức là chúng tôi) vì họ không xứng đáng để chúng ta nói tới)!!! Đó là lý do tôi cùng nhận xét như Ô Lãng…Lời lẽ của vở HÀI KỊCH RẺ TIỀN.

          Còn nữa, ông Nguyễn Thành Khánh một Uỷ viên BLĐ, bệnh nằm nhà cả hơn năm trời không sinh hoạt với Hội, không biết gì về những biến động trong Hội, khi ĐG đến rỉ tai nói những điều láo khóet về những người mà ĐG và NĐD muốn loại để dễ bề chiếm đọat Hội thì Ô. NTK vội cả tin và hùa theo ngay. Đến khi Huỳnh Kim Anh nói cho Ô. Khánh biết sự thật thì Ô. Khánh tức giận và đòi HKA phải gửi những tài liệu đó cho Ô. Khánh đọc, nếu đúng là như thế thì Ô. Khánh sẽ gọi phone chửi NĐD. Trước ĐHBT Ô. Khánh có nói với ông Lãng(một người giúp đỡ và gánh vác cho ông Khánh nhiều việc khi ông Khánh làm Chủ Tịch Hội):” anh cứ để tôi lo, tôi phải đi với bọn nó để không cho chúng nó làm bậy”. Thế mà hôm nay, ông Khánh ngồi bàn chủ tọa ĐHBT với miệng câm như hến và còn hùa theo ĐG và NĐD. Đừng quên rằng khi chúng tôi bị người cảnh sát do ĐG và NĐD thuê đuổi ra thì ông Vũ Trung Bình chỉ mặt Ô. Khánh hỏi:” Anh có còn là đồng môn với tôi nữa không?” Khánh cúi đầu im lặng. Ông Đặng Phùng Diễm trên đường ra khỏi hội trường gặp Khánh đứng dậy chào:” chào niên trưởng”. Ô, Đặng Phùng Diễm cũng chỉ mặt Khánh nói:” Bây giờ tôi mới biết mặt thật của anh”. Khánh cũng lại cúi đầu cười gượng. Như thế có đúng là những lời và cảnh của vở HÀI KỊCH RẺ TIỀN CHƯA?

          Qua anh, tôi xin nhờ anh chuyển lời của tôi đến ông Mai Hoàng Tổng là tôi rất khinh những việc ông Mai Hoàng Tổng làm. Ngày xưa khi Hội Thủ Đức mới thành lập và ra mắt xong. Trong một lần tham dự ngày 19-6-2003(?) tôi đi qua mặt hai người đang nói chuyện với nhau, bước chưa qua khỏi họ, tôi nghe có người nói:

          - Ông này cũng là Thủ Đức(lúc đó tôi có đeo một huy hiệu của Trường Bộ Binh Thủ Đức trên ve áo).

          Tôi ngừng lại và quay lại hỏi người vừa nói:

          - Chào anh, vâng tôi xuất thân từ Trường Thủ Đức. Anh cũng đã học ở Trường Thủ Đức phải không?

          - Đúng tôi khóa 25(?)

          - Vậy Huynh Trưởng có gia nhập Hội Thủ Đức chưa, nếu chưa thì xin mời Huynh Trưởng gia nhập Hội, chúng mình cùng sinh hoạt cho vui.

          - Anh hãy về hỏi Chủ Tịch Võ Tấn Kha của anh thì biết tôi là ai. Mà anh hãy cho tôi biết anh chơi với ai thì tôi biết anh là ai (sic).

          Tôi thật sự bị choáng khi nghe câu hỏi này. Thông thường cùng trường hợp, ai đó khi nghe câu hỏi này thì phải hiểu đó là một câu chửi. Tôi đủ sức hiểu ý của Ô Mai Hoàng Tổng(MHT), nhưng tự xét tôi chưa bao giờ biết ông MHT là ai và có thù gì với ông Võ Tấn Kha mà lại thù lây cả qua tôi và cả Hội Thủ Đức mới lập, cho nên tôi trả lời ông MHT:

          - Vâng, nếu tôi cho anh biết tôi chơi với những người xuất thân từ Thủ Đức thì sao?

          Ông MHT ú ớ:

          - Ờ…thì tôi không có ý kiến.

          Sau đó tôi có hỏi Ô. Võ Tấn Kha người mà tôi vừa tiếp xúc là ai thi được Ô. Kha cho biết đấy là MHT. Ô. Kha cũng nói thêm là MHT có nhận lời làm một bản tin cho Hội nhưng chẳng ra làm sao nên tôi vất vào thùng rác, bây giờ hắn thù tôi đó mà(!).

          Mấy năm sau, ông MHT gia nhập Hội TĐ. Gặp lại tôi trong một buổi sinh hoạt của Hội. Chúng tôi bắt tay chào hỏi nhau vui vẻ, tôi có nói với ông MHT :

          - Anh còn nợ thằng em này một câu nói…nhưng thôi bây giờ không đòi nợ anh nữa.

          Ông MHT có hỏi là nợ gì. Tôi chỉ cười rồi chúng tôi bỏ qua.

          Nhưng hôm nay, ông MHT đã làm những điều mà một người tử tế không làm. Trước và sau ĐHBT của ĐG và NĐD ông MHT đã gọi điện thoại cho ông Nguyễn Đình Lãng và Ông Vũ Trung Bình với những lời lẽ như thiết tha xây dựng Hội ghê lắm, tử tế lắm…Để rồi lại cùng đứng chung hàng ngũ với những người không TỬ TẾ…Bây giờ tôi trả lại ông MHT câu hỏi năm xưa:” ông MHT chơi với ĐG và NĐD nên tôi biết ông MHT là ai…người không TỬ TẾ”.

          Ông TQM nói:

          - Hai thằng chúng nó(ĐG và NĐD) đã tự tách ra, vậy thì các ông cứ củng cố lại và các ông lập một Hội khác mà chơi.

          Tôi trả lời ông Minh:

          - Không anh Minh. Chỉ có duy nhất một Hội Thủ Đức ở Tiểu Bang Washington này mà thôi. Chúng nó lưu manh và được tiếp sức bởi các anh, chúng nó đã dùng tới biện pháp BÁ ĐẠO để cướp Hội. Ngày xưa Ô. Vũ Thành Sử có nói:”…Hội Thủ Đức chẳng là cái gì đối với tôi…” Tôi đã bất mãn ông Sử vì câu nói đó! Nhưng hôm nay tôi thấy ông Vũ Thành Sử nói đúng. Hội Thủ Đức không là cái gì đối với tôi…Tôi chẳng cần những chức vụ của Hội Thủ Đức…Tôi không cần phải có Hội Thủ Đức mới làm NGƯỜI. Bây giờ hai thằng chúng nó dùng phương cách BÁ ĐẠO cướp Hội rồi, chúng nó cứ giữ mà “xài”, những ai đứng bên cạnh chúng nó thì cũng chẳng bao giờ là NGƯỜI  được. Câu nói sau cùng để nói với anh: TÔI TỞM LỢM NHỮNG THỨ ĐÓ. Không bao giờ tôi đứng chung hàng ngũ với bọn họ nữa, bây giờ họ đã đi con đường khác, họ chống lại LẬP TRƯỜNG 4 KHÔNG CỦA HỘI, họ chấp nhận là tay sai cho bọn tay sai của CS và đem bảng hiệu Thủ Đức đi vào con đường của họ!!!

          - À, mà anh đã đọc báo Bia Miệng chưa? Có một bài viết về ĐHBT của ĐG và NĐD, tác giả là Xuân Lan, viết hay lắm.

          - Vậy à, tôi chưa đọc.

          - Trời ơi ! Báo phát hành rồi, có đầy cả đây này. Để tôi xem nếu trong tiệm in còn tôi lấy cho anh đọc. Mà anh biết Xuân Lan là ai không ?

          - Không, là ai vậy ?

          - Là thằng  Ý em của Kim Anh đấy.

          - Oh! Tưởng ai, tôi coi nó như em.

          - Đúng rồi, nó có nói với tôi : «  Em phục anh Trịnh Quang Minh và anh Phạm Văn Thận lắm. Qua những lời kể của các anh ấy về những hình thức đấu tranh khi còn trong lao tù của CS, em đã kính phục các anh ấy. Em đã có lúc nhận các anh ấy là thần tượng của em…Bây giờ khác rồi…Thần tượng của em đã sụp đổ ! ».

           Cuộc gặp gỡ ông Trịnh Quang Minh xảy ra trước khi tôi được biết thêm các sự kiện khác. Tôi xin viết để quý độc giả đọc thêm cho vui.

          Ông Vũ Trung Bình là một người định cư ở Seattle đã khá lâu, hình như trên 30 năm. Ông là người tài hoa, hát hay, nói năng duyên dáng, rất « ăn khách » trong vai trò MC cho các chương trình văn nghệ. Ông là một người rất có nhiệt tình với Hội Thủ Đức(ông Bình tốt nghiệp khóa 15, ông là Ủy Viên Ban Tham Vấn của Hội Thủ Đức), ông đối xử với mọi người rất thằng thắn, đúng sai phân minh. Nhưng ông luôn yêu quý ĐỒNG MÔN của ông. Thế mà! Chỉ vì ông thẳng tay vạch ra những sai trái của NĐD và ĐG trong cuộc họp của 4 Cơ Chế Hội ngày 26-12-2010 để rồi bị hai tên này thù và đã đuổi ông ra khỏi hội trường ĐHBT của chúng. Ông Vũ Trung Bình chỉ buồn cười cho hành động « trẻ con » của ĐG và NĐD.

          Hai Ô.Bà Vũ Trung Bình trở về nhà sau chuyến đi sang Houston/Texas để thăm lại những người cùng trung đội với ông khi thụ huấn tại Trường Thủ Đức năm xưa. Mở caller ID phone thì thấy có tên Đặng Ghi. Ông ngạc nhiên và gọi hỏi Ô. Nguyễn Đình Lãng là ĐG có gọi cho ông Lãng không và gọi với mục đích gì. Ông Lãng cho biết là có thấy ID phone của ĐG nhưng ông Lãng không nhận phone. Mục đích thì dễ hiểu quá…lại muốn vuốt ve xin lỗi và mời hai ông Bình và Lãng trở lại sinh hoạt với Hội Thủ Đức của ĐG và NĐD đấy thôi. Cả hai ông Bình và Lãng cười ha hả. Nếu quả thật ĐG muốn mời hai ông trở lại sinh hoạt với Hội Thủ Đức của ĐG và NĐD thì ĐG đã là trẻ con đến mức coi hai ông Bình và Lãng cũng « trẻ con » như ĐG.

          Ông Vũ Trung Bình mà không « trung bình », toàn là cao hơn trung bình không thôi. Nói cho vui Huynh Trưởng đừng giận đàn em nhé.

           Nguyễn Quốc Hùng

          Ê-CHỀ VỚI HAI CHỮ ĐỒNG MÔN

           

          LTS: Chúng tôi xin phép ông Vũ Trung Bình (VTB)để đăng lá thư này,một tâm tình mà ông Vũ Trung Bình gởi đến cho các đồng môn của ông đã cùng sinh hoạt trong thời gian gần đây,lá thư này ông VTB viết ngay sau khi cái gọi là “Đại Hội Bất Thường” của Đặng Ghi,Đại Hội này chúng tôi gọi là “Đại Hội Ly Khai Chống 4 Không”. Một trò của những kẻ quen “đá cá lăn dưa” ,hèn nhát không dám đối mặt với sự thật,Đặng Ghi ,Nguyễn Đồng Duy,Dương Đình Long,Nguyễn Thành Khánh đã ly khai khỏi Hội CSVSQTB Thủ Đức/WA chống lại lập trường 4 không của Hội.

          Một tâm tình của ông Vũ Trung Bình đã lột được tất cả những kẻ có trí óc đen tối ,mê muội… Chúng tôi mời quý vị đọc lá thư sau:

          Chào các anh,là những người đã đi chung với tôi một đoạn-đường “BUỒN-NHIỀU-HƠN-VUI”.
          Hôm nay,tôi muốn nói với qui anh về hai chữ:”ĐỒNG-MÔN”.
          Cuốn năm 2001,từ báo-chí,tôi được biết ,một số anh-em dự-định thành-lập hội CỰU SINH-VIÊN SQ-TB/TĐ tại tiểu-bang WA.
          Tôi liên-lạc với anh VTK,sẽ đến dự và sẽ kéo thêm một số anh khác nữa.Có khóa 13,15,22,4/69…và kế-tiếp là một NIÊN-TRƯỞNG,
          khóa 4.
          Anh em rất vui-vẻ khi gặp mặt,và từ đó,tôi gia-nhập hội và hầu-như chỉ đả-trách phần EMCEE,phần VĂN-NGHỆ và sau này,
          từng đọc THAM-LUẬN trước ĐAỊ-HỘI,tham-gia trong CHỦ-TỌA-ĐOÀN cùng hai niên-trưởng khóa 4 và khóa 12.Đã từng làm
          EMCEE văn-nghệ trong LỄ CHIẾN-SĨ TRẬN-VONG,theo phân-công của hội chúng-ta (ban tổ-chức đã nhờ hội chúng-ta phần này).
          Từng 2 lần, nhận sự đề-cử làm TRƯỞNG-BAN TỔ-CHỨC ĐẠI-HỘI THƯỜNG-NIÊN,được nhiều lần được đề-cử vào các cơ-chế hội
          Nhưng đều từ-chối.
          Gần đây,hội bị KHỦNG-HOẢNG về LÃNH-ĐẠO,số hội-viên bỏ hội cũng trở-thành mối bận-tâm cho những kẻ có lòng,vì HỘI
          không mang lại một điều gì vui,chứ đừng nói đến QUYỀN-LỢI(óc thực-tế ở xã-hội HOA-KỲ).
          Tôi muốn nói đến ĐẠI-HỘI mới đây nhất mà tôi lại nhận làm TRƯỞNG-BAN TỔ-CHỨC(ngày 24 tháng 10 năm 2009).
          Cũng trong ĐH này,lần đầu-tiên tôi nhận lời ĐỀ-CỬ và chỉ nhận vào ban THAM-VẤN mà thôi,vì việc này tôi đã được mời
          THAM-VẤN qua các CHỦ-TỊCH TIỀN-NHIỆM như VTK,NĐL,NTK…Ở thời NĐD tôi cũng làm nhiệm-vụ này một cách :
          DANH-CHÁNH NGÔN-THUẬN vì đã được ĐH tín-nhiệm và bầu ra.Tôi làm nhiệm-vu này có phần TÍCH-CỰC hơn,
          vì nhận thấy sự YẾU KÉM rõ-rệt của TÂN-CHỦ-TỊCH NĐD.
          Dù ai có ganh-ghét cá-nhân tôi đến mấy,họ cũng chỉ nói xấu sau lưng,chưa ai dám nói là tôi không góp công-sức cho HỘI,
          chứ đừng nói đến chuyện PHÁ HỘI…Tôi biết có nhiều người trong hội muốn kéo hội đi một hướng khác,tôi cũng là MỘT ,
          trong những chướng- ngại đối với họ.Tôi quan-niệm tại sao ta không giử hội được ĐỘC-LẬP để cùng những HỘI-ĐOÀN
          QUỐC-GIA có tinh-thần chống CỘNG…để XÂY-DỰNG CỘNG-ĐỒNG …mà lại khuất phục trước những cá-nhân,
          những PHE NHÓM bất-xứng?…Tại sao ta không thể-hiện tình ĐỒNG-MÔN trong hội chúng-ta,mà lại lôi-kéo,bè nhóm,gây chia-rẽ,
          để dến nỗi coi nhau như KẺ THÙ….Kẻ thù của chúng-ta là CỘNG-SẢN,VIỆT-GIAN,NHỮNG KẺ ĐÓN-GIÓ TRỞ-….muốn làm tay-sai,
          vì HÁM-DANH,HÁM-LỢI…
          Những Ý-NGHĨ,những hành-động kể trên có bị LÊN ÁN không?…
          Thực-tình,tôi rất coi-thường những cá-nhân,không THỰC-TÂM với anh-em,không BẢO-VỆ và XÂY-DỰNG HỘI,mà đến với hội
          với cái TÔI quá lớn,với những TOAN-TÍNH khác.họ gây mất ĐOÀN-KẾT thì nhiều,chứ đừng trông-chờ họ xây-dựng hội.
          Đời CHỦ-TỊCH nào cũng sảy ra chuyện tranh-chấp,lôi-kéo,đôi-co để đi đến chỗ THÓA-MẠ nhau,không nhìn mặt nhau nữa…
          Cá-nhân tôi đã nhiều lần muố bỏ,không sinh-hoạt nữa,nhưng cứ NỂ-TìNH anh-em,nghĩ đến công-lao các anh đã dựng ra hội,đã duy-trì hội trong cô-đơn,trong khi người ta đã bỏ theo tự-ái,danh-lợi hạo-huyền…cố nán lại,hy-vọng các đồng-môn tìm ra giải-pháp dung-hòa,đừng làm mất DANH-DỰ của những người từng xuất-thân từ một “QUÂN-TRƯỜNG lớn nhất vùng ĐNA.
          Những người đã từng là CẤP-CHỈ-HUY trong QUÂN-LỰC VNCH…Những người mà tôi trìu-mến gọi là ĐỒNG-MÔN…
          Trở lại việc HIỆN-TẠI…Qua NET,qua truyền-thông,qua BẢN-TIN của cả đôi bên,người hiểu biết,có lý-trí,có lương-tâm,
          phải phân-biệt được PHẢI và TRÁI…Nhất là những đông-môn THỦ-ĐỨC….
          Vấn-đề được đặt ra là..một tổ-chức(như các HỘI-ĐOÀN hiện-thời) đều có NỘI-QUI.
          Vấn-đề được đặt ra là..ta gia-nhập HỘI,là ta phải chấp-nhận và TÔN-TRỌNG NỘI-QUI đó.
          Vấn-đề được dặt ra là..Xuyên qua sự-việc:
          Ai là kẻ TÔN-TRỌNG NỘI-QUI.
          Ai là kẻ VI-PHẠM,CHÀ-ĐẠP NỘI-QUI.
          Những “ĐỒNG-MÔN”,nếu còn sáng-suốt,còn TƯ-CÁCH,để các ĐỒNG-MÔN khác tôn-trọng và cộng-dồng còn nhìn thấy bộ-mặt
          SẠCH-SẼ của mình.Muốn hàn-gắn những rạn-nứt,muốn xây-dựng hội,muốn bảo-vệ DANH-DỰ hội,một hình-thức bảo-vệ danh-tiếng
          QUÂN-TRƯỜNG THỦ-ĐỨC,thì phải nêu cái “TÂM” của mình..
          Không thể nào vào dự ĐAI-HỘI,mà không nói lời “CÔNG-ĐẠO”,một số lại “A-TÒNG”.Những “BỘ-MẶT-GIẢ-NHÂN-GIẢ-NGHĨA”
          Đã chạy lại nói với anh-em,hãy phát-biểu từ-tốn,ôn-hòa…Có anh lại tuyên-bố “Hôm nay không có BẦU-BÁN gì cả,để việc này vào
          ĐẠI-HỘI thường-niên,tôi phải ngăn-cản,hôm nay chỉ giải-quyết những rạn-nứt mà thôi”.
          Một văn-hào NGA,người viết”QUẦN ĐẢO NGỤC-TÙ”,cò nói đại-ý:
          Nếu ta là người hiểu-biết và có can-đảm..”thấy sai-trái ta phải đứng-dậy phản-đối cái sai,và bỏ đi về”.
          Kém chút nữa, “ta lẳng-lặng bỏ ra về”.
          Kém chút nữa,ta ngồi lại nhưng không nói lại với ai,vì nói ra thêm xấu-hổ mà thôi,vì ta đã HÈN…
          Còn “HẢ-HÊ”vì được tham-dự,được cho ĂN-UỐNG FREE,thì những người này thuộc loại nào đây…hãy cho ĐỒNG-MÔN và
          thiên-hạ được biết với…
          Anh em không được THAM-DỰ,có nói chuyện với TRUNG-SĨ CẢNH-SÁT tên là LEUNG khi còn ở trong HỘI-TRƯỜNG.
          và ông có cho số ĐT..Ông giải-thích,ông chỉ làm nhiệm-vụ mà luật pháp cho phép,ông không đứng về phe nào cả.
          Người ta bỏ tiền ra thuê chỗ này người ta làm chủ và có quyền cho ai vào ai không.Ông chỉ làm nhiệm-vụ của mình thôi..
          Trong khi đó NĐD,”MẮT-LA-MÀY-LÉM”,một lần nữa chứng-minh cho mọi người biết về “TƯ-CÁCH và BẢN-LÃNH”của mình,
          khi thấy “BỌN KHÔNG CÙNG PHE VỚI MÌNH” đang nói chuyện với CẢNH-SÁT…
          Nhưng ĐG,có”BẢN-LÃNH” hơn,chỉ mặt mọi người đầy “CĂM-THÙ và SẮT-MÁU”,…Cộng-sản đã thành-công trong việc “CẢI-TẠO”
          một “ĐỒNG-MÔN”của chúng-ta như thế đấy.Chúng-ta phải hình-dung ra sao đây?Tại sao chúng-ta lại có-thể chung hội với
          hạng người như thế?HỘI đang đi vào “TAI-KIẾP,MẠT-VẬN”?
          Tại sao công-khai mời dự,rồi lại phải nhờ CẢNH-SÁT bảo-vệ?..Người ta đến là đáp lại những HẢO-Ý của “28 ĐỒNG-MÔN”,
          có tên trong “TÂM-THƯ”mà…Đến để ĐỒNG-MÔN,nhận-chân được ai “ĐÚNG”,ai “SAI”..Rồi từ đó xây-dựng lại đổ nát…
          Ôi thôi 4 ông NĐD,ĐG,NTK,DĐL…dã phụ bao tâm-huyết của 28 ĐỒNG-MÔN,(Tôi lạm-dụng hai chữ ĐỒNG-MÔN hơi nhiều
          phải không,nhưng gọi các anh-em đó là gì đây,khi họ cùng xuất thân cùng một quân-trường với tôi…vả-lại tôi đang đề-cập
          đến tình đồng-đội,nghĩa ĐỒNG-MÔN mà)…
          Nếu ta “PHẢI”,ta có “CHÍNH-NGHĨA”,ta được “YỂM-TRỢ” hết mình thì ta sợ gì mà không dám,đây là dịp ta vạch-mặt
          “NHỮNG-KẺ-PHÁ-HOẠI HỘI” mà…Ôi thôi ngàn năm một thuở,bỏ qua một dịp may để chúng-tỏ với đồng-môn, với
          CỘNG-ĐỒNG,để còn dịp “MANG-HIA-ĐỘI-MÃO” đến những nơi công-cộng chứ…Bỏ qua một dịp gì?
          Thì chứng-tỏ:”CÓ TRÌNH-ĐỘ HỌC-VẤN,KHẢ-NĂNG ĐIỀU-HÀNH,TƯ-CÁCH và BẢN-LÃNH”…
          (nguyên-văn lời tuyên-bố trong bản THÔNG-BÁO cuả ông NĐD ngày 12 tháng 2 năm 2010 ,lòi tuyên-bố này đã làm ông NTK,
          CHỦ-TỊCH nhiệm kỳ trước ông DUY..người giữ chức TRƯỞNG-BAN LÃNH-ĐẠO hội lâu nhất từ trước đến giờ nổi-nóng.
          “NÓ làm vậy là CHỬI-CHA anh-em mình rồi “.Nó chủi cha ai không biết,nhưng mọi người biết ông đã ngồi ghế CHỦ-TOẠ,
          trong đại-hội vừa qua,nó có chửi,xin ông giũ làm của riêng mình để ghi vào”THÀNH-TÍCH ĐÁNH-LỪA ANH EM”.Vụ tráo-trở
          này đau nhất là ông NĐL,sau đó là ông HKA…NTK…đã diễn hoàn hảo vai trò của mình,giữ được yếu-tố BÍ-MẬT đến phút chót..
          Ông dùng tài này để đối-phó,với cộng-sản,với việt-gian thì tốt biết mấy…Nhưng …lạ là ĐỒNG-MÔN..(Lại nhắc tới ĐỒNG-MÔN)
          Nhắc lại chuyện trung-sĩ LEUNG,ông không cho CHỤP-HÌNH,không cho GHI-ÂM,ông nói nếu không được sự đồng-ý của người khác
          là phạm-luật.ĐG có chụp-hình và . nhìn các anh-em khác với một ánh mắt rất “CĂM-THÙ”.Chúng ta chắc chỉ nhìn thấy ánh mắt của bọn công-an khu-vực hay lũ quản-giáo việt-cộng(một lần nữa bọn CS đã thành-công trong cải-tạo,biết chọn “ĐỐI-TƯỢNG CĂM-THÙ MỘT
          CÁCH RẤT XÂU-SẮC”….(Chữ- nghĩa của việt-gian cộng-sản)..Ông LEUNG đã cảnh-cáo mọi người và có cho biết DG phải xóa đi..
          Anh em có hỏi ông,nếu họ sử-dụng những hình-anh bất-lợi cho những người khác khi được yêu-cầu ông có sẵn-sàng làm
          Nhân-chứng không thì ông trả-lời sẵn-sàng,và cho số ĐT để liên-lạc nếu cần…
          Nói tóm-lại 4 người trong ban tổ-chức…đã”ĐÁNH-LỪA,VU-CÁO và SỈ-NHỤC” có TOAN-TÍNH…(Sẽ bàn về chuyện này khi cần).
          Như vậy các ĐỒNG-MÔN của tôi ơi,các ĐỒNG-MÔN đã:”ĐÁNH-LỪA,VU-CÁO và SỈ-NHỤC những người cùng xuất thân từ một QUÂN-TRƯỜNG,cùng chiến-đấu dưới một ngọn cờ đấy.
          Buồn nhất vẫn là nhớ lại những khuôn mặt của các ông có tên trong “BỨC TÂM-THƯ” đi dự ĐẠI-HỘI,các ông là những diễn-viên xuất-sắc.
          Nếu “HỮU-TÂM” thì hãy “LÊN-TIẾNG”,kẻo các ĐỒNG-MÔN khác hiễu-lầm…và CỘNG-ĐỒNG hiểu SAI đấy…
          Ôi thôi…Làm sao mà nhìn mặt nhau đây?Phải đeo kiếng THẬT ĐEN,để coi như không nhìn thấy.
          Phải luôn bỏ tay trong túi quần,hoặc từ-chối nại-cớ “TAY-MÌNH-DƠ” không tiện bắt tay…Ôi phép LỊCH-SỰ cũng nhiêu-khê đấy chứ.
          Để kết-luận bài viết lẩm-cẩm này,hy-vọng không làm ông bạn cùng khoá 15,cùng một thời phục-vụ tại TTHL/QT…Cố SVSQ LƯU-BÁ-BẮC
          buồn lòng ,vì khi còn sinh-thời ông cứ đoan-quyết rằng tôi :”CÓ-KHẢ-NĂNG-VIẾT-LÁCH”…Nghĩ đến bạn mà tôi buồn,khi bạn nằm xuống,
          đúng vào thời-kỳ NĐD làm CHỦ-TỊCH..DUY đã không đến viếng,đưa bạn đến nơi an-nghỉ cuối-cùng ,tệ hơn nữa:
          là không đăng-báo CHIA BUỒN(Anh em bất-mãn và phê-bình chuyện này trong một buổ họp sau đó.)Đã vậy mà còn lập quĩ;”TƯƠNG-TẾ”
          Đâu đã hết,thông-gia của DUY,có con gái qua-đời,Duy coi như không liên-hệ.(Anh em cũng chất-vấn về sự thiếu LỄ-NGHĨA,thiếu VĂN-HÓA
          này)…Trách sao mọi người không khinh-thường DUY,như DUY đã than-vãn…Đó cũng là một động-cơ làm DUY muốn nổi-loạn..
          Lại được sự hợp-tác và chỉ-đạo của ĐG…của một nhóm người “ĂN-KÉ”,Một bọn mà CỘNG-ĐồNG này biết mặt…Chỉ tội cho HỘI,bị đòn
          HỘI-CHỢ,bị gặp”GIAN-NHÂN-HIỆP-ĐẢNG”.Một “KIẾP-NẠN”.
          ………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….
          Thôi BYE,BYE..các ĐỒNG-MÔN BẤT-CHÁNH…
          Từ nay tôi phả nhận-diện”ĐỒNG-MÔN”,với trí-óc hơn là TRÁI-TIM….Vì trái tim đã làm tôi mù-lòa trong QUÁ_KHỨ….
          Trong tôi,bắt đầu phải phân-định:3 chữ “QUÍ,TRỌNG và KHINH “,và nhủ-lòng chớ lẫn-lộn.
          Nghĩ rằng phần mình đóng-góp cùng với anh em cho HỘI đã đủ.
          Tôi ra khỏi HỘI,vì quá “Ê-CHỀ-VỚI 2 CHỮ ĐỒNG-MÔN”.Tôi sẽ bị DỊ_ỨNG với danh-xưng này cho đến chết…
          Ai là ANH,là EM,là BẠN…Tình đó vẫn còn…
          Xin vẫn giữ liên-lạc.

          VŨ TRUNG-BÌNH K 15.

          36 NĂM QUA

              Trọng Đạt

              Ngày 30-4-1975, một ngày kinh hoàng nhất đối với đa số người dân miền nam nước Việt khi họ thấy xe tăng và bộ đội Cộng Sản tràn vào tiếp thu Sài Gòn, ai nay mường tượng ra một tương lai đen tối mù mịt sẽ diễn ra tại mảnh đất này: đói khổ, thóc cao gạo kém, mất tự do, sưu cao thuế nặng, bị trả thù, lưu đầy….Mặc dù cũng là người Việt Nam máu đỏ da vàng nhưng người Sài gòn chỉ biết đây là những người ngọai lai, xâm lược, họ biết rằng đất nước của mình đã bị đạo quân từ bên ngoài tới chiếm đóng.

          Từ sau 1954, Việt Nam chia ra làm hai nước, một nước ở phía trên vĩ tuyến 17, hay trên sông Bến Hải và một nước ở dưới vĩ tuyến và dòng sông nhỏ này. Từ những năm đầu thập niên đã diễn ra cuộc chiến tranh giữa hai nước: miền Bắc được Cộng sản quốc tế trợ giúp vũ khí đạn dược đã mở cuộc chiến tranh dưới danh nghĩa “giải phóng” chiếm cho được vựa lúa miền Nam để cứu đói miền Bắc đã và đang thiếu thốn thực phẩm, lúa gạo trầm trọng. Cuộc chiến mở rộng bắt đầu từ 1964, 1965 khi miền Bắc công khai đưa quân vào miền Nam để chiếm cho được mảnh đất phì nhiêu béo bở này. Tình hình chiến sự trở nên tàn khốc trong khoảng 10 năm từ 1965 cho tới 1975, đó là cuộc chiến giữa một nước nghèo đói lạc hậu miền Bắc VN và một nước sung túc tiến bộ ở miền Nam VN. Miền Bắc có ưu thế ở chỗ họ được CS quốc tế viện trợ vũ khí dồi dào, vô hạn định và một dân số đông đúc, họ có cơ hội thuận tiện để đẩy hàng triệu thanh niên vào cuộc chiến.

          Mặc dù bị thiệt hại nặng nề nhiều trăm ngàn người trong những năm giữa và cuối thập niên 60, nhưng miền Bắc vẫn tiếp tục cuộc phiêu lưu, họ có ưu thế của kẻ nghèo đói không sợ chết, dù tổn thất bao nhiêu cũng không đáng kể miễn là chiếm được vựa lúa miền Nam VN. Sau khi nướng hơn một triệu thanh niên họ đã đạt được mục tiêu, chinh phục được miền Nam sung túc.

          Khi mới vào tiếp thu Sài gòn họ nói “Đế quốc Mỹ bại trận, dân tộc ta là kẻ chiến thắng”, miệng nói hòa giải dân tộc nhưng trên thực tế sau khi thắng trận họ đã thỏa thuê mãn nguyện tha hồ mà vơ vét, chiếm đoạt nhà cửa, ruộng đất, quí kim, hàng hóa… Cựu đảng viên Cộng Sản Bùi Tín đã gọi đây là một cuộc ăn cướp vĩ đại. Nhà cửa, tài sản của dân di tản đương nhiên thuộc về quân chiếm đóng dù họ còn thân nhân ruột thịt, tất cả những nhà lớn đều thuộc về quân chiếm đóng, chủ nhà phải dọn đi ở những căn nhà nhỏ lý do phó thường dân không được quyền ở những nhà rộng lớn, cao tầng.

          Có người nói đây là cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa Tư bản và Cộng Sản, người cho đây là cuộc chiến chống Đế Quốc xâm lược, người nói đây là cuộc chiến tranh ủy nhiệm, hai miền Nam Bắc đã được các siêu cường uỷ nhiệm, nhưng sự thực đã quá rõ ràng, nó chỉ là một cuộc “chiến tranh ăn cướp” giữa một nước nghèo đói lạc hậu và một đất nước giầu có tân tiến. Nước nghèo ra sức đánh thí mạng để cướp của cải vật chất bên kia, để chiếm cho được mảnh đất phì nhiêu rồi tha hồ mà vơ vét, bóc lột… Nước nghèo đói chỉ biết lấy lưỡi lê và họng súng để theo đuổi cuộc chiến tranh ăn cướp lâu dài, họ chủ trương chính quyền đẻ ra từ họng súng.

          Khi chiếm được miền Nam, cán bộ Cộng Sản tươi cười với đồng bào nói nào hoà bình thống nhất rồi, nào hai miền cùng xoá bỏ hận thù và cùng nhau xây dựng đất nước, hàn gắn vết thương chiến tranh. Thế nhưng họ không bao giờ bỏ được bản chất gian trá có từ hồi mới cướp chính quyền mùa thu 1945, chiếm xong Sài Gòn hoa lệ, đạo quân chiến thắng vội vã chở hết vàng bạc, quí kim của ngân hàng, tháo gỡ các máy móc trong các cơ xưởng, bệnh viện, vét hết các kho dụng cụ, hàng hoá, máy móc hiện đại….chở ra Bắc. Số vàng bạc quí kim vơ vét được vào túi các quan cán bộ gộc hết, họ vơ vét nhanh gọn y như đàn cào cào châu chấu phá hoại mùa màng, sau cơn trấn lột tập thể vĩ đại ấy miền Nam chỉ còn là một mảnh đất nghèo xơ xác. Thực tế chứng tỏ tại châu Âu, nước Đức sau khi thống nhất, Đông Đức đã trở thành gánh nặng cho Tây Đức, họ gồm hàng tá khuyết điểm: lười biếng, gian trá, lạc hậu, ngu xuẩn… và tình hình Việt Nam cũng y hệt như thế, miền Bắc đã dựa hẳn vào miền Nam để sống.

          Một hai năm sau ngày 30-4-75 Cộng Sản đánh tư sản hai lần để lấy nhà cho cán bộ, đổi tiền ba lần, chính quyền đã vét cạn sạch túi tiền người dân, kế đó họ phát động chiến dịch đẩy dân chúng đi kinh tế mới để dãn dân ra khỏi thành thị ngõ hầu có chỗ đưa dân từ miền Bắc vào. Kế hoạch chiếm nhà dân đã được kẻ chiến thắng hoạch định một cách tinh vi khoa học. Những người đi vượt biên dù thoát hay không thoát đều bị lấy nhà, những nhà lớn, nhà mặt đường của dân cải tạo liên hệ chế độ cũ hầu hết bị tịch thu, họ lấy tất cả nhà cửa tài sản của những người đi chính thức. Sau ngày 30-4-75 một hai tháng, họ lùa các viên chức, sĩ quan chế độ cũ vào các trại cải tạo lâu dài rồi đẩy miền Nam tới chỗ nghèo nàn cùng cực để không thể trỗi dậy chống lại họ. Người Sài Gòn mỗi ngày một nghèo, nhiều người phải bán nhà với giá rẻ mạt cho kẻ chiến thắng để lấy tiền đong gạo sống qua ngày. Cán bộ cao cấp từ miền Bắc kéo nhau vào Nam chiếm nhà của kẻ bại trận, cán bộ lớn chiếm nhà lớn, cán bộ nhỏ chiếm nhà nhỏ rồi tha hồ mà vơ vét cho đầy túi tham.

          Thấm thoắt đã 36 năm trôi qua, đời sống kinh tế miền Nam ngày nay cao hơn những năm thập niên 80, 90 rất nhiều nhờ Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận và nhờ các nước giầu Đài Loan, Hoa Kỳ, Tây Âu, Đại Hàn, Nhật…vào đầu tư cộng với tiền đô la của Việt kiều ở ngọai quốc gửi về dồi dào. Đời sống có khá hơn xưa nhưng cái hố chênh lệch giầu nghèo lại sâu gấp bội lần tình trạng xã hội trước 1975. Trong khi những bà mẹ nghèo khổ tay bế con, tay bán vé số thì những đảng viên quyền thế có cơ ngơi, nhà mặt đường, trong nhà lúc nào cũng có cả triệu đô la tiền mặt, mấy nghìn lượng vàng. Các quan to tỉnh ủy, ủy viên trung ương đảng đã thành phú gia địch quốc có khách sạn, nhà hàng, đất đai, cơ sở thương mại, sản xuất….tài sản của họ có thể lên tới hàng trăm triệu đô la hoặc hơn thế. Nhiều người khi mới vào Nam chỉ mang theo có một manh chiếu rách nay đã trở thành những triệu phú đô la, xe ngựa nghênh ngang.

          Nay người nghèo tại các tỉnh đổ sô lên Sài gòn và các thành phố lớn làm công nhân, họ chen chúc nhau thuê phòng trọ, hàng chục người một phòng nhỏ xíu với mức lương thấp 100 đô la hàng tháng, sau khi trả tiền phòng, tiền ăn họ chẳng còn dư đồng nào, những người cùng khổ này làm lụng vất vả nhưng chỉ đủ bỏ vào mồm. Đời sống thành thị tương đối còn khá, tại miền quê người dân lam lũ vật lộn với cuộc sống đắt đỏ, một hiện tượng phổ thông tại các nước kém mở mang, người nghèo ngày càng khốn khổ, người giầu ngày càng giầu thêm.

          Mặc dù mức sống đã được nâng cao nhưng gần đây Thủ tướng CSVN nhìn nhận Việt Nam vẫn là một nước nghèo, thật vậy lợi tức đầu người VN nay vào khỏang 1,000 đô la một năm, trên thực tế chỉ bằng một nửa, hoặc một phần ba của các nước Phi châu như Ai cập, Lybia, Tunisie… nếu so với các nước láng giềng tại Đông Nam Á thì VN còn thua xa hơn nữa.

          Nay người miền Bắc kéo vào Sài Gòn và các thành phố lớn tại miền Nam rất đông, họ là những người giầu có và quyền thế nhất Sài Gòn hiện nay, làm chủ hầu hết các nhà cửa to lớn của Sài Gòn và các nhà hàng lớn, các cơ sở thương mại, các cơ quan nhà nước… Họ là những cán bộ cao cấp và bà con thân thuộc được đưa vào đây để tranh dành hết những chức vụ béo bở, những công việc hái ra tiền. Tại các cửa hàng lớn, các cơ quan chỗ nào cũng thấy toàn là Bắc Kỳ, đó là giai cấp giầu có thống trị tại Sài Gòn hiện nay. Kẻ chiến thắng lấy đi tất cả, Winner takes it all, họ hưởng đủ tất cả lạc thú trên đời, biệt thự, xe hơi, rượu ngon, gái đẹp… không còn thiếu thứ gì.

          Cho tới nay bộ mặt đổi đời của miền Nam càng lộ rõ hơn bao giờ hết bộ, kẻ thắng trận ngày càng giầu có, vơ vét, tập trung tài sản của nhân dân vào trong tay, bà con của họ cũng được chia chác những chức vụ béo bở, cơ sở làm ăn lớn tha hồ mà đớp hít… trong khi ấy người dân miền Nam, những kẻ bại trận ngày càng khốn khổ, trừ những người có thân nhân ở nước ngoài trợ giúp, đa số phải làm lụng đầu tắt mặt tối vì miếng cơm manh áo. Người miền Bắc nay đã trở thành giai cấp thống trị người miền Nam, họ tước đoạt tài sản nhà cửa của người miền Nam, đuổi người miền Nam đi các vùng kinh tế xa xôi khỉ ho cò gáy. Những kẻ bị áp bức bóc lột đành ngậm đắng nuốt cay, chịu khuất phục trước lưỡi lê và họng súng của đạo quân chiến thắng.

          Đã một phần ba thế kỷ trôi qua, người miền Nam ngày nay dù là lớp người cũ hay lớp trẻ em sinh sau đẻ muộn vẫn nhìn chính quyền CS, nhìn người miền Bắc như đạo quân chiếm đóng, như bọn xâm lăng đã tước đọat tài sản, quyền sống của họ. Dù nói cùng một thứ tiếng, viết cùng một văn tự nhưng không hẳn phải là một quốc gia, thời xa xưa, Xuân thu, Chiến Quốc, thời Tam Quốc nước Tầu đã chia làm nhiều nước Tần, Sở, Yên, Ngô… và bây giờ Bắc Hàn, Nam Hàn cũng là hai quốc gia riêng biệt, châu Mỹ La Tinh cùng nói tiếng Tây Ban Nha, Trung Đông cùng nói tiêng Ả Rập nhưng đã chia làm mấy chục nước. Người miền Nam VN xa xưa không muốn thống nhất với miền Bắc cũng như Nam Hàn hiện nay không muốn thống nhất với Bắc Hàn lý do nước tân tiến sung túc không muốn mang cái gánh nặng lạc hậu trên vai.

          Nay CS đưa ra luận điệu ru ngủ dân miền nam như hãy để Việt Nam Cộng Hòa lùi vào quá khứ, hãy quên đi lá cờ vàng, chúng ta hãy bắt tay nhau cùng xây dựng lại những vết thương do chiến tranh để lại, cùng nhau xoá bỏ hận thù nhưng người miền Nam lớp già cũng như lớp trẻ vẫn tiếc nhớ đất nước của họ, tiếc những cái họ đã mất từ bao năm qua:
          Tự do. Cái mất mát lớn nhất của người miền Nam phía dưới vĩ tuyến 17 là mất tự do, trước hết là tự do ngôn luận, thời xa xưa tại nước Việt Nam Cộng Hòa… báo chí được quyền chỉ trích sai trái của chính phủ, người dân được nói cái mình muốn nói, được biểu lộ sự phản kháng, biểu tình chống chính phủ, được thành lập đảng phái đối lập, được tự do hội họp. Người dân được quyền tự do tư tưởng, được đọc và viết điều mình muốn, sách báo không bị kiểm duyệt hoặc chỉ bị kiểm duyệt hạn chế, người dân được đọc sách báo nhập từ ngọai quốc trái với tình trạng ngày nay, sách báo hải ngọai gửi về bị vất vào thùng rác. Người dân VNCH được tự do cư trú, muốn ở đâu thì ở, muốn đi đâu thì đi nhưng nay họ phải chịu chỉ định cư trú, theo chế độ hộ khẩu, bị chính quyền địa phương giám sát, theo dõi nghiêm ngặt. Từ mấy chục năm nay quân chiếm đóng đã tước đọat hết mọi quyền tự do của người dân miền nam nước Việt.

          Luật pháp. Người dân VNCH đã được luật pháp bảo vệ tài sản tính mạng, có tòa án, có luật sư bào chữa, người dân chỉ bị bắt giam tối đa 24 giờ đồng hồ nếu không có bằng cớ phạm pháp, nay họ có thể bị công an nhà nước bắt giam vì bất cứ lý do gì hoặc chỉ là tình nghi. Họ có thể bị giam giữ vô thời hạn mà không cần đưa ra tòa xét xử, phải có án, người dân có thể bị chính quyền, bị kẻ thống trị cướp đoạt đất đai tài sản mà không thưa kiện ai được. Sau 30-4-1975, trại tập trung, nhà giam mọc lên như nấm tại miền Nam, hàng trăm ngàn người bị lùa vào trai tù dưới danh nghĩa cải tạo mà không hề được xét xử, họ bị giam giữ lâu dài có người lên tới mười mấy năm trời. Sống trong xã hội áp dụng luật rừng hiện nay, người miền Nam ai cũng nơm nớp lo sợ, họ có thể bị bắt bất cứ lúc nào không có lý do, chỉ một sự tình nghi hoặc tư thù với cán bộ có thể bị giam giữ lâu dài.
          Đạo đức. Người dân miền Nam nay tiếc nhớ xã hội có kỷ cương đạo lý của VNCH ngày xưa, trước 1975, miền nam là một xã hội có tổ chức nghiêm chỉnh, chịu ảnh hưởng sâu xa của giáo lý Khổng Mạnh, con người có nhân phẩm, gia đình và học đường giáo dục đạo đức luân lý cho con em để trở thành con người tốt của xã hội. Nay thì khác hẳn, xã hội đương thời sô bồ, băng hoại phản đạo đức luân lý, phim ảnh khiêu dâm đồi bại lan tràn, đĩ điếm, bia ôm, đầy rẫy cả thôn quê thành thị, con gái bị bán đi làm đĩ khắp nơi. Con người ngày nay chỉ biết có đồng tiền, lửa đảo, lưu manh trộm cướp, băng đảng lộng hành, trẻ nít chửi thề tục tĩu ngay tại học đường, tham nhũng hối lộ từ trên xuống dưới, có người nói giả thử chế độ CSVN sụp đổ, người ta phải mất ít nhất là ba thế hệ mới xây dựng được xã hội lành mạnh như xưa.

          Tài sản. Nhiều người mất cơ mất nghiệp, nhiều người xưa là thương gia, đại phú bị quân chiếm đóng lấy nhà tịch thu tài sản đuổi đi vùng kinh tế mới rồi trốn về Sàigòn với tấm thân tàn ma dại. Nhiều người khá giả có nhà lớn hoặc nhà mặt đường đi vượt biên không thoát bị quân chiếm đóng lấy nhà nay nghèo khốn nghèo khổ tiếc nhớ thời oanh liệt xa xưa. Những người có tài sản làm việc cho chế độ cũ phải vào trại tập trung cũng bị chính quyền “mượn nhà”ở nay tiếc nhớ thủa vàng son của mình….

          Giáo dục, Y tế – Khoảng 1980, trong một phiên họp nhân viên tại bệnh viên Vũng Tầu, một chị dược sĩ gốc ngoài Bắc vào đã phát biểu:

          Chế độ Ngụy mà chúng ta đánh đổ nó nhưng nó đào tạo các chuyên viên như kỹ sư bác sĩ giỏi hơn chúng ta”

          Thật vậy nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa trước 1975 đã đào tạo các chuyên viên khoa học kỹ thuật tương đương với các nước tân tiến và đã được chính phủ Pháp công nhận có giá trị ngang hàng. Văn bằng trung học VNCH đã theo đúng chương trình của người Pháp, việc thi cử rất nghiêm chỉnh, văn bằng trung học, đại học cũng đã được coi ngang hàng với văn bằng bên Pháp, việc thi cử dưới trung học nhất là thời Đệ nhất cộng hòa thập niên 60 có phần còn khó khăn hơn ở ngọai quốc. Nay người gốc miền Nam vẫn tiếc nhớ một thời giáo dục vàng son của họ vì nền giáo dục hiện nay của quân chiếm đóng đã sản xuất ra một lô những văn bằng “lèo”, thạc sĩ, tiến sĩ nhiều như lá mùa thu, các quan to Thứ trưởng, Tỉnh ủy, huyện ủy đều có thể mua bằng tiến sĩ “ma”, thạc sĩ “lèo”, nạn bằng giả bằng ma tại VN ngày nay không còn gì xa lạ. Học sinh từ tiểu học lên trung học, đại học VNCH hồi xưa đều được học miễn phí, chỉ riêng bậc trung học có thêm trường tư thu học phí, ngày nay trẻ em thất học nhiều vì không có tiền đóng học phí. Trước 1975, nhà giầu hoặc những người có tiền khi ốm đau nặng đi bệnh viện tư, người nghèo đã có nhà thương thí của chính phủ lo. Nay lấy danh nghĩa xã hội chủ nghĩa để mị dân, chính quyền CS chỉ biết thu thuế, không mảy may để tâm tới phúc lợi người dân, các bệnh viện ở Việt Nam hiện nay đòi hỏi bệnh nhân phải có tiền, không có tiền thì chịu chết, đi học, chữa bệnh phải có tiền, cái gì cũng phải mất tiền.

          Bình đẳng. Mặc dù có một số khuyết điểm nhưng VNCH trước đây tương đối là một xã hội công bình, tuy có nạn bè phái nhưng người có tài đức dù thân cô thế cô vẫn có cơ hội tiến thân điển hình là Giáo sư Nguyễn Văn Bông. Xuất thân từ người con thông minh trong một gia đình nghèo tại miền quê, Bông đã phải làm lao động thêm để lo đèn sách, lớn lên anh ta xuất dương du học, làm bồi tầu, khuân vác cực nhọc rồi thành công vẻ vang, đậu tiến sĩ, thạc sĩ, làm tới chức Viện trưởng một Học viện lớn, nếu sống dưới chế độ CSVN hiện nay, tột đỉnh cuộc đời của ông ta chỉ có thể làm một thầy giáo làng quèn mà thôi.

          Từ 1975 cho tới nay, sự học hành, công ăn việc làm chỉ con cái cán bộ, đảng viên hoặc những người từ miền Bắc vào mới được ưu tiên, con cháu các cựu quân nhân, viên chức chế độ cũ hoặc phó thường dân Nam bộ vẫn bị kỳ thị phân biệt đối xử nặng nề, chính quyền CS duyệt xét lý lịch đương đơn rất kỹ. Những công việc tốt, lương cao, béo bở hái ra tiền… chỉ dành cho các đảng viên hoặc họ hàng thân thuộc, những người từ miền Bắc vào Nam còn những việc xương xẩu, làm chỉ đủ bỏ vào mồm mới đến tay thành phần chế độ cũ hoặc phó thường dân Nam bộ.

          Nay người dân phía dưới sông Bến Hải vẫn tiếc nhớ một thời vàng son của miền Nam nước việt nhưng cái thời ấy nay đã chết rồi, nó chỉ còn để lại một tiếng vang, vang bóng một thời. Quân chiếm đóng đã tàn nhẫn bế mạc cái thời huy hoàng ấy, mặc dù họ lớn tiếng kêu gọi xóa bỏ hận thù nhưng người miền Nam vẫn không thể quên những hành động trắng trợn của họ tại mảnh đất này.

          Quân chiếm đóng có thực sự muốn xoá bỏ hận thù hay không? Họ xóa bỏ hay đào sâu thêm cái hố sâu hận thù đã vốn dĩ sâu thăm thẳm từ bao năm qua? Người Việt Hải ngoại chúng ta hòa hợp với quân chiếm đóng, đem tài nguyên tài năng về Việt Nam xây dựng quê hương hay là để củng cố thêm quyền lực và tài sản cho bọn thống trị, để họ vơ vét thêm tài sản nhân dân cho đầy túi tham và đè đầu cưỡi cổ nhân dân miền Nam thêm nhiều thế kỷ nữa? Trước mắt chúng ta thấy họ vẫn ngoan cố như tự bao giờ, trước sau như một.

          Địa vị của quân chiếm đóng, của bọn thống trị vẫn phải được củng cố vững mạnh hơn bao giờ hết bằng lưỡi lê và họng súng.

          © Trọng Đạt

          © Đàn Chim Việt

          TRÒ CHƠI CHỮ TRONG CHÍNH TRỊ

          TRÒ CHƠI CHỮ TRONG CHÍNH TRỊ

          LTS: Kính thưa quý độc giả! Bài nà y(Trò chơi chữ trong chính trị) đã được Bia Miệng đăng từ lâu trên website cũng như báo giấy,nay sẵn có chuyện lộn xộn về chữ nghĩa của ngày Quân Lực do các ông Nguyễn Xuân Dũng,Nguyễn Đình Sài…. Tổ chức,nhìn tổng thể thì những người trong sinh hoạt cộng đồng đều thấy “ Việt Tân” rất rỏ nét trong việc tổ chức ngày Quân Lực năm nay. Rất nhiều dư luận về việc chữ nghĩa của ban tổ chức dùng để vinh danh Quân Lực ,khó mà biết được các ông ấy muốn gì? Lại lập lờ trong việc “chơi chữ” . Chúng tôi muốn quý độc giả liên tục suy nghiệm nhân sự kiện mới vừa xảy ra,chúng tôi đăng lại bài viết đã đăng từ lâu,trong phần cuối chúng tôi đề cập đến việc”chơi chữ trong ngày Lễ Quân Lực của các ông Việt Tân”.

           HOÀNG PHAN

             Trong văn chương Việt-Nam và thế giới có không biết bao nhiêu giai thoại về trò chơi chữ ( jeu des mots). Nhưng chơi chữ trong văn chương thì chỉ là nếu không phải là một nghệ thuật đáng chiêm ngưõng thì cũng chỉ là một trò vui đùa không hại gì mấy. Nhưng khi trò chơi chữ được các nhà chính trị xử dụng thì thật vô cùng nguy hiểm. Kể sơ ra đây vài thí dụ về trò chơi chữ đã được đảng Cộng-Sản Việt-Nam xài trong lịch sử. Chỉ một vài thí dụ thôi trong vô số.

          * Những ngày đầu thành lập, Đảng CS lấy tên là Đảng Cộng Sản Việt-Nam, nhưng khi thấy danh từ Cộng-Sàn lộ nguyên hình quá không thể dụ được quần chúng nhẹ dạ, và dể gây dị ứng trong thành phần trí thức, chúng bèn đổi tên thành Đảng Lao Động Việt-Nam , Cho mãi đến sau 1975 mới hoàn thân Cộng Sản. Quả nhiên lúc đó nhiều người yêu nước đã vì lầm chúng không phải là Cộng Sản nên đã tham gia vào hàng ngũ của chúng, chỉ với một lòng muốn dành độc lập cho tổ quốc Việt-Nam.

          * Năm 1945 khi phát dộng toàn quốc kháng chiến, vì muốn vơ vét vàng trong dân chúng nên CS bèn phát động Tuần Lể Vàng để quyên góp. Nhưng quyên ở đâu đây ? Không lẽ đi quyên vàng ở giai cấp vô sản ? ( có gì mà quyên ?) Còn bọn địa chủ thì CS đã lở kết án là bọn bóc lột rồi. CS bèn nghĩ ra cách là dùng nhóm chữ “Địa Chủ Tiến Bộ” để gán cho những nhà địa chủ hiến vàng. Ai mà không muốn biến thành kẽ tiến bộ. Vậy là toàn quốc lầm, trong đó có cha mẹ của Đặng Xuân Khu tức Trường Chinh. Hơn mười năm sau khi phát động phong trào Cải Cách Ruộng Dất, cần phải đem bọn điạ chủ ra giết thì CS mới suy nghĩ. Không lẽ đem giết những người tiến bộ. Thôi thì chi cho bằng bìến đổi một vài chữ cho xuôi tai. Thế là, từ “Địa Chủ Tiến Bộ” trở thành bọn “Địa Chủ Cơ Hội” Hầu hết các gia đình địa chủ đều bị đấu tố và bị giết, trong đó cũng có cha mẹ của Đặng Xuân Khu.

          * Trong cuộc chiến tranh xâm lược Miền Nam. Đầu tiên CS dùng nhóm chữ “ Gia Đình Phản Động” để chỉ những gia đình có thân nhân cọng tác với chính quyền VNCH. Sau đó, chúng thấy có phản ứng trong hàng ngũ cán binh, vì chính gia đình bọn họ cũng biến thành “Gia Đình Phản Động”. CS lại phải nghiên cứu và đổi thành “ Gia Đình Đau Khổ”. Cán binh Cộng-Sản miền Nam thấy được an ủi nhiều.

          * Sau khi chiếm miền Nam, đới với thành phần Quân Cán Chính VNCH. Làm thế nào để gom hết lại nhốt hết một lần mà không mất công lùng bắt, gây hoãn loạn . Lại chơi chữ: “ Trình diện học tập tùy theo cấp bậc.” Kêu thì ba ngày tại địa phương, người thì “Mang theo lương thực mười ngày hay một Tháng” Thế là toàn quốc lầm một lần nữa. CS đâu có nói là mười ngày hay một tháng sẽ cho về đâu! Thật là trò chơi chữ tinh vi.

          * Từ 1975-1985 đối với những người VN vượt biên tìm tự do. Chúng gọi là bọn “ Phản Quốc” Đến sau năm 1985, thấy có thể “ Kiếm Chút Cháo” được từ những bọn “Phản Quốc” nầy (Té ra là Cơm Trắng và Bơ Sửa” ) chúng bèn đổi thành “ Khúc Ruột Ngàn Dặm” hay “ Việt Kiều Yêu Nước”.

          * Năm 1968, Kissinger là cố vấn của Tổng Thống Nixon, là người chuyên xử dụng phương thức “Ngoại Giao Đi Đêm” Kissinger nhờ một vài người Pháp làm trung gian để nói chuyện với CSVN. Đầu tiên với Tòa Đại Sứ Việt-Cộng tại Pháp. Có một cuộc nói chuyện giữa các người trung gian và Mai văn Bộ là Đại Sứ CS tại Pháp lúc bấy giờ. Khi phía Mỹ đề nghị là họ sẽ “ Ngưng Oanh Tạc Vô Điều Kiện “ miền Bắc nói lại CS hứa sau khi Mỹ ngưng oanh tạc thì sẽ ngồi vào bàn hội nghị với một vài nhân nhượng. Đối với phía Mỹ, đây là cuôc “Ngưng Oanh Tạc Vô Điều Kiện” vì “Điều Kiên” không hề bị bắt buộc phải có trước khi ngưng oanh tạc đúng theo luật Bang Giao Quốc Tế và Chiến Tranh. Thế nhưng, bị ám ảnh bởi trò chơi chừ chình trị , nên Mai văn Bộ đã trả lời với người Pháp rằng : Không có khác biệt giữa Blanc Chapaeux và Chapaeux Blanc. Tỉnh từ đứng trước đứng sau như nhau, đìều kiển đi trước đi sau cũng như nhau. Những người Pháp nhìn nhau không hiểu gì cả.

          Một vài thí dụ về trò chơi chữ chính trị mà CS đã xử dụng để lừa bịp dân chúng, và đôi khi còn bịp được cả thế giới. Thế nhưng, đa số dân chúng vẫn chưa thấy được sự nguy hiểm của nó và vẫn còn vô cùng nhẹ dạ. Có thấy sự khác biệt đôi chút trong cách dùng chữ thì cũng nghỉ là “ VIỆC NHỎ” không đáng quan tâm.

          Sau khi nghị quyết 36 ra đời. Cách đây vài năm, Đảng Việt-Tân đã đổi Ngày 30 tháng Tư thành ngày “Tự Do Cho Việt-Nam”thay vì Ngày Quốc Hận. May sao lúc ấy các tổ chức chính trị và Cộng Đồng đã thấy được âm mưu trong trò chơi chữ chính trị nầy nên đã phản ứng quyết liệt. Nếu không có sự phản ứng của Cộng-Đồng thì đây là một thắng lợi vô cùng to lớn của CS về mặt tuyên truyền và lừa bịp thế hệ trẽ VN ở hải ngoại .

          Tại Seattle tiểu bang Washington vừa rồi cũng có một trò chơi chữ vô cùng nguy hiểm, lại cũng do đảng Việt-Tân giựt dây. Ông Bác-sĩ Nguyễn xuân Dũng do đảng Việt-Tân thúc đẩy và hổ trợ đã toan biến ngày 30 tháng Tư thành “ Ngày gian hiễm phản phúc của trò chơi Đế Quồc” thay vì Ngày Quốc Hận. Từ quan niệm Mỹ, Úc, Tân Tây Lan, Đại-Hàn v.v .. là những nước đồng minh nay biến thành “Bọn Đế Quốc” theo đúng quan niệm của CS thì nguy hiểm biết chừng nào.

          Là người Việt Nam tỵ nạn CS, chúng ta luôn tri ân những hy sinh vô cùng to lớn của các chiến sĩ đồng minh đã sát cánh chiến đấu với chúng ta trong cuộc chiến bảo vệ nền tự do của Việt-Nam Cộng Hòa. Không lẽ bây giờ chúng ta lại đi tri ân những “ Bọn Đế Quốc” đã “Phản Bội” chúng ta, và không lẽ chúng ta quả thật là những người đã ôm chân “Đế Quốc” như CS đã tuyên truyền , và còn không biết bao nhiêu câu hỏi bắt đầu bằng hai chử “Không Lẽ” nữa , mà con cháu chúng ta, thế hệ không biết nhiều về quá khứ sẽ tự hỏi khi thấy chúng ta dùng chữ “Đế Quốc” để chỉ về các nước đồng minh.

          Thế mà nhiều người trong chúng ta vẫn xem đó như là “ VIỆC NHỎ”. Muốn biết có phải là việc nhỏ hay không, chúng ta hảy xét xem Bs Nguyễn xuân Dũng và Việt-Tân đã vô tình hay hữu ý khi thay đổi nhóm chữ Ngày Quốc Hận bằng nhóm chữ “Ngày Phản Bội Của Bọn Đế Quốc”.

          Khi nói đến vô tình, thông thường người ta nói đến một hành vi thụ động, không để ý, có thể vì thói quen hay thiếu quan sát. Khi tôi nói một câu sai văn phạm, có thể anh vô tình không để ý, nên không sữa. Một khi anh sữa tức là anh cố ý. Một người dân Việt-Nam vì nhiều năm sống với CS nên có thể vô tình vì thói quen nói “ sau ngày giải phóng”, nhưng khi anh sửa lại là sau ngày mất nước thì anh đã có ý tứ và lập trường hẳn hoi.. Cũng tương tự như vậy, Chúng ta đã dùng chữ Ngày Quốc Hận để chỉ ngày 30 tháng Tư trên 34 năm rồi. Chữ ngày Quốc hận không những là chữ đúng nhất được công nhận mà đã biến thành thói quen của chúng ta rồi. Vậy Bs Nguyễn xuân Dũng có thể nào nói là vì vô tình mà dùng chữ “Ngày gian hiễm ,Phản phúc của trò chơi Đé Quốc” thay vào hay không. Một trăm phần trăm là có ý. Vậy thì Ý Gì Đây?

          Đọc đến đây, Chắc có người lại tự hỏi, cũng là câu hỏi bắt đầu bằng hai chữ không lẽ.

          Không lẽ Bs Nguyễn xuân Dũng và đảng Việt-Tân lại có ý như vậy sao? Và không lẽ….không lẽ…. Biết bao nhiêu là không lẽ….

          May thay, nhóm chữ “ Ngày Tự Do Cho Viêt-Nam” và “ Ngày gian hiễm , phản phúc của trò chơi Đế Quốc” đã không có dịp trở thành chính thức nhờ vào phản ứng của Cộng Đồng, không còn lạ gì nữa với Trò Chơi Chữ Chính Trị và luôn đề cao cảnh giác.

          Và cũng đáng buồn thay, những người vạch trần những trò chơi chữ nầy đôi khi bị một vài người xem là quá khích, biến “VIỆC NHỎ” thành quan trọng. Xin thưa riêng với những người nầy. Từ Đảng Cộng-Sản biến thành Đảng Lao Động, Từ Địa Chủ Tiến Bộ thành Địa Chủ Cơ Hội, Từ Mút Mùa Lệ Thủy đến Lương Thực Mười Ngày …… đều là những “VIỆC NHỎ” đó quý vị ạ, nhưng hậu quả thật khó lường. ./.

           * Sự việc mới trong ngày Quân Lực 19/6/2011 tại Seattle/WA.

             Ông Phạm Huy Sãnh là cựu Đại Tá QLVNCH ,ông là người đứng ra tổ chức ngày QLVNCH hằng năm tại Settle tiểu bang Washington, năm nay ông Sãnh vẫn tổ chức nhưng thêm một tổ chức nữa sau ông Sãnh 1 ngày( ông Sãnh 18/6). Ban tổ chức này cũng không ai là lạ ,vẫn những khuôn mặt cũ trong sinh hoạt cộng đồng,những khuôn mặt được nhiều người biết họ là Việt tân hoặc cảm tình viên. Chúng tôi chỉ nêu tên những người nòng cốt trong việc tổ chức này là: Ông Nguyễn Đình Sài ( sếp sòng VT vùng tây Bắc),b/s Nguyễn Xuân Dũng ,Tôn Thất Hồng,Hưá Yến lến,… và, một số lòng thòng rác rưởi đi theo phò như: Nguyễn Đồng Duy tự là “Duy thâm lạm”,Nguyễn Trọng Nghị,Nguyễn Hữu Ký tự “ Ký ba hoa”,Bùi Đức Ly tự “Ly treo đầu dê bán thịt chó” hay “Ly chụp mủ”….

          Trong ngày này họ vinh danh một quân đội mà họ viết (nguyên văn) : Honoring the RNV Armed Forces . Theo chổ chúng tôi biết cũng như nhiều người biết thì hàng chữ đó không phải vinh danh Quân Lực VNCH vì, tiếng Mỹ viết tắc QLVNCH là: RVNAF ,câu Vinh Danh QLVNCH phải là : Honoring the RVN Armed Forces mới đúng. Đây có phải trò chơi chữ của Việt Tân hay không? Trong quá khứ Mặt Trận hay Việt tân cũng thường làm như vậy,nào là lồng đèn Trung Thu có các em thiếu nhi rước đèn có cờ đỏ,bỏ chữ Quốc hân(30/4/75),bỏ ngày Quốc Khánh của VNCH (lấy ngày giổ Tổ Hùng Vương làm ngày Quốc khánh) v.v và v.v. Những việc kể trên chỉ xảy ra ở những kẻ tổ chức là Việt Tân,những tổ chức chính trị khác khi tổ chức việc gì không có cái gọi là “lầm lẫn” như VT thường nói sau khi sự việc đã rồi ,để rồi “xin lổi”.

          Sự việc vừa mới xảy ra trong ngày Quân Lực ở Seattle do những Việt Tân và cảm tình viên VT đứng ra tổ chức,dù có vài ba trăm người đi biểu tình chống Trung Cộng ,có đòi giết ,đòi chém Trung Cộng cở nào đi nữa nó cũng được hóa giải bởi hàng chữ Honoring the RNV Armed Forces .RNV là nghĩa gì đây? Đã gọi là chơi chữ rồi thì đâu cần viết rõ ràng như một số người lý sự cùn . Phải mập mờ ,ẩm ờ mới ăn tiền được ,làm như Trần Trường ở California lộ liểu quá sẽ bị ăn đòn ngay.

          Những người trong ban tổ chức có lộn không? Có rành tiếng Mỹ không? Họ là những người khá rành tiếng Mỹ,họ là những người tổ chức chuyên nghiệp,khó mà lộn lắm . Cần thay đổi một vài chữ là đủ có điểm để ăn tiền vớì “Quan Thầy” rồi . Hôm đó chỉ tội cho một số người chỉ biết nhắm mắt đi dự Lễ hoặc biểu tình mà chủ đề là “Treo đầu dê…. còn thịt múc ra chén chỉ là thịt … , người nào có kinh nghiệm thì mới biết đó là thịt chó”

          Hoàng Phan 

           

           

           

           

           

           

           

          Tẩy Chay Hàng Hóa Tàu Cộng…

          TẨY CHAY HÀNG HOÁ TRUNG QUỐC TẠI HOA KỲ

          Nếu 2 tỉ người không mua $20/month sản phẩm Tàu cộng,Tàu cộng sẽ thâm hụt mậu dịch 10 tỉ đô la/month.

          Nếu 2 tỉ người không mua $200/month sản phẩm Tàu cộng, Tàu cộng sẽ thâm hụt mậu dịch 100 tỉ đô la/month.

          Nghĩa là Tàu cộng sẽ thâm hụt mậu dịch $1,200,000,000,000/year (1,200 tỉ đô la mỗi năm).

           Đây là sự đánh trả lại Tàu cộng gian thương quỉ quyệt (đang kiếm tiền của nhân loại một cách bất chính để GIẾT NHÂN LOẠI và LŨNG ĐOẠN THẾ GIỚI) mà tất cả người Việt nam yêu nước, người dân trung hậu chân chính trên toàn thế giới có thể tham gia trực tiếp để cứu mình, cứu đời.

           Hưởng ứng lời kêu gọi toàn cầu: TẨY CHAY HÀNG HÓA, THỨC ĂN, THỨC UỐNG, DU LỊCH TÀU CỘNG !!! Các tổ chức cộng đồng người Việt quốc gia tại hải ngoại nên cùng với Hoa Kỳ tham gia cuộc chiến bất bạo động thế giới chống Tàu cộng:

           TẨY CHAY HÀNG HÓA, THỨC ĂN, THỨC UỐNG, DU LỊCH TÀU CỘNG

          Nên tổ chức các cuộc hội thảo, các buổi mít tinh, các buổi hiệp thông cầu nguyện gióng lên lời kêu gọi:

          TẨY CHAY HÀNG HÓA, THỨC ĂN, THỨC UỐNG, DU LỊCH TÀU CỘNG

           *********

          Mỗi cá nhân đều có thể tham gia Cuộc chiến bất bạo động toàn cầu chống Tàu cộng “DEATH BY CHINA” bằng cách phổ biến rộng rãi Bài viết dưới đây cùng Lời Kêu gọi qua truyền thông báo chí, Facebook, Twitters, websites, emails, etc …

          CHẾ ĐỘ TRUNG QUỐC CHẮC CHẮN SẼ SỤP ĐỔ

          Hillary Clinton:

          Chế độ của Trung Quốc chắc chắn sẽ sụp đổ

          *Jeffrey Goldberg, The Atlantic

          Ngày 10 tháng 5 năm 2011 – Trong một cuộc trả lời phỏng vấn dành riêng cho tờ TheAtlantic, ngoại trưởng Mỹ Hilary Rodham Clinton đã nói rằng hồ sơ nhân quyền của Bắc Kinh đang “rất tồi tệ” và Bắc Kinh đang “ra sức ngăn chặn lịch sử” bằng cách chống lại sự tiến bộ của dân chủ.

          ***

          Lời dẫn của Jeffrey Goldberg: Trong bài viết gần đây nhất của tôi trên tờ Atlantic vừa ra mắt (bài viết được giới thiệu trên trang bìa) tôi có bài phỏng vấn Ngoại trưởng Mỹ Hillary Rodham Clinton về phản ứng của Mỹ trước Mùa xuân Ả-rập. Khi chúng tôi có cuộc gặp vào tháng trước tại văn phòng của bà ở Bộ Ngoại giao, bà như mọi lần vẫn trả lời một cách dễ dàng uyển chuyển bằng tinh thần bao quát và hoàn toàn làm chủ được những chi tiết. Bà cũng nhấn mạnh nhiều lần rằng cách tiếp cận của Chính quyền Obama ở Trung Đông đã không cho thấy bất kỳ sự thiếu nhất quán hay đạo đức giả nào (bà nói nhiều tới chủ đề này trong cuộc trả lời phỏng vấn được ghi lại dưới đây). Chúng tôi đã không dành nhiều thời gian cho vấn đề tiến trình hòa bình ở Trung Đông (mặc dù tôi tin rằng bà là người có đủ khả năng nhất ở Mỹ để đưa Israel và các nước Ả-rập đi đến một sự giải quyết bằng đàm phán); thay vì vậy, chúng tôi đã bàn về sự nổi lên của tổ chức Huynh đệ Hồi giáo [Muslim Brotherhood – một tổ chức Hồi giáo cực đoan lâu đời và có ảnh hưởng rất lớn, do asan ai-Banna thành lập tại Ai Cập năm 1928] và tổ chức này có ý nghĩa gì đối với phụ nữ Hồi giáo, đồng thời chúng tôi còn dành thời gian để bàn tới sự tranh luận hiện nay giữa chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa lý tưởng trong chính sách đối ngoại.

          Trong suốt cuộc trò chuyện chỉ khi tôi bất ngờ nêu vấn đề Trung Quốc và phản ứng hoảng sợ của Trung Quốc trước Mùa Xuân Ả-rập thì bà mới chuyển sang thái độ thiếu chút nữa thì có thể gọi là giống Reagan, ấy là bà đã đặt thành vấn đề nghi ngờ không chỉ hồ sơ nhân quyền ảm đạm của Bắc Kinh mà còn cả tương lai của bản thân chế độ Trung Quốc nữa. Gần đây chính quyền của Obama ngày càng gây sức ép trong cách nói hoa mỹ tới Trung Quốc về hồ sơ nhân quyền, nhất là kể từ sau vụ bắt giam nhà bất đồng chính kiến Ngải Vị Vị, song Ngoại Trưởng Clinton trong cuộc phỏng vấn của chúng tôi còn đi xa hơn nữa: bà đã nghi ngờ khả năng sống sót của chế độ độc đảng. Sau khi bà nhắc tới hồ sơ nhân quyền của Trung Quốc là “rất tồi tệ” (bản thân đây cũng là một sự gây sức ép bằng cách nói hoa mỹ), tôi nhận xét rằng chính quyền Trung Quốc dường như đang hoảng sợ trước cuộc Nổi dậy Ả-rập. Bà đã trả lời: “Ồ, đúng vậy. Họ đang lo lắng và họ đang định ngăn chặn lịch sử, đó là việc làm vô ích chỉ tổ làm trò cười. Họ không thể làm được điều đó. Nhưng họ đang cản trở lịch sử càng lâu càng tốt”

          Lời khẳng định của bà Clinton rằng chế độ đàn áp của Trung Quốc sớm muộn sẽ sụp đổ làm tôi nhớ lại lời phát biểu có thể nói là giống hệt của Reagan khi trả lời Richard V. Allen hồi năm 1977 về mục tiêu của nước Mỹ trong Chiến tranh Lạnh: “Quan điểm của tôi về chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Liên Xô là đơn giản, thậm chí có người còn cho là quá đơn giản,” Reagan nói. “Nó là thế này: Chúng ta nhất định thắng còn họ nhất định thua.”

          Tôi đã đi cùng bà Clinton trong chuyến đi mới đây nhất của bà tới Ai Cập và Tuy-ni-di hồi tháng 3 và trong chuyến đi đó bà đã rất nhiều lần phát biểu rằng những người dân tự đứng lên đòi dân chủ bằng các cuộc biểu tình ôn hòa đã khiến bà xúc động. Những nhận xét của bà về Trung Quốc khiến tôi hoàn toàn tin rằng bà đã coi Mùa Xuân Ả-rập là dấu hiệu báo trước một thế giới đang tiến tới nền dân chủ.

          Dưới đây là bản chép lại cuộc phỏng vấn do chúng tôi thực hiện. Bản chép lại này đã được rút ngắn lại một chút cho súc tích và được biên tập cho sáng sủa.

          ***

          JEFFREY GOLDBERG: Tôi đã tiếp tục lưu lại Tuy-ni-di sau khi bà rời khỏi đó và ngày hôm sau lúc tôi ở trung tâm thành phố thì có một đám đông đang tụ tập để chuẩn bị biểu tình. Lúc đó tôi nghĩ, “Tuyệt vời, những người trẻ tuổi đang kêu gào đòi điều gì đó.” Tôi không thể đoán được ngay lập tức đang có chuyện gì. Họ đang đứng trước cổng Bộ Nội vụ và tôi hòa vào đám đông đó và đã hiểu ra rằng họ chuẩn bị biểu tình phản đối một quyết định của Bộ Nội vụ cấm phụ nữ choàng khăn “hijab” [loại khăn truyền thống của phụ nữ Hồi Giáo] khi chụp ảnh làm chứng minh thư và đây là một cuộc biểu tình vì “hijab”. Tôi bèn hỏi chuyện, “Các anh muốn phụ nữ bắt buộc phải choàng chiếc khăn đó hay sao” Họ đáp, “Không phải vậy, nhưng theo quan điểm của chúng tôi về xã hội thì người dân phải hiểu được vai trò của nam giới và vai trò của phụ nữ.” Lúc ấy tôi tự nhủ, “Trời, ước gì bà Hillary Clinton có mặt ở đây để tôi hỏi bà ấy xem bà ấy suy nghĩ gì.” Những cuộc cách mạng NÀY đang diễn biến theo những chiều hướng phù hợp với cách nghĩ của người Mỹ và chúng cũng đồng thời diễn ra theo một số cách không phù hợp với cách nghĩ của người Mỹ.

          CLINTON: Tôi đã nói tới điều này vào nhiều dịp khác, bởi vì điều tôi muốn thấy là phụ nữ và nam giới được tự do lựa chọn theo những cách thức có trách nhiệm được pháp luật của nước họ bảo vệ – còn mô hình của tôi, dĩ nhiên đó sẽ là mô hình của đất nước chúng ta, đó là phụ nữ có thể ăn mặc theo cách họ chọn tùy theo mong muốn cá nhân của họ. Và tôi muốn được thấy phụ nữ ở khắp nơi trên thế giới có được sự tự do này để cho không có sự ép buộc, không có sự ép buộc của chính phủ. Đó là một sự lựa chọn, và –

          JG: Như vậy thì cái vạch đỏ không nên vượt qua ấy là sự ép buộc hoặc đại loại vậy –

          HRC: Hoàn toàn đúng.

          JG: — bất cứ điều gì nằm trong sự được gọi là ép buộc.

          HRC: Hoàn toàn đúng như vậy, bất cứ điều gì thuộc về sự ép buộc. Tôi nghĩ rằng hiện nay đang có những vấn đề an ninh liên quan đến, chẳng hạn, áo burka [áo của phụ nữ Hồi giáo che cả người và mặt], nhưng nếu chúng ta nói tới “hijab”, đó là chiếc khăn choàng đầu, thì đối với tôi đó không phải là một vạch đỏ không nên vượt qua. Như vậy, khi người ta bắt đầu nói, “Ồ, nhưng có những điều nào đó mà phụ nữ không nên được phép làm và cách duy nhất để chúng ta có thể ngăn họ làm những điều đó là bằng cách thông qua những quy định luật pháp phản đối những điều đó, “chẳng hạn như phụ nữ không được lái xe ở Ả-rập Saudi hoặc phụ nữ không được bỏ phiếu. Mới đây đã có một cuộc bạo loạn ở Bangladesh bởi vì chính phủ muốn phụ nữ được hưởng quyền thừa kế bình đẳng [như nam giới]. Đó là một vạch đỏ không nên vượt qua, làm thế tức là xâm phạm các quyền của phụ nữ và do đó tôi phản đối và tôi nghĩ rằng bất cứ xã hội nào ở thế kỷ 21 đang hướng tới hiện đại hóa và chắc chắn là nếu như họ đang tự cho họ là dân chủ thì đều phải bảo vệ quyền được có những lựa chọn nói trên.

          JG: Chúng ta có nên sợ hãi tổ chức Huynh đệ Hồi giáo?

          HRC: Ồ, tôi nghĩ chúng ta chưa biết đầy đủ để có thể hiểu chính xác hiện nay tổ chức này đang biến hóa thành một thứ tổ chức như thế nào. Theo tôi, chúng ta chưa có đầy đủ thông tin để đưa ra đánh giá cuối cùng. Có một số phần tử Hồi giáo đột nhiên xuất hiện ở Ai Cập và tôi nghĩ cứ theo bề ngoài mà xét thì những người đó chỉ là –

          JG: Thực ra chỉ như là vừa được xổ lồng mà thôi.

          HRC: Được xổ lồng, được ra khỏi bóng tối và họ thù địch với một nền dân chủ, thù địch với tự do bày tỏ ý kiến, tự do hội họp, tự do tín ngưỡng lúc ấy đang là khát vọng trên Quảng trường Tahrir [ở thủ đô Cairo của Ai Cập].

          JG: Liệu có xảy ra một tình huống trong đó một phụ nữ sống trong một đất nước ở đó theo luật thì người phụ nữ đó không nhất thiết phải choàng “hijab” nhưng theo văn hóa do chính phủ đặt ra thì người phụ nữ đó thấy mình có nghĩa vụ phải tuân thủ các quy định treo cờ của đất nước?

          HRC: Dĩ nhiên là có chứ, điều đó đúng với bất kỳ xã hội nào. Chúng ta đến các vùng khác nhau ở trong nước Mỹ và chúng ta có thể thấy mọi người ăn mặc theo một cách nhất định nào đó bởi vì không ai muốn mình là người lạc hậu, tụi con trai mặc quần ngố, chẳng ai bắt họ phải ăn mặc như thế cả nhưng họ học những chuẩn mực văn hóa lúc nào đó không hay biết hoặc giả các cô gái ăn mặc theo mắt tôi thì như thế là không thích hợp nhưng đó là những gì họ học ở các phương tiện thông tin đại chúng.

          Như vậy dĩ nhiên là bên cạnh những chuẩn mực văn hóa còn có những sự mong đợi từ gia đình và thậm chí còn có những lời răn tôn giáo. Song, miễn là không có sự cưỡng ép từ phía nhà nước, khi ấy tôi sẽ không chỉ tay ra lệnh cho những người đang có những sự lựa chọn nào đó mà tôi không muốn nhưng trong khuôn khổ một nền dân chủ thì những sự lựa chọn đó phải được bảo vệ. Nhưng liên quan đến việc đề ra quyết định chính trị thì tôi nghĩ chúng ta phải rất thận trọng ở chỗ những người ở trong lập trường nói trên phải hiểu được rằng họ có nghĩa vụ bảo vệ những quyết định mà họ không nhất thiết phải tán thành.

          Khó lòng tưởng tượng nổi trong thế giới ngày hôm nay lại có một gia đình không muốn con cái họ học lái xe bởi vì họ nghĩ điều đó đi ngược lại tôn giáo của họ. Cứ cho là có chuyện đó đi, nhưng điều đó rất khác với việc gia đình đó nói rằng chúng tôi không muốn con cái có bảo hiểm y tế. Tòa án của chúng ta sẽ can thiệp và nói, “Như thế là vượt quá xa quyền hạn cha mẹ.” Trên bình diện xã hội cũng vậy, chúng ta không muốn cái gọi là những người đưa ra các quyết định chính trị, các đảng phái hoặc các lãnh tụ chính trị đề ra những quyết định xâm phạm những cơ hội dành cho phụ nữ và nam giới.

          JG: Nếu nước Mỹ dùng vị thế chính trị nổi bật của mình [bully pulpit, chữ được dùng lần đầu tiên bởi Tổng thống thứ 26 Theodore Roosevelt để chỉ Nhà Trắng, “bully” ở đây hoàn toàn không mang nghĩa “bắt nạt người khác”] để nói với các nước, “Này, chúng tôi có một hệ thống dân chủ tự do, hệ thống đó đang hoạt động thực sự tốt, và bởi vì các anh đang ở trong một giai đoạn thay đổi rất nhanh cho nên các anh nên cân nhắc kỹ hệ thống này.” Nói cách khác tức là nước Mỹ nói với các nước là: hãy tham gia vào cuộc chiến của những tư tưởng –

          HRC: Hoàn toàn đúng.

          JG: — Cuộc chiến với các bên Hồi giáo.

          HRC: Ồ, không chỉ riêng các bên Hồi giáo. Dĩ nhiên các bên Hồi giáo là những nơi mà chúng ta nhìn vào với nhiều lo lắng nhất. Nhưng còn có tàn dư của những chế độ lỗi thời đang định ngăn cản sự tiến bộ và vẫn đang tiếp tục không cho nhân dân của họ được hưởng cơ hội trong kinh tế và các quyền trong chính trị.

          Vậy là ở những chế độ đang trong thời kỳ quá độ kiểu như vậy thì có những ý thức hệ thù địch với nền dân chủ, có những nền kinh tế và thương mại thù địch với nền dân chủ, có những hệ thống chính trị thù địch với nền dân chủ. Do đó tôi nghĩ chúng ta cần cạnh tranh trên đấu trường tư tưởng và thông tin.

          JG: Nghe như có một chút chiến lược tân-bảo thủ cực đoan [neoconish]?

          HRC: Không. Tôi không cho là vậy. Tôi cho là đó là điều chúng ta đang tin tưởng vào. Chúng ta đang tin rằng càng nhiều ngôn luận thì tốt hơn là bớt đi ngôn luận. Chúng ta lấy làm tiếc về gã ở Florida đã đốt kinh Koran, những người khác ở khắp nơi trên thế giới đều thấy điều này là quá khó hiểu, bởi vì họ nói, “Hay thật, nếu nước Mỹ nghĩ rằng điều này là khủng khiếp vậy thì nước Mỹ lẽ ra đã phải ngăn chặn không cho điều này xảy ra rồi chứ” Và chúng ta trả lời, “Không, chúng tôi trấn áp việc làm đó bằng ngôn luận, ngôn luận bày tỏ sự ân hận về điều đó và ngôn luận kêu gọi lòng khoan dung và tôn trọng.”

          Cách đây vài tuần tôi đã phát biểu trước Quốc Hội. Tôi nói rằng chúng ta đang bị thua trong cuộc chiến tư tưởng bởi vì chúng ta không ở trên vũ đài theo cách chúng ta đã từng làm trong Chiến tranh Lạnh. Tôi không nghĩ điều này có nguyên nhân ở một đảng phái chính trị hay một triết lý chính trị ở đất nước chúng ta. Tôi muốn thấy chúng ta bước ra vũ đài để bày tỏ những tư tưởng của chúng ta. Bởi vậy chúng ta cần làm điều đó theo cách sao cho tư tưởng của chúng ta dễ dàng được hiểu và tiếp nhận chứ không chỉ đơn thuần khẳng định tư tưởng của chúng ta theo cách đưa ra kết luận có sẵn, không, chúng ta cần tham gia nhiều hơn nữa. Thẳng thắn mà nói, ngay chính tại thời điểm này khi mà sự vận động vì dân chủ như chất men ấp ủ nay bất ngờ nở bung ra – hơn 20 sau khi Bức tường Berlin sụp đổ – vậy mà chúng ta đã đầu tư biết bao nhiêu là tiền của và cố gắng trong nhiều thập niên để rồi bị tụt lại đằng sau so với thời kỳ Bức màn Sắt, vậy mà chúng ta đang diễn giải về thế nào là dân chủ, vẫn không ngừng duy trì lá cờ tự do luôn giương cao trong trái tim con người, tìm mọi cách để đưa thông điệp tới khắp nơi nơi, thông qua phương tiện phát thanh sóng ngắn và Kinh thánh lén đưa vào các nước, và chúng ta đã làm tất cả những điều này chỉ để làm cho mọi người hiểu được rằng họ không đơn độc và có thể những quan niệm của họ về lòng can đảm của con người đã không đủ sức lật đổ chế độ — thế đấy, chúng ta đã cắt giảm mọi thứ [so với thời kỳ

          Chiến tranh Lạnh]. Chúng ta không phát ra được những thông điệp.

          Trung Quốc đang bắt đầu phát một chương trình truyền hình bằng tiếng Anh có thể xem ở khắp thế giới, Nga cũng vậy, rồi đài truyền hình Al Jazeera. Còn BBC thì đang cắt giảm rất nhiều chương trình bằng tiếng nước ngoài phát đi khắp thế giới. Nước Mỹ đang tỏ ra không cạnh tranh. Tôi có cảm tưởng chúng ta đang bỏ lỡ một cơ hội. Tôi hiểu rõ là chúng ta đang chịu sức ép ngân sách và đủ những khó khăn mà chúng ta đang phải đối mặt, nhưng thời điểm giờ đây đang đến – tôi nói điều này không phải theo cách nói ngạo mạn mà theo cách dựa vào những gì đã xảy ra trong thực tế.

          Chúng ta đã hiểu được một điều rằng (ở nước Mỹ) con người từ khắp nơi trên thế giới, bất kể là loại người nào, đều có thể chung sống với nhau, đều có thể làm việc cùng nhau. Có được điều này đâu phải dễ. Phải mất một thời gian dài, nhưng tôi cho là chúng ta mới chỉ biết được chút ít cách làm thế nào để có được điều đó, và nước Mỹ mong muốn đem tới bất cứ sự giúp đỡ nào mà nước Mỹ có thể làm được.

          JG: Mặt trái của vấn đề nói trên là: Có phải thời điểm hiện nay đang cho chúng ta thấy rằng chủ nghĩa thực dụng trong chính sách đối ngoại, trường phái thực dụng, đã không dùng được nữa? Ý tôi muốn nói là có vẻ như chúng ta quá ư lý tưởng chủ nghĩa –

          HRC: Không, không. Tôi nghĩ tôi là người cứng đầu. Tôi chưa bao giờ hiểu được sự chia cắt giữa cái gọi là những người thực dụng và những người lý tưởng chủ nghĩa. Tôi không biết cách nào mà chúng ta thức dậy mỗi ngày trên đời này, làm công việc của mình, nếu như chúng ta không có một ý thức nào đó về lý tưởng chủ nghĩa, bởi vì chúng ta phải tin rằng bất chấp khó khăn đến mấy chúng ta nhất định sẽ ngăn chặn được kẻ độc tài đang áp bức người dân của y, chúng ta nhất định sẽ góp phần ngăn chặn chiến tranh, chúng ta nhất định sẽ tìm ra cách để đưa nước sạch tới những người đang khát và chữa bệnh cho những đứa trẻ. Và đồng thời tôi cũng không biết được cách nào mà chúng ta vượt qua được khó khăn mỗi ngày và hi vọng sẽ thành công mà không cần phải có cái đầu rất cứng và rất thực dụng. Bởi thế đối với tôi thì vấn đề không phải là một sự lựa chọn hoặc cái này/hoặc cái kia.

          Khi tôi nhậm chức ngoại trưởng, tôi đã nói, nghe này, tôi cho là có ba khuynh hướng mà chúng ta phải lưu ý và ba khuynh hướng đó tách rời nhau và chẳng có liên hệ gì với việc đối xử với các nước khác, với các khu vực, với các ý thức hệ. [Thứ nhất], quyền lực bị phân tán. Quyền lực không còn là lĩnh vực của riêng chính phủ. Có quá nhiều điều đang diễn ra trên thế giới ngày hôm nay. Người dân đang được biết quá nhiều. Bởi vậy chúng ta phải bắt đầu đối xử với người dân trên một cơ sở trực tiếp hơn.

          JG: Phe thực dụng đã tồn tại liên tục trong 50 năm qua – những kiểu người như Scowcroft/Kissinger – họ cho rằng các nhà độc tài dù là độc tài thương dân hay độc tài theo kiểu khác nào đó đi nữa thì họ là những địa chỉ duy nhất mà nước Mỹ phải lưu ý: nước Mỹ nên làm việc với các nhà lãnh đạo và để họ tự giải quyết những vấn đề ở cấp dưới họ.

          HRC: Tôi hiểu.

          JG: Tôi hiểu rằng bà có ý kiến tranh luận phản đối quan niệm cho rằng có những dòng tư tưởng thận trọng khôn ngoan trong chính sách đối ngoại, nhưng –

          HRC: Tôi không tranh luận —

          JG: — nhưng bà phát biểu –

          HRC: Nghe này, tôi không có lý lẽ chống lại quan niệm nói trên. Tôi chỉ nói rằng đây không phải là vấn đề lựa chọn hoặc này/hoặc kia. Theo tôi thì ngày nay lập trường thực dụng thật khó lòng mà tồn tại. Chủ nghĩa thực dụng cũng đã thay đổi. Chúng ta đâu có đang sống ở nước Đức thời Bismarck [chính khách nổi tiếng thực dụng ở thời Vương quốc Phổ và Đế chế Đức ở thế kỷ 19]. Và ông có thể tưởng tượng nổi ngày nay một ngoại trưởng như Henry Kissinger có thể bí mật đi tới bất cứ nơi nào không? Tôi không cho là vậy.

          JG: Ý bà định nói tới việc Henry Kissinger được cho là bị ốm ở Pakistan trong một tuần lễ rồi sau đó vọt sang Trung Quốc? Ở địa vị của bà có thể bà cũng muốn làm như thế.

          HRC: Ồ, dĩ nhiên là tôi muốn. Nhưng vấn đề là không thể. Vấn đề thứ hai là sự phân tán quyền lực nhờ có thông tin, điều không thể tưởng tượng nổi cách đây mươi năm chứ đừng nói là 50 năm. Như vậy là ngay cả khi chúng ta tưởng là có thể làm việc với một người duy nhất nào đó của một đất nước và chúng ta có thể yên tâm không phải lo lắng gì cả, thì giờ đây điều này là không thể. Cái cách mà công nghệ bùng nổ giờ đây có nghĩa là tất cả chúng ta đang sống trong một môi trường hoàn toàn khác. Công nghệ đã làm thay đổi mọi thứ. Và giờ đây bất cứ ai giả đò theo một cách khác, tức là giả đò rằng có một học thuyết vĩ đại nào đó ở trên trời chỉ việc lấy xuống rồi đem áp đặt cho người dân của một đất nước ở trên trái đất này, thì cái thứ giả đò ấy giờ đây cũng không còn là thái độ thực dụng nữa rồi.

          JG: Tôi không phải là một người say mê sự nhất quán. Chúng ta có khuynh hướng thiên vị sự nhất quán. Mọi thứ đều phải được liên kết với nhau một cách ngăn nắp.

          HRC: Tất cả mọi người đều mong muốn điều đó.

          JG: Tất cả mọi người đều cần sự nhất quán. Nhưng liệu có một kiểu loại tình tiết nhất quán nào mà bà thấy đã xảy ra kể từ khi người bán hoa quả tội nghiệp đã tự thiêu [ám chỉ sự kiện một người bán hàng rong ở Tuy-ni-di đã tự thiêu và từ đó đã bùng nổ cuộc nổi dậy của người dân đòi lật đổ chế độ]

          HRC: Ý tôi muốn nói là một số nước Ả-rập đang đổ lỗi cho tôi vì đã gây ra chuyện này từ bài diễn văn của tôi tại Doha. Ý tôi định nói là bởi vì điều tôi thấy đang xảy ra là quá rõ ràng, ấy là điều đang xảy ra chỉ là sự vận động ở bên dưới bề mặt, rằng bất chấp việc các nhà lãnh đạo hoặc phủ nhận hoặc cố tình không nhìn thấy điều gì đang diễn ra thì điều đó vẫn cứ đang diễn ra. Chỉ đơn giản là trong suốt nhiều năm vừa qua nước Mỹ đã hụt hơi nên đã không thể hiểu được rằng người dân ở các nước đã đi trước thời đại. Bởi vậy nên tôi đã có bài diễn văn đó tại Doha, và bài diễn văn của tôi đã lôi cuốn được sự chú ý, tôi đã nhận ra điều đó vào ngay lúc ấy. Rất nhiều nguyên thủ quốc gia đã nói chẳng hạn, “Không, tôi không muốn nghe điều đó.” Các lãnh đạo doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, đều tỏ vẻ bồn chồn ngay tại chỗ ngồi của họ. Họ gật đầu ra hiệu với nhau. Họ huých tay ra hiệu cho nhau. Tôi nhìn thấy hết. Từ chỗ tôi ngồi đọc bài diễn văn tôi hầu như có thể nhìn thấy hết những điều đó, rồi trong buổi thảo luận sau đó cũng vậy.

          Như vậy là các nguyên thủ quốc gia có thể lựa chọn cách cố tình giả vờ phớt lờ, song người dân trong xã hội, không chỉ những người trẻ tuổi mà tất cả mọi người thuộc đủ mọi tầng lớp đều hiểu rằng đang có một sự khởi đầu của thay đổi.

          JG: Một trong những điều mâu thuẫn rành rành ấy là trong khi một mặt thì nước Mỹ thúc giục cải cách dân chủ ở những nơi như Ai Cập và Tuy-ni-di thì mặt khác nước Mỹ lại tham gia làm ăn với chế độ quân chủ. Chúng ta có rất nhiều đồng minh – nổi bật nhất là Jordani và Ả-rập Saudi – hiện nay các nước này đang cảm thấy một sức ép đặt lên mặt trận dân chủ và mối quan tâm trực tiếp của chúng ta là ủng hộ và duy trì những gã này ở nguyên trên ngai vàng của họ. Bà có bận tậm tới sự mâu thuẫn này hay không?

          HRC: Tôi không chấp nhận tiền đề nói trên. Tôi cho là chúng ta tin vào cùng những giá trị và nguyên tắc như nhau, chấm hết. Chúng ta tin rằng các nước đó nên trao thêm quyền cho người dân của họ. Chúng ta tin rằng người dân phải được hưởng những quyền phổ quát nhất định nào đó. Chúng ta tin rằng có những hệ thống kinh tế nhất định nào đó đem lại kết quả tốt hơn cho tuyệt đại đa số người dân, so với những hệ thống con khác [subsystem]. Vì thế tôi nghĩ là nước Mỹ rất nhất quán. Tôi cho là sự nhất quán đã là một nền tảng của chính sách đối ngoại của Mỹ ít nhất trong suốt thế kỷ qua.

          Chúng ta cũng đồng thời đang sống trong thế giới thực. Chúng ta làm việc với rất nhiều nước bởi chúng ta và họ có những lợi ích chung. Chúng ta và họ có những vấn đề an ninh nào đó mà cả hai đều đang quan tâm. Hiển nhiên Iran ở Trung Đông đang là một thách thức chính đối với tất cả chúng ta. Nước Mỹ làm ăn với rất nhiều nước có hệ thống kinh tế và chính trị không phải là mục đích của chúng ta hoặc chúng ta sẽ không bao giờ lựa chọn những hệ thống đó. Và nước Mỹ đã khuyến khích một cách nhất quán, cả công khai lẫn kín đáo, sự cải cách và sự công nhận và bảo vệ các quyền của con người. Song chung ta không từ bỏ làm việc với Trung Quốc chỉ bởi vì chúng ta cho là họ có một hồ sơ nhân quyền rất tồi tệ. Chúng ta không từ bỏ làm việc với Ả-rập Saudi —

          JG: Và trên thực tế thì (người Trung Quốc) hiện nay đang tỏ ra rất sợ hãi.

          HRC: Đúng thế. Họ đang lo lắng và họ đang định ngăn chặn lịch sủ, đó là việc làm vô ích chỉ tổ làm trò cười. Họ không thể làm được điều đó. Nhưng họ đang cố duy trì kìm hãm càng lâu chừng nào có thể.

          JG: Nhưng bà làm gì để hiểu được những ông vua – chẳng hạn như Vua Abdullah II của Jordani? Hiện nay ông ấy đang chịu sức ép nhiều hơn bất cứ lúc nào. Ông ấy là một đồng minh lớn của Mỹ, ông ấy chắc chắn không phải là một gã du côn sát nhân như Qaddafi. Nhưng ông ấy là một ông vua và ông ấy có những vấn đề về quản lý chính phủ. Làm thế nào để nước Mỹ giúp đỡ một cách cụ thể một người như vậy để ông ta biết cách hành động để giải quyết vấn đề kịp thời chứ không đợi cho tới khi những vấn đề trở nên trầm trọng và không thể giải quyết được nữa?

          HRC: Chúng ta hỗ trợ và cho họ những lời khuyên trong khả năng của chúng ta.

          JG: Chúng ta đã không thành công với Mubarak.

          HRC: Đúng, chúng ta đã không thành công với Mubarak, và điều đó không phải bởi vì thiếu sự cố gắng. Hết tổng thống này đến tổng thống khác, hết ngoại trưởng này đến ngoại trưởng khác – tất cả đều đã cố gắng. Ở những nước như Jordani thì chúng ta đều đang cố gắng giúp đỡ họ một cách thực dụng. Chẳng hạn, vua của Jordani không chỉ gặp phải những vấn đề chính trị và kinh tế cần giải quyết mà nước này còn là một trong những quốc gia thiếu nước nhất trên thế giới. Vì thế cách đây vài tháng tôi đã công bố một khoản tiền viện trợ không hoàn lại Thách thức Thiên niên kỷ trị giá 250 triệu đôla để giúp họ giải quyết vấn đề thiếu nước bởi vì tôi tin là chúng ta không chỉ đến đó, ngồi bàn bạc rồi nói ”các ông nên làm điều này, các ông nên làm điều kia, nói thì dễ lắm, nhưng chúng ta và họ là chỗ bạn bè, đối tác và đồng minh thực sự. Cho nên chúng ta nói với họ, “Này, đây là một sự tiến bộ xác thực hiển nhiên mà chúng tôi có thể giúp các ông thực hiện được.” Và điều này thì ở nước nào cũng vậy thôi, chúng ta đối xử với những người đang trong trải qua những cơn đau của thời kỳ quá độ và chúng ta nghĩ là chúng ta có thiện ý tốt nhưng chúng ta lại đang đối mặt với những vấn đề khó khăn nào đó.

          JG: Có một điều tôi không hiểu đó là Bashar al-Assad lúc này [Tổng thống hiện nay của Syria], khi bà gọi ông ta là một nhà cải cách hoặc bà nói rằng ông ta được những người khác gọi là một nhà cải cách. Bao giờ cũng có sự có thể uốn thế này thế kia hoặc sự đạo đức giả về chiến lược trong cách chúng ta phải đối xử với thế giới. Nhưng phải chăng chúng ta không nên thổi những luồng gió đổi thay tới hướng Damascus [thủ đô của Syria] và cả Tehran [thủ đô của Iran] nữa ?

          HRC: Chúng ta không cần phải thổi gì hết. Những luồng gió đang tự thổi. Không gì có thể ngăn chặn được những luồng gió ấy. Và điều chúng ta đang cố gắng làm với ông ta là cung cấp cho ông ta một tầm nhìn lựa chọn khác về bản thân ông ta và tương lai của Syria. Vì thế khi một số dân biểu Mỹ đã tới Syria rồi quay về và nói công khai hoặc nói ở chỗ riêng tư rằng “Chúng tôi nghĩ là ông ta đang thực sự mong muốn cải cách, song ông ta đang định cải cách theo lối vá víu những mẩu vụn chính trị của ông ta lại với,” thì tôi nghĩ đáng để nhắc nhở ông ta về điều đó. Và bởi vì tôi sẽ không nói chuyện với ông ta qua điện thoại, và tôi cũng không bay tới Damascus, cho nên tôi nghĩ đó là cách duy nhất để giao thiệp với ông ta. Ông ta phải đưa ra những quyết định và cho tới lúc đó thì có vẻ như mọi chuyện đang không đi đúng hướng. Nhưng chắc chắn là có rất nhiều hi vọng rằng ông ta sẽ bắt đầu đưa ra những cải cách giúp cho Syria tiến lên trước khi những vấn đề trở nên trầm trọng không thể giải quyết được nữa.

          JG: Bà sẽ buồn nếu như chế độ đó biến mất?

          HRC: Điều đó còn tùy thuộc vào chế độ nào sẽ thay thế.

          JG: Hãy nói về Tehran một chút, bởi lẽ Iran là cái bóng tối đang hiện ra lù lù trên toàn bộ vùng Trung Đông. Mọi vấn đề dù trên bất kỳ phương diện nào mà chúng ta đang giải quyết thì đều có thành phần “Iran”. Iran đang sợ hãi và hiển nhiên họ cũng đang nhìn thấy một số cơ hội. Để cho họ chứng kiến sự nổi dậy ở các nước Hổi Giáo là điều chẳng có gì tệ hại cả. Nhưng làm cách nào để chúng ta tách riêng họ ra, thúc giục họ đi tới cải cách thực sự và khuyến khích người dân đứng lên như họ đã làm hồi năm 2009?

          HRC: Chà, tôi rất lấy làm tiếc cho cái cách mà chế độ ở Iran đang đối xử với chính nhân dân của họ, cái mức độ đạo đức giả mà họ đang bộc lộ khi họ phản ứng trước sự nổi dậy ở khắp vùng này. Họ đã bộc lộ quả là một tài năng về chủ nghĩa toàn trị khi họ đã áp đặt một cơ chế kiểm soát tư tưởng tàn nhẫn tới mức thậm chí cơ chế ấy đã bắt đầu đi vào sách giáo khoa của nước họ, trở thành điều mà người dân có thể học, có thể thảo luận. Điều này trái ngược với tất cả những gì chúng ta biết về tâm lý của người Iran hiện đại, Iran đúng là một nơi kinh hãi nếu phải sống ở đó.

          JG: Chúng ta có thể làm gì?

          HRC: Ồ, tôi nghĩ chúng ta vẫn đang làm đấy chứ. Đầu tiên là vào năm 2009 có rất nhiều người Iran nắm rõ tình hình hiện đang sống ở trong hoặc ngoài đất nước này đã nói “Đừng cường điệu chuyện nổi dậy, đừng đề cao thái quá chuyện nổi dậy, chuyện đó phải được xuất phát từ trong nước, đừng biến nó thành điều gì đó mà nước Mỹ đang làm, chúng tôi cần đứng lên bằng đôi chân của chính mình.” Phần nào giống với cái cách của Quảng trường Tahrir, đó là thế này: “Đây là cuộc cách mạng của chúng tôi; bất cứ ai khác hãy tránh ra đừng làm cản đường chúng tôi.” Và việc chế độ ở Iran dùng vũ lực để dập tắt sự nổi dậy của người dân và sự dùng vũ lực vẫn đang tiếp tục biến thành một thứ chế độ độc tài quân sự, với Vệ binh Cách mạng về căn bản là lực lượng đảm nhận nhiệm vụ chính, đã khiến chúng ta thấy ngày càng rõ điều cấp thiết là chúng ta phải làm tất cả để ủng hộ những người đang đứng lên vì nhân quyền và vì nền dân chủ thực sự ở Iran.

          JG: Tôi nghĩ đây là cách đặt câu hỏi: Chúng ta có thể đầu tư vào Mùa Xuân Ả-Rập?

          HRC: Tôi cho là có thể, và tôi nghĩ là chúng ta có thể làm như vậy. Tôi nghĩ chúng ta đang nói rất rành mạch rằng người Iran đang cố gắng để được hưởng công trạng vì điều gì đó mà họ không chỉ chẳng có gì liên quan tới mà không những thế họ còn chống lại chính điều đó và họ không đáng để có được bất kỳ lòng tin nào của người khác.

          JG: Giả sử như bà phải trở đi trở lại với những câu hỏi nói trên, bà – và cả tôi nữa chỉ muốn đi tới hai điều chung cuộc về tiến trình hòa bình ở Trung Đông – nhưng giả sử có ai đó ở Ai Cập nghĩ về bà như là người bạn tốt nhất của Mubarak và một người nào đó ở vùng Vịnh nghĩ về bà kiểu như một Wolfowitz mắt hiếng [Wolfowitz là thứ trưởng quốc phòng dưới thời Tổng thống George Bush (con) và là người kiến tạo cuộc chiến đánh I-rắc sau vụ ngày 11 tháng 9. Ông được bổ nhiệm là giám đốc Ngân hàng thế giới nhưng đã phải từ chức sau mấy tháng vì vụ rắc rối liên quan đến việc ông tăng lương cho cô bạn gái người Trung Đông] hoặc đại loại vậy —

          HRC: Ông có thể gọi tôi là mắt hiếng nhưng đừng so sánh tôi với chuyện đó. (Cười.)

          JG: Nhưng tôi thấy điều này đáng lưu ý bởi vì bà nghe thấy, không chỉ ở đây [Bộ ngoại giao] mà còn ở Nhà Trắng nữa, người ta nói rằng, “Ồ, các anh tỏ ra quá chậm chạp trong chuyện Yemen hoặc quá chậm chạp trong chuyện này” —

          HRC: Ý tôi muốn nói là học thuyết của tôi là Học thuyết Goldilocks [Goldilocks là tên cô bé trong câu chuyện dành cho trẻ em có tên “Câu chuyện về cô bé Goldilocks và ba con gấu”, cốt truyện hơi giống như Nàng Bạch tuyết và 7 Chú lùn] – không nóng quá, không nguội quá, nhiệt độ chỉ vừa vặn thích hợp.

          JG: Tôi hiểu ý bà định nói gì. Nhưng hãy cho phép tôi nhắc lại câu hỏi này: Bà giải quyết cách nào với sự đạo đức giả, tức là bà đối xử với một một nước theo một cách và đối xử với một nước khác theo một cách khác?

          HRC: Tôi không làm thế. Tôi thành thật tin rằng không nơi nào giống nơi nào. Có những khuynh hướng, song tôi suy nghĩ là sau khi Bức tường Berlin sụp đổ thì nước Đức đã phản ứng như thế nào và Ba Lan đã phản ứng như thế nào, chúng ta không thể nói rằng có một cái mẫu chung vừa vặn cho tất cả.

          JG: Nhưng như thế sẽ dễ dàng hơn.

          HRC: Tôi không biết có dễ dàng hơn không. Ý tôi định nói là tất cả chúng ta đều là tù binh của trải nghiệm của chính chúng ta. Chúng ta có thể nhìn vào thời kỳ quá độ đi tới dân chủ ở các nước Mỹ La Tinh và ở châu Âu – hãy nhìn vào Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Không có hai nước nào giống hệt nhau. Có thể có những khuynh hướng chung, và chúng ta hi vọng các nước cùng đi tới được điểm đến giống nhau ở cuối hành trình, nhưng Yemen hoàn toàn khác với Libya, trên mọi phương diện mà chúng ta có thể nghĩ tới.

          JG: Hãy dành một chút thời gian để bàn về tiến trình hòa bình ở Trung Đông. Người Israel và rất nhiều người ủng hộ họ ở Mỹ sẽ nói “Xem kìa, cuộc nổi loạn của người Ả-rập đang chứng minh rằng người ta không lo ngại về những người Palestin; người ta đang lo ngại về một sự thiếu trách nhiệm giải trình của các chính phủ v.v. cơ hội kinh tế –”

          HRC: Các nước đang lo ngại về cả hai.

          JG: Mùa Xuân Ả-rập có liên hệ thế nào với tiến trình hòa bình ở Trung Đông? Và Mùa Xuân À-rập có tác động thế nào, tác động bất lợi hoặc tác động tích cực?

          HRC: Điều tôi suy nghĩ tới nhiều là sự sắp xếp thành trình tự, Jeff ạ. Ngay lúc này đây, người dân ở Ai Cập, chẳng hạn, đang tập trung nhiều vào tương lai của chính họ. Điều này không có nghĩa là sự xung đột giữa Ả-rập và Israel không được đặt ra, bởi vì vấn đề này đã được đặt ra khi tôi tới đó, nhưng nó không xuất hiện như là vấn đề duy nhất mà mọi người muốn nói với tôi, điều này trong quá khứ đôi khi cũng đã xảy ra. Đã từng xảy ra, chẳng hạn, “Thôi được, tạm thời chúng ta phải tôn trọng hòa ước ký ở Trại David, nhưng các ông biết là chúng ta sẽ phải nghiên cứu vấn đề này khi chúng ta có một chính phủ mới, sau khi chúng ta đã ổn định hơn, chúng ta sẽ tìm hiểu xem mối quan hệ của chúng ta thực sự là gì. Nước Mỹ không phải là một người tự động ủng hộ cho tiến trình hòa bình ở Trung Đông, nhưng hiện tại thì chúng ta buộc phải để cho nền kinh tế tiếp tục hoạt động, chúng ta phải để cho giai đoạn chính trị quá độ được hoàn thành cái đã.”

          Như vậy, vấn đề không giống như là gạt nó ra khỏi chương trình nghị sự. Nó chỉ đơn giản là đang kẹt ở trong một góc nào đó cho tới khi các vấn đề khác đã được giải quyết xong. Nhưng nếu chúng ta tiếp xúc với Vua Abdullah của Jordani thì sẽ thấy là tiến trình hòa bình ở Trung Đông vẫn là vấn đề rất lớn trong suy nghĩ của người Jordani, bởi vì họ sống với điều đó mỗi ngày.

          JG: Như vậy là sự không tiến bộ có thể gây tác động bất lợi tới –

          HRC: Chẳng có điều gì mà tôi lại không nhắc đi nhắc lại nhiều lần và tôi đã nói với các bạn bè Israeli là bởi vì tôi yêu Israel và tôi có quan điểm rất chắc chắn về tương lai. Tạm thời lúc này chúng ta có một chính phủ thế tục ở bờ Tây sông Jordan đã đem lại sự tiến bộ về kinh tế và đã có những tiến bộ về an ninh. Nhưng hiện nay Israel đang phải đối phó với một môi trường rất dễ thay đổi, và tôi dù thế nào đi nữa cũng không coi nhẹ mức độ khó khăn. Điều này đã xảy ra ở Ai Cập [thí dụ đầu tiên] và chúng ta đã thấy là người Israel bình luận là họ không chắc sự thay đổi ở Syria có đem lại lợi ích cho Israel.

          JG: Tôi đang tự hỏi có phải điều này đã gây ra một sự ảnh hưởng nào đó tới cái cách chính phủ Israel đang bàn về [Syria] —

          HRC: Chắc chắn tôi không thể không nhận ra điều đó. Tình hình ở Lybia hiện nay cũng không chắc chắn. Như vậy giờ đây Israel đang có những vấn đề thực sự và họ bắt buộc phải giải quyết theo những cách mới, trong khi đó những thay đổi vẫn tiếp tục diễn ra. Tôi vẫn tin rằng sẽ là vì rất nhiều lợi ích và an ninh của Israel nếu họ thực sự chuyển hướng sự chú ý tới tiến trình hòa bình và đề ra được một thỏa thuận thích hợp với Chính quyền Palestin vì sự giữ gìn an ninh cho Israel.

          JG: Một câu hỏi cuối cùng về chủ đề này: cách đây khoảng bốn năm tại văn phòng Thượng nghị sĩ của bà chúng ta đã bàn về Isreal và làm thế nào để Israel chấp nhận những nhượng bộ cần thiết vì nền hòa bình. Một trong những điều bà nói hôm đó đã khiến tôi chú ý ấy là, theo sự hiểu biết của bà về tâm lý của người Israel thì người Israel sẽ tiếp tục bàn đến những vấn đề này khi nào mà họ cảm thấy an toàn trong vòng tay ôm ấm áp của Hoa Kỳ –

          HRC: Đúng.

          JG: — khi họ biết rằng có người đứng đằng sau họ. Và khi họ cảm thấy bị Hoa Kỳ xa lánh, như họ đã từng cảm thấy như vậy trong hai năm đầu tiên của chính quyền hiện nay, thì họ trở nên ít có khả năng vận động. Điều này vẫn tiếp tục đúng hay chỉ đơn giản là Thủ tướng Netanyahu đang chứng tỏ không muốn vận động dù là có một vòng tay ôm ấm áp hay không?

          HRC: Tôi nghĩ ông ấy có những mối bận tâm rất nghiêm túc cần phải giải quyết.

          JG: Những mối bận tâm về an ninh quốc gia hay những mối bận tâm về quan hệ đồng minh?

          HRC: An ninh quốc gia là mối bận tâm đầu tiên và quan trọng nhất của ông ấy. Nhưng điều hiển nhiên là ông ấy đang ở trong địa hạt chính trị. Tôi đã từng ở trong địa hạt chính trị. Ông ấy còn phải lo lắng đến lập trường chính trị của mình. Nhưng so với bất kỳ chính quyền nào khác trong quá khứ thì chính quyền này, chính quyền của Obama chắc chắn đã làm được nhiều điều hơn cho an ninh của Israel chỉ trong một thời gian ngắn. Sự hỗ trợ và ủng hộ của Mỹ dành cho Israel để giảm nhẹ mối lo ngại chính đáng về an ninh của Israel, công việc chúng tôi đang làm nhằm ngăn chặn Iran, các biện pháp trừng phạt mà chúng ta đã dàn xếp được trước sự ngạc nhiên của tất cả mọi người, sức ép của chúng ta đối với Iran – chúng ta đã thực sự phối hợp chặt chẽ với Israel trong những vấn đề quan trọng có ý nghĩa cơ bản đối với an ninh của Israel. Như vậy tôi cho là chúng ta phải đánh giá theo cách đó, bởi vì chúng ta chắc chắn sẽ thực hiện những điều đã cam kết.

          ***

          (Jeffrey Goldberg là phóng viên của tờ The Atlantic. Ông là tác giả cùa cuốn sách viết về Trung Đông và châu Phi có đầu đề Những người tù: một câu chuyện về tình bạn và sự khủng bố[Prisoners: A Story of Friendship and Terror]. Cuốn sách này đã được các báo Los Angeles Times,New York Times, Washington Post, Slate Magazine, Progressive, Washingtonian MagazinePlayboy ca ngợi là cuốn sách hay nhất của năm 2006.

          Trước khi là phóng viên của tờ The Atlantic vào năm 2007, Jeffrey Goldberg là phóng viên của tờNew Yorker chuyên viết về Trung Đông và Washington. Trước đó ông là phóng viên của tạp chíNew York Times Magazine, và New York Magazine. Ngoài ra ông còn viết cho tờ Forward và phụ trách một chuyên mục của tờ The Jerusalem Post.

          Năm 2003 Goldberg nhận giải thưởng National Magazine Award vì thành tích đưa tin về khủng bố Hồi giáo. Ông còn được giải của Tổ chức Quốc tế Phóng viên Điều tra [International Consortium of Investigative Journalists]; giải thưởng của Overseas Press Club vì những bài báo xuất sắc viết về nhân quyền và giải thưởng Abraham Cahan Prize về nghề làm báo. Năm 2005 ông nhận giải thưởng Daniel Pearl của Liên minh chống phỉ báng người Do Thái [Anti-Defamation League Daniel Pearl Prize].

          Người dịch: Hiền Ba

          Bút Gà (chấp bút Đinh Thế Huynh) gởi ông Lê Doãn Hợp bộ trưởng TT-TT (4T)

          Bút Gà (chp bút Đinh Thế Huynh) gi ông Lê Doãn Hợp bộ trưởng TT-TT (4T)

          T, Bút Gà, chp bút cho (th) anh Đinh Thế Huynh ca b hu đng (BCT) bình vôi đng CSVN, đang ngồi chầu thì bà thét to bảo phải dập tắt ngay tiếng chuông vang vang đang làm váng óc bà. Bà phán là đã có tiếng “chuông gọi hồn ai”. Các cậu biết tiếng chuông (tuyên cáo) đó ở đâu ra hay lại vờ vịt để các anh phải chỉ ra. Đây là giờ thứ hai mươi nhăm, giờ quyết liệt. Nuôi quân ba năm, dụng quân một giờ. Các anh đã nuôi dưỡng hơn 700 tờ báo, cả chục đài truyền hình các cậu bao năm nay thì giờ này các cậu phải thi hành “nhiệm vụ chính trị được giao” xuất quân báo (ơn) đảng.

          Các anh đã gởi thủ nhang Hồ Xuân Sơn thứ trưởng Bộ Ngoại giao (gian) đến dâng hương khấn lời hữu hảo “thực hiện nghiêm túc thỏa thuận”. Trước đó thì bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh đã “hội đàm hữu hảo song phương” lặp lại lời 4 tốt “anh em tt, đi tác tt, bn bè tt, đng chí tt” v.v… thế mà đồng chí anh em môi (ta sơ) hở răng (anh) cạp (thêm cái lưỡi bò liếm tuốt luốt biển đảo) cũng chẳng tin tưởng. Đồng chí anh em nay lại vời các cậu về chầu thiên triềui nghe huấn thị đi theo lề báo Đảng CSTQ. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao TQ Hồng Lỗi ranh đe các cậu phải quản lý, đăng lại các bản tin TQ không được biên tập, sửa đổi đấy à.

          Tuần trước tớ đã tất bật chấp bút sổ toẹt vài dòng cho các tay nhân sĩ, trí thức gởi kiến nghịii nhằm bịt miệng chúng. Thế đấy, chúng lại biết tỏng là các anh mày chỉ vất kiến nghị vào sọt rác chả bao giờ phúc đáp nên đã ra trò, giở quẻ. Các anh mày đang điên tiết lên vì chúng. Các anh đã biết chắc có ai đứng sau lưng, ai trả tiền cho chúng. Chúng to gan không thậm thụt cửa sau với bộ ngoại giao (gian) và quyết liệt từ chối giao tiếp theo cơ chế xin-cho.iii Chúng đã thực thi tinh thần dân chủ và thực hiện quyền công dân có tự do ngôn luận để ra “Tuyên cáo đặc biệt”iv. Đó là tiếng reo vang dũng cảm của các cây thông, cây tùng, cây cổ thụ và ngàn vạn cờ lau cũng sẽ đáp tiếng réo hò.

          Bịt miệng chúng không xong mà kéo chúng vào đồng lõa, tòng phạm cũng chưa được thì chỉ có cách dùng tuyệt chiêu cuối cùng – chước người-ngoài-cuộcv. Các cậu phải cô lập những cây cổ thụ trong giới trí thức và nhân sĩ để ngàn vạn cờ lau thanh niên, sinh viên, trí thức trẻ không trỗi dậy thành rừng. Chúng ta không thể để bọn cờ lau dương ngọn cờ Đinh Bộ Lĩnh.

          Lúc trước các cậu đã giao cho cái phèng la (Đông La) đồng thau dùng bút tà vẩy mực bôi đen các tay “phản động”. Bà đồng không quên phát lộc cho chúng. Giờ thì các cậu phải tiến cử các ngòi bút (tà) vạch lá tìm sâu để đánh đổ các cây đa, cây đề này. Đó là chiến thuật “kẻ sĩ/sỉ nhục kẻ sĩ”vi. Nhắc cho các cậu nhớ là ta phải dùng các ngòi (bồi) bút khác chứ đừng dùng cái phèng la rỉ sét cũ nữa.

          Thế nhưng việc tối quan trọng hơn cả việc cô lập các cây cổ thụ là các cậu phải vô hiệu hóa đám cờ lau này thành những người-ngoài-cuộc – những kẻ “thức thời” thời thượng chỉ nhướng mắt xem.

          Các cậu biết rồi đấy, rất dễ thôi nhưng chớ khinh suất. Phải làm cho chúng thấy sự an toànvii cá nhân và gia đình là cơ bản còn tất cả thứ khác đều tuốt tuột. Phải dùng oản lộc để lôi cuốn chúng về làm thủ nhang, đồng đèn, thủ anh, lính chị cho bình vôi–bái vật–bà đồngviii.

          Trên các phương tiện truyền thông, các trang mạng đưa tin những chuyện lộ hàng, gú gái kích thích cho gú-gồ hàng nóng. Các đài truyền hình phải mở ra nhiều trò chơi mua vui cá nhân cạnh tranh, kè cựa lẫn nhau kiểu “ái-đồn” (idol) “mó-đồn” (model), siêu sao điểm hẹn, ái ngã đề cao bản thân (narcissitic). Mở các chương trình đấu giá từ thiện khuyến khích giới trung lưu tham gia phong trào làm công quả, làm từ thiện mua tín chỉ đạo đức cùng lúc tránh né vấn đề “nhạy cảm” về nước, về dân.

          Một mặt các cậu tung tin rối loạn mọi thứ để tạo tâm trạng bấn an, để tạo nỗi sợ hãi mơ hồ bao trùm trong cuộc sống.

          Các cậu phải liên tục tăng cường đăng tải tin vật giá leo thang, cổ phiếu trồi sụt, vàng bạc kỷ lục, điện cúp, thiếu xăng, hố tử thần, tai nạn giao thông, nhà trẻ bạo hành, ly dị ly hôn, đốt nhà đốt trường, cướp đường cướp chợ.

          Các cậu gài khung cho ngôn từ “trật tự”, “ổn định” với nhà nước chuyên chính độc tài và gài khung “khích động”, “hỗn loạn” cho các phong trào đấu tranh dân chủ tự do. Người dân với tâm trạng bất an thường xuyên về kinh tế, đời sống chỉ muốn “trật tự” và “ổn định” để làm ăn và như thế tự họ sẽ đứng bên lề với các “nhạy cảm” tự do dân chủ.

          Các cậu phải biết đa số nhân dân rất chán ghét chế độ ta nhưng không biết phản kháng lại. Họ là số đông thầm lặng, những con dân chân lấm tay bùn, mặt cúi đất lưng đội trời, lo ngày hai bữa (thời bão giá nên 3 rút lại còn 2) đầu tắt mặt tối, chỉ thầm than thân trách phận. Họ oán, họ hận nhưng bao thời gian đã dành để kiếm cơm đổ vào cái bao tử, dạ dày thì còn hơi sức đâu để mà phản kháng. Họ bị gạt ra ngoài lề của xã hội và làm người-ngoài-cuộc của thời cuộc nhiễu nhương. Đấy là ý nguyện sâu xa của đảng ta từ ngày cướp chính quyền. Các chú mày quên rồi nhẩy.

          Mặt khác các cậu đưa tin về thành công, thành đạt cá nhân, hào quang siêu sao, thần tượng để tạo một ước mơ, một đối tượng cho thanh thiếu niên khát khao tìm kiếm với ý nghĩ rằng ta cũng có thể vươn lên. Từ “kinh tế thị trường” bung ra cũng được khối việc. Chúng sẽ dồn hết tâm tư sức lực để vuơn lên với ảo tưởng mình cầm trong tay chiếc vé số độc đắc. Chúng không biết rằng những vé số độc đắc đó các anh mày đã phân phát cho thiếu chủ CCCC (con cháu cáu cụ) bộ sậu. Và muôn đời chúng sẽ là những người đứng bên lề.

          Khi đa số chúng đã hành xử như người-ngoài-cuộc thì những cây cổ thụ kia chỉ đơn độc “làm cây thông đứng giữa trời mà reo” hò hét khản cổ, hết hơi cho đến thân tàn. Đó chẳng phải là độc chiêu chứ là gì!

          Này, bà phán là đã có tiếng “chuông gọi hồn ai” thì các cậu phải biết ai ấy là các cậu đấy. Các cậu liệu hồn. Muốn giữ chân/thân thì phải khẩn trương vô-hiệu-hoá bọn cờ lau thành những người-ngoài-cuc.

          v Hiu ứngngười-ngoài-cuc(Wikipedia: Bystander effect) hochi chngGenoveselà mt hin tượngtâm lýxã hiđ cp đếntrườnghp cá nhânkhôngtham giagiúp đ trongmttình hung khn cpcho nn nhânkhi đãnhng người khác chung quanh. Xác sutgiúp đtỷ lệ nghchvới s lượngngười xung quanh, nói một cách khác,slượngcanhng người xung quanh càng ln hơn thìít có kh năngbt kỳmt trong s hs giúp. Chcần s hin dincanhng người xung quanhkháclàm đã làmgims can thip. Điu này xy rabi vì khis người xung quanh gia tăng, bt kỳngười ngoài cuc ít nhận thấy được s c, ít có kh năngxems kinlà mt vn đ, ít có kh năngnhận trách nhim để hành đng.

          Bút Gà



          Cuộc họp khoáng đại của ông Trần Trung Dung

          Kính thưa quý thính giả !

            Ngày 31 tháng 7 năm 2011 vừa qua ông Trần Trung Dung chủ tịch cộng đồng Seattle và vùng phụ cận có mở một phiên họp khoáng đại,phiên họp này có mục đích làm sáng tỏ mọi chuyện trong nội bộ của ông,chuyện lộn xộn trong nội bộ có những lời qua tiếng lại trên diển đàn cũng như những tờ truyền đơn dán ở các khu chợ Việt Nam,phía bên ông Phó Chủ Tịch Quang Adam Nguyễn cùng các ông Tôn Thất Hồng(chủ tịch Giám Sát),Nguyễn Văn Diệp(chủ tịch quản trị),Nguyễn Trọng Nghị…Đã cáo buộc ông Chủ Tịch Trần Trung Dung thâm lạm công quỹ,dùng tiền công quỷ để trả tiền điện thoại cá nhân… Họ đã ra liên tiếp hai thông báo để kết tội ông Dung và truất phế. Ông Dung không đồng ý về những cáo buộc đó,ông cho đó là sự bịa đặt để bêu xấu ông,chính vì vậy ông mở phiên họp khoáng đại để chứng minh những điều phía Quang Adam Nguyễn nói là sự vu cáo.Trong buổi họp khoáng đại ông Dung đã đưa ra những bằng chứng có liên hệ tới những cáo buộc cho ông,trong buổi họp này phần quan trọng nhất là ông Trần Trung Dung nêu lên lập trường về chính trị của ông “ Không chấp nhận những thành phần trong tổ chức cộng đồng có liên hệ làm ăn buôn bán với Việt Cộng,điển hình là ông Hà Thúc tiến uỷ viên thanh niên,tôn giáo,chính trị…”

             Kính thưa quý thính giả!

            Chúng tôi mời quý thính giả nghe lại một đoạn ghi âm(do Bia Miệng) trong buổi họp,chúng tôi có ghi âm đầy đủ từ đầu đến cuối,tất cả hơn hai tiếng đồng hồ,vì quá dài chúng tôi không post hết lên được,chúng tôi chỉ post phần quan trọng trong buổi họp,sở dĩ chúng tôi cho là quan trọng vì có nói đến lập trường chính trị,nói đến một vài thành phần trong tổ chức cộng đồng này có một lập trường không phải của người Quốc Gia. Trong đoạn ghi âm này có hai câu hỏi của anh em Bia Miệng ,đại ý hai câu hỏi như sau

          1/ Ông cho biết lập trường khác biệt giữa ông và ông Quang Adam Dam Nguyễn,điều này ông đã nói trong thư từ chức viết hồi tháng 12 năm 2010?

          2/ Ông Đã xác nhận lạp trường của ông là không chấp nhận nhữ người có liên hệ với VC nằm trong tổ chức cộng đồng như ông Hà Thúc Tiến,còn những kẻ ủng hộ ông HTT như ông Tôn Thất Hồng…thì sao? Ông Lý Anh Kiệt là người như thế nào trong vai trò vừa bổ nhiệm chức tổng Thư Ký ?

          Kính mời quý vị bấm vào để nghe.


          PHÓ THƯỜNG DÂN(9) VÔ LIÊM SĨ_MAN RỢ

          Phó thường dân (9): vô liêm sỉ – man rợ

          [tiếp theo kỳ trước: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu - (8) Gió mưa là chuyện của trời …]

          People have to make do with what they have … there is a certain art of placing one’s blows, a pleasure in getting around the rules of constraining space.

          (Người ta cũng chỉ làm được với những gì họ có … đó là một nghệ thuật trả miếng, một cái hả hê khi vượt qua các luật lệ của khoảng giới hạn bóp nghẹt.)

          Michel de Certeau

            Những ngày chủ nhật tháng 6 và tháng 7 năm nay, hay đúng hơn là những tối thứ bẩy ở đây (cách xa Việt Nam gần nửa vòng trái đất), phó thường dân tôi vẫn hướng về đất nước mình, với hy vọng, với âu lo, và với phẫn nộ. Chúng tôi dí mắt vào máy tính xem tin tức cập nhật từ blog Anh Ba sàm, blog Nguyễn Xuân Diện và Dân Làm Báo.

          Nỗi hân hoan phấn khởi nhìn những đoạn video và hình ảnh cuộc biểu tình vài tuần trước (24 tháng 7) như cơn nước vỡ bờ. Phó thường dân tôi cảm động vô cùng khi nhìn thấy cảnh các bác, các cô chú, các em thanh niên và cả các cháu bé đã có được một khoảng thời gian ngắn, một mảng không gian vừa đủ tự do biểu lộ quyền công dân và tình yêu nước sâu khẳm trong lòng.

          Thế mới biết sự phẫn nộ và sức mạnh của đám đông. Và không ai có thể tước được quyền lực của chúng ta, ngoại trừ chúng ta. Ngay cả những người bị giam cầm, khoá tay, bịt miệng vẫn có sức mạnh và quyền lực của họ. Đó là quyền lực của lương tri Việt Nam đương đại mà Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Phạm Thanh Nghiên, Cù Huy Hà Vũ, Phạm Minh Hoàng, Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, Lê Công Định, Trần Anh Kim, LM Nguyễn Văn Lý v.v… đang gánh gồng với với bao oan khiên, khổ ải.

          Tiếc thay, ngay sau những cuộc biểu tình đó lại có những lời phê phán “vô liêm sỉ” và “man rợ” [1] về lời lẽ dung tục và hành động phản kháng trong bức xúc của những người đi biểu tình bị bắt.[2]

          Nghe đến “máu trên máu dưới trét vào mặt” thì cánh đàn ông chúng mình hãi thật. Vì sao? Vì mình là đàn ông mà dây phải thứ đó thì có mà “nhục”. Vì thuộc phái “yếu”mà đấng trượng phu mày râu nếu vấy vào thì có mà bị bêu xấu. Chung quy là vì mình đã được điều kiện hoá xem đấy là dơ bẩn, xấu xa.

          Không biết cánh phụ nữ thì nghĩ gì nhưng tớ đoán là các bà nghe cũng chối đấy (vì cũng bị điều kiện hóa) nhưng chắc chắn không hãi tiệt như chúng mình. Vì sao? Vì máu đó là một phần thân thể của họ. Họ có thể che, dấu nhưng không thể dứt bỏ được. Máu kinh nguyệt là một đặc ân để các phụ nữ – bà và mẹ của mình – có thể cưu mang ra các đấng mày râu chứ chẳng phải đùa đâu.

          Ngược lại, giới mày râu chúng ta cứ thì văng tục “đ.m.” vô tư, thoải mái theo quán tính và hệ thống. Tại sao?

          Này, tớ phải thú thật với các cậu cánh đàn ông chúng mình nhé. Ví dụ nếu một tên “lạ” độc ác nào đó kê súng vào màng tang của tớ và bảo phải lựa chọn giữa một trong hai hoặc phải “đ.m.” hoặc “máu trên máu dưới trét vào mặt” thì tớ hai tay xin chọn giải pháp sau. Chẳng phải “đ.m.” là đáng ghê tởm hơn “máu dưới” sao? “đ.m.” hàm chứa bạo hành hãm hiếp và sỉ nhục đến giới phụ nữ tước đoạt phẩm chất con người không những của người mẹ mà còn cả dòng tộc, con cháu từ thế hệ này sang thế hệ khác. Thế nhưng trong xã hội phụ hệ thì từ “đ.m.” đã được bình thường hoá như là một tiếng đệm, một tiếng của quyền lực. Và ngược lại “máu dưới” là dơ bẩn, xấu xa.

          Phó thường dân đã từng được nghe có cậu nói rằng khi nào hăng “máu” lên văng “đ.m.” liên tục thì thấy “đã”, “sướng” (tự sướng đấy nhé!). Tương tự đó là “con c..” đối nghịch với “cái l..”. “Con c..” thường được dùng trong ngữ cảnh quyền lực còn “cái l..” thì lại trong ngữ cảnh dơ bẩn, xấu xa, ô nhục. Mà cường độ hoá cái xấu hơn nữa là “cái l.. què”.

          Ngôn ngữ luôn hàm chứa quyền lực: cá nhân, giới tính, phe nhóm, giai cấp, và nhà nước. Ví dụ như từ “man rợ” chẳng hạn. Không biết từ “man rợ” được dùng từ lúc nào nhưng vì phó thường dân tôi chữ nghĩa không đầy cái lá mít nên xin nhường cho các nhà ngôn ngữ học truy tầm. Từ “man rợ” mang đầy quyền lực của đại Hán Trung Quốc đối với giống “man di” ở phương Nam, của thực dân đối với người thuộc địa, và ngay cả của người Kinh đối với người Thượng, người dân tộc miền núi sâu xa.

          Khi nhìn và phán đoán các hành động và sự kiện chúng ta cũng cần để ý đến tương quan quyền lực. Giữa những cá nhân với nhau (chưa hẳn là quyền lực bằng nhau vì khác biệt giai cấp, giới tính, tính đại diện) thì những từ dung tục được xem là hạ cấp (theo giới có học). Còn giữa cá nhân đối với nhóm/tập thể quyền lực thì lại là vấn đề khác.

          Khi một bà răng đen, váy đụp dùng “đồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm” đối lại với ông hia mão “miệng nhà quan có gang có thép” thì đó là một phản kháng vô cùng thâm thúy. Ai cũng tán thưởng chứ nào có ai nói là bà ấy “man rợ”. Cũng như thế, một Minh Hằng (cá nhân, nữ) đem cái “máu trên máu dưới trét vào mặt” đó để đối lại với băng đỏ của đám dân phòng (nhà nước, nam) rất là thích đáng vì các hành động trấn áp độc ác, vô nhân (tránh dùng từ man rợ) của họ. Một bên là cá nhân xử dụng vũ khí duy nhất (một phần thân thể) của mình để kháng cự lại tập đoàn quyền lực với dùi cui, roi điện, bình xịt cay, vòi rồng, còng sắt, súng ngắn, súng dài. Đối tượng Minh Hằng chửi rủa không phải riêng một cá nhân nào nhưng là những tên đại diện cho guồng máy quyền lực độc tài vô nhân đàn áp đồng bào.

          Vô nhân (man rợ) là Đại úy công an Phạm Hải Minh thô bạo đạp lên mặt anh Nguyễn Chí Đức· [3] biểu tình chống bá quyền Trung Quốc xâm lấn biển Đông.

          Vô nhân là bắt người vô tội bằng hai bao cao su, bằng gán ghép trốn thuế, bằng điều 88 luật hình sự· [4]

          Vô nhân là đám dân phòng, cảnh sát, công an, an ninh bóp cổ, túm cẳng, lôi sềnh sệch, rồi quẳng đồng bào yêu nước biểu tình vào xe như đem heo về lò sát sinh.

          Vô nhân là đám công an huyện Tân Yên, Bắc Ninh hành hung đánh chết anh Nguyễn Văn Khương chỉ vì lý do đi xe máy không đội mũ bảo hiểm.

          Vô nhân là Trung tá Nguyễn Văn Ninh và công anh phường Thịnh Liệt đánh trọng thương gãy cổ ông Trịnh Xuân Tùng· [5] không cho gia đình thân nhân đưa cấp cứu dẫn đến tử vong.

          Vô nhân là cướp đất người dân mất nhà, mất ruộng không nơi ở không phương tiện mưu sinh

          Nếu nói Bích Hằng “vô liêm sỉ” thì thật là … sao nhỉ.

          Vô liêm sỉ là điều 4 hiến pháp CHXHCN Việt Nam: độc tài, độc đảng, độc quyền.

          Vô liêm sỉ là tự bầu, tự bổ nhiệm vai “đầy tớ”, làm “công bộc của dân”· [6] tên Nguyễn Tấn Dũng.

          Vô liêm sĩ là tay giám đốc công an t/p Hà Nội Nguyễn Đức Nhanh mặt dầy đổi trắng thành đen· [7] để “chơi” đồng chí của họ.· [8]

          Vô liêm sĩ là thẩm phán và hội đồng xét xử của toà án bỏ túi (kangaroo court) đối với người yêu nước như Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Cù Huy Hà Vũ, Phạm Thanh Nghiên, v.v…

          Vô liêm sỉ là tự phong hàm áo thụng vái nhau, tự tiện cấp theo cơ chế tại chức và mua bằng “tiến sĩ” giấy.

          Vô liêm sỉ là con đường hoạn lộ của CCCC như Nông Đức Tuấn, Nguyễn Thanh Nghị· [9] và vô số trong BCT, BCH TW ĐCSVN, cơ quan nhà nước.

          Vô liêm sỉ là tên ma cô và kẻ mua bán dâm trẻ vị thành niên Chủ tịch Tỉnh Hà Giang Sầm Đức Xương và Hiệu trưởng Nguyễn Trường Tô.· [10]

          Phó thường dân tôi đã được cho đi ăn học chút chữ nghĩa, làm việc lương trung bình, sống đời trung lưu, tự/bị cho mình là “trí thức tỉnh lẻ”. May là chúng tôi chưa được đọc “sấm” Hegel hoặc thấm nhuyền “tư tưởng đạo đức” Hồ Chí Minh nên tư duy theo thành phần giai cấp tạch-tạch-sè. Không ít trong giới chúng tôi đôi (nhiều) lúc muốn tỏ ra có cái nhìn tưởng như là khách quan trong lý luận và phán xét sự việc nhưng thực ra lại ẩn chứa một cái nhìn thiên vị nghiêng về quyền lực. Dĩ nhiên khi đó chúng ta quên mất cái tương quan quyền lực mà phang ngòi bút vô tội vạ đến những người nói năng “hạ cấp”. Ngược lại nếu một khi đã rời tháp ngà, dù chưa phải ở gầm cầu xó chợ, được chung đụng với người dân dã thì ta dễ có thể thông cảm và hiểu hơn những nỗi bức xúc với cuộc sống. Lúc đã xem họ như mình thì chắc chẳng ai lại hạ bút “phán” những từ như vậy.

          © 2011 Vietsoul:21

          CHÚ THÍCH:

          [1]Biểu tình, ừ thì biểu tình …, blog Mr. Đỗ

          [2]Biểu tình trên xe buýt ngày 17/7/2011, youtube

          [3]Đàn áp dã man lòng yêu nước – CA đạp vào mặt người biểu tình, youtube

          [4]Điều 88 bộ Luật Hình Sự: Công cụ chuyên dụng diệt trí thức Việt Nam, Dân Luận

          [5]Trung tá công an đánh gẫy cổ dân đến chết, RFA

          [6]Thủ tướng Dũng nguyện “làm công bộc của dân”, Đàn Chim Việt

          [7]Nguyễn Đức Nhanh: “công an không đàn áp, đánh người biểu tình ở Hà Nội …”, Dân Làm Báo

          [8]Họ đã “chơi” đồng chí của họ, Dân Làm Báo

          [9]Quét mãi lá đa, Dân Làm Báo

          [10]Quan chức mua dâm vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, Báo Tổ Quốc

          KỊCH : NẺO NGUỒN HỒI TƯỞNG

          GARDEN GROVE (NV) – “Sau 6 năm làm công tác xã hội, tôi nhận ra rằng những kiến thức trong nhà trường Mỹ không thể áp dụng đối với cộng đồng người Việt hải ngoại, bởi vì cộng đồng này trải qua những thăng trầm đặc biệt.

            Ðồng hương tập dợt cho hội kịch “Nẻo Nguồn Hồi Tưởng.” (Hình: Nguyễn Hữu Quỳnh Trâm cung cấp)

          Tôi muốn đi tìm nguyên nhân làm cho cộng đồng mình không đoàn kết, không phát triển hay bị lấn cấn, không tiến tới được cũng không thoái lui được. Cuối cùng tôi tìm ra được mẫu số chung, đó là vấn đề ký ức tập thể.”

          Sinh viên tiến sĩ Nguyễn Hữu Quỳnh Trâm của đại học University of Tilburg, Hòa Lan, chia sẻ cùng phóng viên Người Việt về hội kịch “Nẻo Nguồn Hồi Tưởng” có liên quan đến luận án tiến sĩ mà cô đang thực hiện, sẽ được trình diễn vào chiều Chủ Nhật, 21 tháng 8, tại Thư Viện Việt Nam, 10872 Westminster Ave., Suite 214 & 215, Garden Grove, CA 92843.

          Theo sinh viên tiến sĩ Quỳnh Trâm, kịch nghệ là phương tiện để tìm sự đồng cảm giữa người xem và người diễn kịch. Hội kịch là một phương pháp mới, không giống như phương pháp xưa nay là phải có sân khấu và khán giả ngồi dưới nhìn lên, mà ở đây có sự sinh hoạt tác động qua lại giữa người xem và người diễn kịch. Tiếng Mỹ gọi là “forum theater.” Những người diễn kịch này cũng không phải là diễn viên chuyên nghiệp.

          Theo Quỳnh Trâm, hội kịch là phương pháp cô đã nghiên cứu trong vòng 5 năm nay, bao gồm ba ngành công tác xã hội, khoa học xã hội, và khoa học nhân văn gộp lại.

          Hội kịch “Nẻo Nguồn Hồi Tưởng” gồm 3 vở kịch nhỏ, nội dung trong đó bao gồm, “thứ nhất là nói đến những vấn đề đời thường hàng ngày. Qua đó đưa ra những vấn đề có tầm mức cộng đồng, tức là ai cũng có thể nhìn thấy mình trong vở kịch đó. Thứ hai là vấn đề khác biệt trong văn hóa Ðông-Tây, văn hóa Việt-Mỹ. Thứ ba là những khác biệt giữa 3 thế hệ người Việt nơi đây.” Cô Quỳnh Trâm cho biết.

          Năm 1984, lúc 22 tuổi, Quỳnh Trâm đã là một thuyền nhân. Ký ức về hành trình vượt biển cùng 41 người trên một chiếc ghe trong mùa mưa bão, máy hư, không nước uống, đã cho cô những kinh nghiệm sống chết quý báu, để khi đặt chân đến Mỹ năm 1985, cô tâm niệm “cần phải làm điều gì đó để phục vụ cho mọi người và nhất là cho cộng đồng người Việt hải ngoại.”

          Tốt nghiệp cử nhân rồi sau đó là cao học về thương mại, tâm lý học, và hoạt động xã hội. Sau nhiều năm làm việc với cộng đồng Việt Nam tại Los Angeles liên quan đến những vấn đề như vấn nạn thuốc độc, cần sa, ma túy, băng đảng, cố vấn gia đình, bảo vệ trẻ em, Quỳnh Trâm nhận ra một điều là “những điều mình học được trong nhà trường, nhất là về những vấn đề mô thức trị liệu tâm lý, không hề phù hợp với suy nghĩ, tâm lý, tâm linh của người Việt Nam mình.”

          Quỳnh Trâm nhận xét: “Những phương thức trị liệu của người Mỹ không áp dụng được cho người Việt Nam vì cộng đồng Việt trải qua những thăng trầm đặc biệt, nó là vấn đề thuộc về lịch sử cộng đồng. Chính vì vậy tôi phải đi tìm nguyên nhân gì đã làm cho cộng đồng mình không đoàn kết, không phát triển hay bị lấn cấn, không tiến tới được cũng không thoái lui được, đó là cái gì. Cuối cùng tôi tìm ra được mẫu số chung đó là vấn đề ký ức tập thể.”

          Ðể giải quyết vấn đề này, theo Quỳnh Trâm, không thể theo những phương thức hàn lâm, “vì ký ức đôi lúc không có ngôn từ mà nó nằm trong thịt máu cơ thể con người, vì vậy mình phải dùng phương pháp nghệ thuật.”

          Phương pháp nghệ thuật mà cô áp dụng “không có tính cách sân khấu kịch nghệ như phải có một đạo diễn như mình vẫn biết từ trước tới giờ.”

          Tôi chỉ là người điều hợp, còn những cộng tác viên, thiện nguyện viên trong hội thảo ‘Tâm Tình và Hồi Tưởng Qua Chuyện Kể, Âm Nhạc và Nghệ Thuật’ ở hai Chủ Nhật vừa qua là đạo diễn của vở kịch của họ.”

          Theo Quỳnh Trâm, đạo diễn là làm cho những người diễn viên đó ngồi lại với nhau, nhớ lại những hồi tưởng, những ngày tháng hành trình từ Việt Nam qua đến Mỹ. Từ đó bật mở ra những điều mà lâu nay họ không nói được với ai cả. Hội kịch “Nẻo Nguồn Hồi Tưởng” là những sáng kiến, những chiêm nghiệm nói về những sinh hoạt đời thường, những uẩn khúc, những đau đớn, và những sự thông cảm từ trong hội thảo, ra khỏi hội thảo, và hướng tới cộng đồng.

          Trong cộng đồng Việt Nam, tiếng nói của nhiều người không được cảm nhận, không được cảm thông. Ðôi khi chỉ có vài tiếng nói mạnh, có chỗ đứng, có microphone, có tiếng nói được vang lên, trong khi có những tiếng nói âm thầm, uất nghẹn không nói ra được. Chính vì vậy, tôi muốn cho cộng đồng thấy là cách mới dùng kịch để nói chuyện với nhau.” Cô Quỳnh Trâm nói.

          Cô kêu gọi: “Chúng tôi sẽ cố gắng làm hết sức mình và mong mọi người đến để tâm mở, tấm lòng mở, để cho thấy mình có trong đó và dùng sức mạnh tập thể để giải quyết vấn đề đời thường mà trên sân khấu kịch nghệ, ngay cả Thúy Nga Paris hay Aisa ít khi nào đưa ra.”

          Hội kịch “Nẻo Nguồn Hồi Tưởng” cũng được nhiều tổ chức và cơ quan truyền thông trong cộng đồng bảo trợ.

          Mọi thắc mắc xin liên lạc Quỳnh Trâm (714) 402-0921 hay (quynhtram@gmail.com), Hà Tiên (714) 206-2923 và Thanh Thúy (714) 260-1500.

          PHẾ ANH HÙNG

          Phó thường dân (10): Phế anh hùng

          In Chính trị (Politics), Liên Kết, Tạp văn, Việt Nam on 2011/08/18 at 07:00

          1 Votes

          [tiếp theo kỳ trước: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu - (8) Gió mưa là chuyện của trời … - (9) Vô liêm sỉ - man rợ]

          Thưở nhỏ phó thường dân tui mê đọc truyện, hầm bà lằng từ truyện tranh đến truyện chữ, luyện truyện chưởng xong tìm tòi truyện trinh thám, hết mơ truyện cổ tích thì chuyển sang truyện giả tưởng, xơi hết truyện tàu thì xực truyện tây, cái gì cũng mê tít thò lò. Chuyên là thích những truyện có anh hùng để mơ làm anh hùng.

          Lúc đó phó thường dân nghĩ là cả đám con nít đứa nào cũng muốn làm anh hùng. Oai, ngon lành dzô cùng chứ giỡn chơi sao. Trừ gian diệt bạo mà ai hổng ưa! Trí dũng vẹn toàn mà sao hổng thích! Siêu nhân siêu phàm có ai hổng muốn!

          Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, Trần Bình Trọng, Thạch Sanh. Một trăm lẻ tám anh hùng hảo hớn Lương Sơn Bạc hổng biết chọn ai rồi lại còn Tề Thiên Đại Thánh với Z28 có mà tẩu hoả nhập ma. Đắc ý nhứt là Tôn Ngộ Không rứt lông thổi một cái thì hiện ra bao nhiêu Tôn hành giả khác, không phân biệt ai thật ai giả. Hổng biết nghĩ như dzậy có thiệt là như dzậy không. Nhưng mà quay đi ngoảnh lại thì chẳng thấy anh hùng ở đâu hết, chỉ thấy rặc mấy thằng ma-cà-bông và các tay “anh chị” trong xóm chợ hoặc ngoài ngõ hẻm.

          Nghĩ qua nghĩ lại thì anh hùng đã chết mất đất từ thưở nào đó xa xưa. Có mơ cũng hổng rờ tới được. Rất may là phó thường dân tui hổng được/bị ở dưới một nước “xã hội chủ nghĩa” vào cái thời mà “ra ngõ gặp anh hùng, về nhà gặp dũng sĩ” chứ không thì chắc đã thành … liệt sĩ. Thiệt đó, cỡ anh hùng “Lê Văn Tám” thì thôi bỏ qua đi tám. Còn anh hùng cỡ Bác Hồ “tìm đường cứu nước” có mà vẫy tay chào mi vì bộ đội cụ Hồ tới thì em chạy toé khói tìm đường cứu thân. Từ đó hết mơ gặp anh hùng, hết mơ làm anh hùng bởi vì (đi đêm) có ngày gặp ác mộng “Đêm qua em mơ gặp bác Hồ”.

          Hổng biết ai sao chứ phó thường dân nay nghe tới chữ “anh hùng” là muốn xỉu. Nhất là các anh hùng được tuyên dương. Anh hùng trong cổ tích, anh hùng trong huyền thoại, anh hùng trong lịch sử xa xưa đã thành những biểu tượng nghe còn lọt lỗ tai chứ các anh hùng thời đại thì hơi bị oải. Thời bây giờ là thời phế-anh-hùng, người anh em cột chèo của các tay anh hùng đương đại. Văn hào Voltair thời khai sáng mà còn phải than rằng: “Tôi hổng ưa đám anh hùng (thời đại), họ làm chuyện ồn ào quá cỡ … Hào quang họ càng tỏa sáng chừng nào thì họ càng khả ố chừng đấy.” (I do not like heroes; they made too much noise in the world … The more radiant their glory, the more odious they are.)

          Bởi lẽ nàng thiếu nữ nằm ngủ trong lâu đài chờ hoàng tử trong mộng cỡi ngựa đến rước về trao vương miện công chúa thì sao mà đặng được thời nay. Chờ dài cổ thì nàng Bạch Tuyết có mà còm cõi thành Bạch Cước Bà Bà. Vậy thì chờ ai và ai là người anh hùng bây giờ?

          Người anh hùng là người không bao giờ mơ làm anh thư/anh hùng. Họ chỉ hành xử như một con người để tranh đấu vượt lên những nhiễu nhương thời cuộc mang tiếng nói của số đông trong thời thế đó. Và họ sẽ tự trở thành biểu tượng của lương tri thời đại. Họ không là người chỉ mỗi có hy vọng. Nhưng họ có một niềm tin hy vọng, với can đảm và hành động. Vì Hy vọng mà không có người chị Dũng cảm làm chỗ tựa thì chỉ là hy vọng bơ vơ. Còn Hy vọng mà không có người anh Hành động thì chỉ là hy vọng vu vơ.

          Phan Thanh Nghiên, Đỗ Thị Minh Hạnh-Đoàn Huy Chương-Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Cù Huy Hà Vũ và các anh chị khác đang trong lao tù nào cần gì tiếng anh thư, anh hùng. Họ sống chung với chúng ta, không xa rời nhưng cùng chung nhịp đập với người khốn cùng, cô thế, người bị áp bức, mất tiếng nói. Họ không phải là loại “trí thức” tha hóa dửng dưng với thời cuộc vì họ sống thực – không trong những huyền thoại anh hùng – bằng xương bằng thịt trong bi hài kịch ở chế độ độc tài, tham tàn thời kỳ “đồ đểu”[1].

          Khi sống thật và hoà đồng với nhịp đập của mọi người thì những hành động dũng cảm anh hùng bộc lộ. Ta đã thấy Phan Thanh Nghiên tọa kháng trương biển Hoàng Sa – Trường Sa – Việt Nam; Điếu Cày Nguyễn Văn Hải ấn tượng với mũ an toàn, áo, bảng HS-TS-VN; Cù Huy Hà Vũ với yêu cầu xoá bỏ điều 4 Hiến pháp; Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng cùng tranh đấu cho công nhân. Ta lại thấy cảnh giải cứu binh nhì Nguyễn Tiến Nam, em Nguyễn Văn Phương đọc tuyên cáo chống bá quyền Trung Quốc, em Nguyễn Kim Tiến gác thù nhà vì nợ nước, cô Minh Hằng “quản ca” suốt các buổi biểu tình, TS Nguyễn Xuân Diện kiên trì giữ ngọn lửa, cháu Oanh hăng hái cùng anh chị, cô chú, ông bà bước chân không mỏi.

          Anh hùng theo ý nghĩa và dạng cổ điển thì làm chuyện đại sự, đội đá vá trời. Họ có trí, dũng vô biên và tài năng vượt trội. Họ làm được chuyện gần như vô vọng và hy sinh cả tính mạng. Ta có thể nào mong chờ một anh hùng cứu tinh.

          Chỉ còn lại một lựa chọn. Sống tử tế, chân thật, đùm bọc lẫn nhau bất chấp cái nhiễu nhương, độc đoán, ác tà của cơ chế và hệ thống. Đó là chúng ta mỗi người hành xử bình thường, làm những điều bình thường nhất.

          Trong xã hội Việt Nam dưới chế độ cộng sản (bất bình thường) thì những điều rất đỗi bình thường trở thành một cái gì quá bất bình thường. Biểu tình, lập công đoàn độc lập, tự do bầu cử, tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại là những quyền căn bản rất bình thường thì được xem là “bất bình thường” và bị cấm đoán, trù dập, đàn áp.

          Một quốc gia với điều 4 hiến pháp vô liêm sỉ thì người tự trọng yêu cầu xóa bỏ bị gọi là bất bình thường

          Một nguyên thủ có quyết định vi hiến thì người chính trực khiếu kiện bị gọi là bất bình thường

          Một thể chế độc đảng, độc tôn, độc quyền đòi được sùng bái như bình vôi-bái vật-bà đồng· [2] thì người tranh đấu cho dân chủ, đa nguyên, đa đảng bị gọi là phản động bất bình thường

          Một hệ thống quyền lực mua danh, bán tước chia ghế vô liêm sỉ thì người ngay phơi bày bị gọi là bất bình thường

          Những quan chức ma cô, mua dâm trẻ vị thành niên thì người thẳng thắn tố cáo bị gọi là bất bình thường

          Những con người muốn được sống bình thường trong xã hội bất bình thường thì hay bị cô lập, quản thúc, áp chế, giam cầm thành phế-anh-hùng.

          Thương cho những phế-anh-hùng, muốn sống làm người nào có được chăng!

          Nếu chúng ta đã giải cứu được binh nhì Nguyễn Tiến Nam, đã cực lực lên án và phản đối với “cú đạp lịch sử” trên mặt Nguyễn Chí Đức thì lòng nào chúng ta không lên tiếng đồng tình với Đỗ Thị Minh Hạnh bị hành hạ đánh đập bầm tím thân người, với Điếu Cày Nguyễn Văn Hải bị “mất tay”(?), với các tù nhân lương tâm[3] trong lao tù khổ ải. Hãy đọc một đoạn trong Bình Ngô Đại Cáo[4] để thử so sánh thời xưa và thời nay:

          Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh
          Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
          Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
          Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
          Gây thù kết oán trải mấy mươi năm
          Bại nhân nghĩa nát cả đất trời.
          Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.
          Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.
          Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc.
          Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng.
          Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
          Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
          Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.
          Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán,
          Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa?
          Nặng nề những nổi phu phen
          Tan tác cả nghề canh cửi.
          Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
          Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi !
          Lẽ nào trời đất dung tha?
          Ai bảo thần dân chịu được?

          Yêu nước và thương giống nòi là tình cảm cao cả. Nhưng yêu dân và thương đồng bào thì lại thực tiễn, chân chất, và gần gũi hơn.

          Chúng ta cần thương yêu bảo bọc bạn bè, đồng bào trước hết. Hãy giăng tấm biểu ngữ đòi hỏi công lý cho những phế-anh-hùng đang trong lao tù khổ ải. Họ yêu dân và thương đồng bào và chúng ta nỡ lòng nào không đáp lại tấm lòng ấy một bằng nghĩa cử nhỏ chân tình.

          © 2011 Vietsoul:21
          Chú thích:

          [1] “… the imprisoned political activist as one with the people living an antiheroic life under oppressive regimes, rather than as yet another category of “intellectual” alienated from those people’s everyday lives.” (… các nhà hoạt động chính trị bị tù đày là người cùng với mọi người sống cuộc đời phế-anh-hùng dưới chế độ áp bức, khác hơn với loại người “trí thức” tha hóa dửng dưng với đời sống thường ngày của mọi người.)

          Randa Abou-bakr, The Political Prisoner as Antihero: The Prison Poetry of Wole Soyinka and ‘Ahmad Fu’ad Nigm, Comparative Literature Studies, Volume 46, Number 2, 2009, pp. 261-286 (Article)

          [2]bình vôi-bái vật-bà đồng, Vietsoul21.net

          [3]Con tin lương tâm, Vietsoul21.net

          [4]Bình Ngô đại cáo (Ngô Tất Tố dịch), vi.wikisource.org

          CỘNG ĐỒNG SEATTLE : HỦ MẮM THÚI ĐÃ ĐƯỢC KHUI

            B.M

            Kính thưa quý độc giả!

           Chuyện cộng đồng ở Seattle trong những ngày gần đây đã được đưa lên diễn đàn và dán truyền đơn ở các khu chợ Việt Nam,họ tố cáo nhau đủ điều,đủ mọi thứ từ tiền bạc đến lập trường chính trị. Chúng tôi không đứng về phía TTD hay Quang Adam ,chúng tôi là báo chí,chúng tôi tìm hiểu rõ vấn đề để đưa ra cho đồng thấy.

          Cộng đồng này được thành lập vào năm 2009,họ cũng tổ chức bầu cử,vận động .(dù có hơn 100 người đi bầu).Như vẻ rất đàng hoàng,cộng đồng này đdược phe nhóm của họ cũng như một số lớp già “bợp chộp” tích cực ủng hộ ,lớp người này ca bài con cá và gọi cộng đồng này là cộng TRẺ ,chữ “trẻ” rất ư là ăn khách đối với đồng hương ,nhất là những người thầm lặng,ăn khách vì lớp già không làm gì nên nổi. Ngay từ lúc đầu thành lập cộng đồng này,Bia Miệng đã viết bài” Nguyên nhân thành lập cộng đồng người Việt Quốc Gia Seattle và vùng phụ cận” ( chúng tôi kính mời quý độc giả vào website www.biamieng.com để xem lại bài viết đó đăng trong mục Cộng Đồng). Chúng tôi viết bài viết đó không theo cảm tính,không theo tin đồn,không theo thù ghét… Chúng tôi viết theo những dử kiện tìm thấy chính xác về mỗi nhân vật đứng ra kêu gọi, đứng ra vận động, đứng ra làm cố vấn, vì thế ngay từ đầu chúng tôi gọi cộng đồng của họ là cộng đồng “tội phạm” hay “cộng đồng 36” . Mặc dù có chứng minh nhưng một ít đồng hương “khó tin” điều chúng tôi nói,khó tin vì sự tuyên truyền rỉ tai ,khó tin vì những cái miệng”bép xép” ưa nói láo và làm công việc “tâng bốc”,”nịnh bợ”… Cũng có một số người chuyên phá người có tinh thần Quốc Gia, khó tin vì “suy bụng ta ra bụng người” Những điều xảy ra bây giờ quá ư là tồi tệ,những việc mà người bình thường “không thể nghĩ ra” ví dụ như danh là danh gì mà ham hố,tiền là tiền lẻ chẳng bao nhiêu mà tham,của đồng hương đóng góp vào việc thiện cũng tham luôn,đủ thứ “không thể nghĩ ra”.Nhưng bây giờ thì chắc chắn không ai mà không tin những điều chúng tôi nói trước đây (quý vị tìm bài viết trước đây của chúng tôi đọc để thấy những điều xảy ra bây giờ).

          Trước hết chúng tôi mời quý vị đọc sơ về những con người trong cộng đồng của họ cũng như những người làm cố vấn,làm quân sư,chúng tôi cũng nêu sơ qua về một số hội đoàn ủng hộ họ,chúng tôi nêu sơ qua để quý độc giả có sự liên tục trong tư tưởng (những bài viết trước đây chúng tôi nêu rất chi tiết).

          Ông bà mình có câu “coi mặt mà bắt hình dong ,thấy con lợn béo thì lòng với ngon”, “con lợn” cộng đồng này chẳng “béo” tí nào,nên chắc là “lòng chẳng ngon”. Gọi là tội phạm vì những tội phạm họp lại.Chúng tôi nói tội phạm vì những điều họ làm đối với người Việt Quốc gia Tỵ Nạn Cộng Sản thì hành động của họ là tội phạm.

          1) Một cố vấn Tôn Thất Hồng (chủ tịch giám sát)với thành tích cho ra bìa cuốn đặc san không quân(lúc đó anh ta là chủ tịch hội KQ),hình bìa là chiếc máy bay kéo hai biểu tượng cho cờ Quốc Gia(cờ vàng ba sọc đỏ) và cờ Việt Cộng(cờ đỏ sao vàng),hành đồng này là tội phạm đối với người Việt tỵ nạn.Tôn Thất Hồng là người lôi không quân đến với tài phiệt Trần Đức,vừa rồi tổ chức 3 ngày liền ở nhà hàng Trần Đức.

          Đọc qua những email của Tôn Thất Hồng gởi trên diễn đàn về sự việc Trần Trung Dung, những lý luận của những kẻ hầm hồ,kiểu lý luận này VC thường xử dụng để cải chày cải cối với VNCH hồi hiệp định paris, nghe TTH lý luận về lá thư từ chức của TTD gởi Thái Nhật Lĩnh “Hôm họp kín tại nhà anh, vì không biết những chuyện lem nhem về Tài Chánh cũng như cách làm việc của TTD với các Thành Viên trong HĐĐH, cho nên chúng tôi đã khuyên TTD không nên từ chức, nhưng sau buổi họp Khoáng Đại của Ban Đại Diện CĐNVQGS-VPC vào ngày 20 tháng 3 năm 2011, khi chúng tôi buộc TTD phải bàn giao Tài Chánh cho Mỹ Linh thì khi đó chúng tôi mới rõ mọi chuyện từ chuyện TTD không báo cáo Tài Chánh trong suốt thời gian sinh hoạt của CĐNVQGS-VPC mặc dầu chúng tôi đã nhiều lần yêu cầu và nhắc nhỡ TTD phải báo cáo Tài Chánh, nhưng TTD viện đủ lý do để không báo cáo (qua sự việc nầy chúng tôi xét rằng CT TTD thiếu trách nhiệm)” Đọc đoạn email đó thử hỏi TTH,một chủ tịch Giám sát của cộng đồng hơn một năm mà không biết gì cả để chủ tịch lem nhem ,như vậy giám sát cái gì? Còn nữa giám sát mà sao ban điều hành thu nhận Hà Thúc Tiến ,người đang làm ăn với VC? Phải chăng TTH đồng lỏa? TTH nói sau đó họp 3 tháng khi TTH buộc TTD bàn giao tài chánh cho Thủ Quỷ thì TTH mới biết TTD mọi chuyện và,TTH kết luận “qua sự việc này chúng tôi xét rằng CTTTD thiếu trách nhiệm”.Phần đầu nói “chưa biết lem nhem” ,phần sau kết luận “thiếu trách nhiệm”,thiếu trách không có nghĩa là “lem nhem”,viết một đoạn văn lấp liếm như vậy mà là giám sát(chủ tịch hội không quân). Theo lời TTH trong email trên “khi TTD bàn giao ,ông ta mới biết lem nhem,tài thiệt.Muốn biết lem nhem hay không thì phải kiểm soát hồ sơ tài chánh ,muốn kết luận lem nhem thì phải chứng minh ( chứng minh sổ sách ngân hàng,bill như Hội QNĐN đã chứng minh về Nguyễn Đồng Duy hội trưởng có nhiều người gọi anh ta là Nguyễn đồng lem nhem. Chú ý chữ đồng tên lót của y không viết hoa). Nếu quả thật TTH chứng minh được TTD lem nhem thì hôm TTD mở họp khoáng đại để thanh minh về những vu cáo của TTH,tại sao TTH không đến vạch mặt TTD ra cho đồng hương thấy,nếu TTH chứng minh được TTD lem nhem chắc TTD chỉ có nước độn thổ,nhưng TTH đã không tới có nghĩa là loại người chỉ biết ẩn núp để chửi bới tuyên tuyền,không dám đưa ra ánh sáng trước mặt đồng hương .Thư từ chức đã không chấp nhận rồi,thì không cách nào sau nhiều tháng tự động chấp nhận,làm việc như vậy là kiểu gì ông TTH? Khi không chấp nhận thì ông TTD vẫn là chủ tịch,nếu tìm thấy lỗi của TTD thì sẽ có phiên họp dựa theo nội quy để dùng biện pháp chế tài,chứ không có quyền cái gọi là “ chấp nhận thư từ chức”. Cái kiểu ma đầu này không bịp được ai mà còn làm hạ nhân cách,sự hiểu biết của chính ông ta,một con người có thể nói là DỐT về cách làm việc hay làm lấy được ,theo luật rừng (VC luôn dùng luật rừng).

           2) Nguyễn Văn Diệp chủ tịch Hội Học viện Cảng sát ,ông này chuyện tai tiếng vừa qua với cô Hằng mà trong cộng đồng chúng ta ai cũng biết,cái con người có thể gọi là “bỉ ổi” không phải là chuyện lăng nhăng tình ái(ở đời có rất nhiều người lăng nhăng vì tình),nhưng cái bỉ ổi ở chổ,người tình cho “dze” ,ông Diệp rủ vợ tới chổ làm ăn của “người tình” để phỉ báng,cái “bỉ ổi” nữa là mọi chuyện đều trút lên đầu người đàn bà tỷ dụ như ông Diệp nói”… cô Hằng quyến dụ tôi,chứ tôi có vợ đẹp lo cho cho tôi đủ thứ,nuôi tôi khi ở tù,nuôi tôi học đến”kỹ sư”….( không nguyên văn nhưng đại ý 90% là vậy,quý vị nào nghe audio ông Diệp nói đã được post lên biamieng.com thì rõ)., “bỉ ổi” là chuyện rõ ràng như vậy mà cũng chường mặt ra cộng đồng,nếu một người có chút “tự trọng” thì đã từ chức ,chức (dù là Dzỡm) Chủ tịch hội đồng quảng trị của cái cộng đồng tội phạm đó đi,đằng này vẫn bám để “huậy”,một con người bám đuôi ông tài phiệt Trần Đức,còn chuyện tiền thương phế binh nữa chúng tôi đang thu thập thêm dử kiện cho chính xác sẽ đưa ra nay mai vân vân và vân vân..

          3) Nguyễn Trọng Nghị,một con người trước đây chuyên núp trong bóng tối để thọc đầu này, đâm đầu kia,một con người vuốt rất nhọn cái “đòn xóc” của ông,người nào tiếp xúc vài lần ,không theo dỏi liên tục sinh hoạt thì khó biết về Nguyễn Trọng Nghị,chúng tôì đưa ra một vài ví dụ để quý đồng hương thấy rõ hơn về nhân vật này,một nhân vật tối nguy hiễm trong cộng đồng người Việt Quốc gia chúng ta. Ông Nghị đóng kịch rấy tài đến nỗi ông Trịnh Quang Minh nói với người viết bài này là “ mặc dù tau nhỏ hơn anh Nghị 2 tuổi nhưng tau xưng “anh và em” vì tau rất nể ảnh”( không biết bây giờ ông Minh còn nể như trước nữa không khi ông Nghị và báo NVNN có xự xung đột) Câu chuyện Hội Thủ Đức trước đây 4,5 năm ông Thăng có viết hàng chục lá thư để bịa đặt bôi lọ các ông Nguyễn Quốc hùng, Nguyễn Đình lãng,ông Đặng Phùng Diễm,lá thư này đã gởi bằng đường bưu điện đến rất nhiều hội viên của Hội thủ Đức,thư này là do Nguyễn Trọng Nghị xúi dục cũng như cố vấn để Nguyễn Tâm Thăng viết,nguyên nhân chính để hình thành lá thư này là : Ông Nguyễn Quốc Hùng phản đối việc đem Hội Thủ Đức dự vào đài phát thanh Quê mẹ của Nguyễn Xuân Dũng ở Tacoma,Nghị vẻ vời khi dự vào ông Thăng là người điều khiển chương trình với số lương hậu.Câu chuyện do Nghị đạo diễn thế mà khi Nghị gặp ông Nguyễn Đình Lãng nghị nói “Tôi với ông đâu có gì đâu, thằng Thăng khốn nạn nó photo mấy lá thư làm hư cái máy copy của tôi….”. Có một lần cũng trong thời điểm Nguyễn Tâm thăng gởi những lá thư đó,tôi có gặp Nguyễn Trọng ở một đám tang ở nhà quàng đường Rainier,tôi hỏi ông Nghị “ lúc này ông Thăng ra sao…” ông Nghị nói với tôi “ Thăng về Việt Nam rồi,về là vì gái chứ chẳng phải về vì bà cụ?( tôi không nhớ rỏ Nghị nói bà cụ hay vai vế nào trong gia đình ông Thăng) gì cả…” Tôi nghe ông Nghị nói như vậy ,tôi lạnh người suy nghĩ trong đầu “ quả đúng danh bất hư truyền” ,Ông Nguyễn Tâm Thăng là bạn thân với ông Nghị, những lá thư ông Thăng vừa mới viết là ông Nghị quân sư thế mà khi nói chuyện với tôi ông Nghị nói xấu ông Thăng,một con người luôn làm được cho mình còn sẳn sàng hại kẻ khác dù là bạn,một con người miệng lưởi quá nguy hiễm…”.Ông Nghị đối xử với ông Thăng được như vậy chắc chắc cũng đối xử với “người em”Trịnh Quang Minh được như vậy . Câu chuyện vừa mới xảy ra trong cộng đồng “tội phạm” mà Nguyễn Trọng Nghị làm cố vấn ,câu chuyện này được báo NVNN tường thuật lại buổi họp do Quang Adam Nguyễn triệu tập,Nguyễn Trọng Nghị tích cực ủng hộ Quang Adam,tích cực lên án vụ việc dán thư“từ chức” của Trần Trung Dung viết hồi tháng 12 năm 2010,thư này dán ở khu chợ phước Lộc Thọ (NTN nói là Tuấn Phan và NVNN dán),NTN nói như vậy nhưng chẳng đưa ra bằng chứng là do hai người đó dán, một lối nói hầm hồ,vu cáo cho kẻ khác ( lối nói này NVNN cũng đã dùng khi vu cáo cho ông Huỳnh Kim Anh dán truyền đơn ở PLT để phá ngày Quốc hận 30/4,ông HKA đã thách NVNN đối thoại để đưa ra bằng chứng,ông Huỳng Bình kể lại cho HKA và sẵn sàng làm chứng là NVNN nói với ông như vậy). Trong vụ việc NTN vu cáo cho NVNN ,báo NVNN có ra thông báo là trong vòng 1 tháng nếu ông Nghị không xin lổi ,báo NVNN sẽ đưa ra tòa ,có lẻ đã đến hạng,không nghe động tỉnh gì cả mặc dù ông Nghị không xin lổi. Đó là một vài nét về Nguyễn Trọng Nghị.

          4) Ông Mai Hoàng Tổng, ông này không có gì là nguy hiễm cả,chỉ là một người “bộp chộp”,không chịu suy nghĩ để nói hay hành động,một con người ít chịu tìm hiểu để nói,hoặc là nói trước quên sau cho nên những điều ông nói chỏi nhau. Mai Hoàng Tổng bộp chộp để lên án Trần Trung Dung lấy tiền quỹ cộng đồng xài cho việc riêng,ông Tổng chỉ nghe Tôn Thất Hồng nói và nói theo chứ chưa chắc đã kiểm chứng. Ông Tổng bộp chộp vì đã ủng hộ tích cực cộng đồng “tội phạm”,. Ông Tổng không biết lẻ phải là gì,chỉ ủng hộ những người làm vừa lòng ông mà thôi,và trả thù những người mà ông ghét,dù họ làm đúng,một ví dụ trong Hội Thủ Đức ,ông Mai Hoàng Tổng trong ban giám sát,ông đã bỏ họp không sinh hoạt lâu ngày,Hội có gởi thư tới ông mời sinh hoạt,trong một buổi họp của Hội đề cập đến việc này,anh em trong 4 cơ chế đưa ra những khuyết điểm của MHT và có ý “ngưng quyền giám sát” vì MHT đã vi phạm nội quy của Hội,lúc đó ông HKA không đồng ý quyết định “ngưng ngay” ông HKA nói trong buổi họp : dù là MHT vi phạm thật sự,nhưng chúng ta không hành động như những tổ chức khác,hành động như vậy không có tình,Hội nên gởi một lá thư chót để mời MHT sinh hoạt trở lại,nếu ông ta không trở lại lúc đó coi như ông ta “tự ý ngưng sinh hoạt” (lá thư gởi MHT vẫn còn đó). Mai Hoàng Tổng là người sinh hoạt Hội Thủ Đức lâu,ông ta biết rõ nội quy của Hội,ông ta biết Nguyễn đồng Duy và Đặng Ghi làm bậy ,bằng chứng là ông có gọi điện thoại cho ông Lãng và nói cũng như than thở,thế mà MHT vẫn đứng về phe Đặng Ghi,MHT đi dự cuộc họp khoáng đại để ly khai ra khỏi Hội của DUY và Ghi,MHT ngồi im thin thít để Nghe Đặng Ghi nói xàm,nóí và hành động bất chấp nội quy của Hội,ngồi im nghe nói bậy là của những kẻ hèn (theo nhà văn Alexandre Soljenistsym),MHT biết quá rõ ai đúng ai sai,những lần MHT nói chuyện với ông Vũ Trung Bình ,ông Bình đã nói thẳng vào mặt MHT về sự kiện của Hội Thủ Đức ,MHT im lặng ,không cải cọ gì được. MHT đi theo Nguyễn Đồng Duy và Đặng Ghi vì ghét ông Nguyễn Quốc Hùng,Huỳnh Kim Anh…Vì những người này làm đúng theo nội quy của Hội,họ nói thẳng ,họ lấy lập trường 4 không của Hội Thủ Đức làm mẫu mực để tranh đấu Chuyện kế tiếp là lúc đầu thành lập cộng đồng tội phạm MHT cũng đã bất mản vì trong ban bệ “xúi dục” đó loại bỏ một nhân vật không cho họ ứng cử là bạn thân với MHT,MHT tức tối viết email chửi tùm lum,có chửi Việt Tân,trong việc này Bùi Đức ly có cho MHT một bài học….Thế mà MHT vẫn ôm Đình BĐL,vẫn gởi email cho ông Nguyễn Đình Sài( chống Việt tân,Mặt trận kiểu gì đây).

          Trở lại chuyện “ngài giám sát” Mai Hoàng Tổng vừa rồi có tung một email lên diễn đàn có ca bài ca “Anh đã lầm đưa em sang đây” , MHT có lầm không? Theo chúng tôi MHT không lầm đâu,MHT biết

          rõ hết nhưng vẫn làm theo điều bậy với lý do : Mặc Cảm tự ty,làm để chứng tỏ mình hơn người,tính hận thù quá độ với những người không cùng ý với y. Tất cả nguyên nhân đó là tâm xấu của MHT

          5) Bùi Đức Ly, ông nay là sư tổ của đạo đức giả,nhìn những cuộn video làm lễ ,khuôn mặt lúc nào cũng trịnh trọng ,trang nghiêm,hiền từ trong chiếc áo dài Lễ Lộc,ăn nói hiền từ lắm lắm,mở miệng ra là đạo đức ,nhưng chúng ta xét hành động của y để biết về con người đó.

          Cách đây đã lâu(khi BĐL) vừa thành lập Tổ đình,chúng tôi có được xem DVD làm Lễ ,cái lễ mà ông BĐL gọi là ““an vị” chúng tôi thấy có để ông Hoàng Cơ Minh chủ tướng Mặt Trận cùng những người tay chân của ông bị chết,BĐL để những hình này thờ trong Tổ đình mà ông để thờ “Đức Thánh Trần”,chúng tôi phản đối trên làn sóng Radio của ông Quốc Nam,trong đó ông Huỳnh Kim Anh có nói câu “ Tôi sẽ phá cái tổ chức Tổ đình vì nơi đó treo đầu dê bán thịt chó…” BĐL suy diển theo tâm “xà” của y ,ông ta nói “HKA đòi phá Tổ đình…” và báo cho Cảnh Sát, một hành động tồi tệ nữa là ,anh ta đem một tờ truyền đơn có dán ở Tổ đình với nội dung chửi bới T Đ,BĐL đem tờ truyền đơn đó nạp cho Cảnh Sát ở Kent,nói đó là tờ truyền đơn của phe nhóm HKA,tiếp theo sau tạo chứng cớ giả đó BĐL thuê Luật Sư kiện HKA,NQH,QN về tội đe doạ đền thờ của y. Khi ra tòa,luật sư của BĐL đứng đọc cáo trạng một hơi dài,bà Tòa nghe xong lắc đầu ,hỏi ông HKA,ông HKA nói “Tôi đã xin Thông dịch viên để vấn đề dể dàng…” , bà Toà phán “ không cần,nếu cần là cần cho cả hai ,đây không phải là đe dọa ,mỗi bên lên nhận giấy tòa..”. Bà Tòa nghe buồn cười quá không cần xử, quý đồng hương nghĩ gì về hành động của một kẻ “tu” như BĐL,vu cáo cho kẻ khác ,cái chữ “phá” mà dám nói là : đe dọa phá huỹ,tiêu huỷ cái Tổ Đình để kiện thì hết chổ nói, nếu một người nói “ tôi sẽ phá vở tình yêu của anh..” chắc BĐL suy diễn “ giết chết cặp bồ bịch đó?”. Một tờ truyền đơn dán ở đình của ông ta,bằng chứng náo mà BĐL có thể kết luận là của phe nhóm HKA, chắc ông lý sự cùn “ Tôi(BĐL) chỉ có kẻ thù duy nhất là phe HKA,chắc chắn là tụi nó chứ không ai vô cả…” ,lý sự này là lý sự kiểu của toà án VC,BĐL nên nhớ là một kẻ nào đó ghét phe nhóm HKA ( BM rất nhiều kẻ ghét vì BM nói rất thẳng và thật),đem dán thì sao? Hoặc cũng có thể chính BĐL viết hoặc dán để tạo bằng chứng thì sao?Trong tờ đơn ở Tòa BĐL điền gởi cho tòa có nói là :hành động đe dọa đền thờ của tôi làm nhiều người không dám tới,vì sợ nguy hiễm…. Vu cáo và dựng chuyện quá tồi ,ở xứ Tự Do đâu dể dàng như vậy được,nếu như ở VN chắc chắn phe nhóm HKA đã bị ở tù mục xương. Cũng cần nói khi một người đi kiện bậy,không có bằng chứng,như vậy kẻ đi kiện bậy đó được đánh giá ở toà án là “ không đứng đắn”,nếu nói láo nhiều lần chắc chắn rằng khi bị kiện lại sẽ lảnh đủ.

          Một con người xưng là tu hành đi làm một hành động như vậy thì quý vị nghĩ sao? Một người đàng hoàng không cần tu hành cũng không thể chụp mủ,vu cáo cho kẻ khác được, BĐL làm Tổ đình là cho đồng hương có nơi duy trì văn hóa,tập tục…(theo lời ông nói),một người làm việc đó rất quan trọng thế mà láo khoét thì ai tin được.

          Một chuyện khác nữa ,chúng tôi đọc được một email của tên nặc danh nào đó nói đại ý : tên HKA đánh phá Tổ đình,nói láo,tôi đã đi tới và xem chẳng thấy thờ ông HCM. Email này post những hình ảnh ở trong đình kèm theo, tôi không thấy ảnh ông Hoàng Cơ Minh nữa,sau đó được biết ảnh đã được dời đi vị trí khác ,một vị trí không được trịnh trọng như trước. Thật là hết chổ nói,nếu người đáng tôn trọng thì cứ tôn trọng ,ai nói gì mặc kệ,mình thách đố họ đối thoại về việc đó mới là chính,đằng này dời đi chổ khác,dời đi một vị trí không không trịnh trọng có nghĩa là khinh dể ông Hoàng Cơ Minh, quý vị nghĩ như thế nào? Theo sự kiện đó chúng tôi nghĩ là nếu để như lúc đầu nhiều đồng hương sẽ không tới,thôi dời đi (chịu lép một chút) đồng hương tới đông,cúng nhiều….Hành động này có thể kết luận là “những kẻ buôn Thần ,bán Thánh được không?” Để kết luận về ông “thần Southwest” này chúng tôi kể chuyện cầu khấn của ông ta ,BĐL đã gởi email lên diễn đàn khoe “ Lời cầu khấn đẵ được linh..” BĐL nói đồng hương tới đình để cầu khấn cho VN có Tự Do,sau đó ở VN có một đại tá VC tuyên bố chống đảng,chống những kẻ cấm quyền… lời khấn đã được nghiệm ( ý chính là vậy,không nguyên văn). Đúng là đem thần linh ra mà chơi,khấn ở đâu chứ khấn ở tổ BĐL thì coi chừng phản ứng ngược ,bằng chứng là từ ngày BĐL tung y mail đó lên diễn đàn,VC càng ngày càng hung hăng đàn áp dân chúng,đất nước càng điêu linh.

          6) Quang Adam Nguyễn, Anh này thì chẳng biết gì chính trị chính em,chỉ biết làm ăn kiếm tiền cũng như có dịp là để kheo khoang mà thôi,được bọn lợi dụng ma đầu đưa làm phó chủ tịch tưởng ngon,bày vẻ thi hoa hậu phu nhân,vợ trúng giải hoàng hậu,nhìn cảnh mấy ngày Tết vợ chồng đi khoe rỏ mà chán,. Quang Adam làm cái sường cho xe hoa tính đến $15,000 (theo công bố tài chánh của Phạm Trọng). Trong cuộc họp khóang đại của TTD có nói đến lập trường khác biệt giửa anh(TTD) và Quang Adam là : Quang Adam chỉ biết làm lợi riêng… Biết rõ về Quang Adam Nguyễn chúng tôi mời quý đồng hương đọc những y mail của chính y viết (đính kèm cuối bài viết)thì biết rõ về con người gian xảo như thế nào,một con người khó tìm thấy được một chút “tin” nào trong người y.

          7) Nguyễn Hữu Ký, nhân vật này chúng tôi đã đưa ra trong số báo trước, và một bài riêng trong số này một nhân vật cũng rất đặc biệt,so với Nguyễn Trọng Nghị thì có thể mượn thơ Kiều để nói “Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười” , đặc biệt là rất thích nổi,chổ “mô” nổi là có anh ta cho nên chẳng cần đúng hay sai. Chuyện nổi tiếng nhất của “chính tâm Nguyễn Hữu Ký” là bài thơ ca tụng vợ Quang Adam Nguyễn lên tận mây xanh,chúng tôi nói với nhau nếu như “Chính tâm” sinh cùng thời với Tố Hữu và cùng ở Miền Bắc ,chắc chắn Tố Hữu phải vái “chính tâm” làm sư phụ,vì sao? Tố Hữu ca LêNin,Stalin,các lảnh tụ Cộng Sản,dù sao những người này cũng là những người của lịch sử thế giới(dù họ ác), ca cũng được đi,ca để kiếm chút địa vị,đàng này Nguyễn Hữu Ký ca Quang Adam Nguyễn và “hoàng hậu” nếu có kiếm chút chút thì chẳng là bao,Tố Hữu xin chào là đúng. Nói đi phải nói lại nhờ bài thơ đó mà nay Nguyễn Hữu Ký “chính tâm” nổi như cồn khắp nơi,thành tích này xóa mờ tập thơ mà “chính tâm” ra mắt trước đây. Tóm lại trước đây thiên hạ biết NHK một thì nay biết mười.

          8) Văn Sáng chủ tịch HO Seattle,ông này trước đây cũng đã là chủ tịch HO một lần ,ông ta chả có hoạt động nào cả vì khả năng có hạng,nay thì rất nổi qua bộ đồng phục HO,tại sao lại bày vẻ như vậy,QLVNCH mỗi binh chủng đều có quân phục riêng, không đủ để tự hào sao? Mà bày vẻ,trong HO có đủ mọi thành phần dân, quân,cán,chính .Những ông không quân đội mà đi HO bảo họ mặc bộ đồ do Văn Sáng đẻ ra họ có chịu không? Không thể nói đó là bộ đồ thuần túy đồng phục dân sự vì,từ đầu đến chân là những thứ để trang bị cho quân đội. Theo y có lẻ đây là sáng kiến hay,một bộ đồ rằn ri oai hùng,các huy hiệu lẫm liệt cùng với chiếc nón màu sắc sặc sở… sản phẩm này có lẻ hấp dẩn những ông HO không phải là lính nay vế già thích lính ? Lầm rồi,mỗi nganh nghề,binh chủng đều có tự hào riêng không thể nào nói ai hơn ai. “Tôi là nhân dân tự vệ,tôi chả cần bộ rằn ri của anh cũng nói lên được tinh thần chống Cộng của tôi”. Đại loại là vậy,mời quý độc giả xem lại bài viết phân tích đầy đủ của BM nói về bộ đồ đồng phục HO Seattle đã đăng ở những số báo trước. Chúng tôi đã yêu cầu họ mở cuộc họp khoáng đại để trả lời chúng tôi về sự việc này (vì chúng tôi là lính VNCH) nhưng họ phớt lờ.

          * Văn Sáng là người kéo Hội HO ủng hộ cộng đồng tội phạm,trong buổi tiệc của Ho,TTD đã đọc diễn văn cũng trong bửa tiệc này Nguyễn Hữu Ký là người dàn dựng để làm nhục ông Nguyễn Minh Đường ( NMĐ là người sinh hoạt với HO lâu,ông này không làm điều gì để chống lại Văn Sáng)

          * Hội Ho Seattle đảm nhiệm lễ cháo Quốc kỳ cho Tết in Seattle, Văn Sáng đã không dám phản đối khi tổ chức này không chào cờ trong lúc khai mạc,qua một vài tiếc mục rồi chị Trinh vợ anh Chiến (không quân) thấy như vậy mới đứng ra phản đối,sau khi cải cọ với ban tổ chức họ mới chịu chào cờ . Văn Sáng bào chửa gì về sự việc này? Văn Sáng hợp tác chặc chẻ với những tổ chức ,hội đoàn được tài phiệt Trần Đức bảo trợ cũng như với những buổi Lễ do trùm Việt tân tổ chức . Bây giờ Văn Sáng hướng dẩn HO Seattle ( nói là HO chứ chỉ có sáu,bảy mạng) theo ai đây ? Trần Trung Dung hay Quang Adam Nguyễn ?

          9) Hà Thúc Tiến,đây là một nhân vật giử chức vụ then chốt trong cộng đồng “tội Phạm” một chức vụ mà một tổ chức của người Quốc gia chúng tôi chưa bao giờ nghe đến, Hà Thúc Tiến là uỷ viên chính trị,tôn giáo,thanh niên trong cộng đồng đó.Ủy viên chính trị và tôn giáo là then chốt của một tổ chức chính trị, VC đặt nặng vấn đề này. Ông Hà Thúc Tiến tuyên bố thẳng thừng là ông làm ăn với VC, hằng năm có lợi tức mười tiệu đô la(10triệu). Chúng tôi không ngạc nhiên về cộng đồng này thu nhận người như vậy,bởi lẻ họ thành lập ra không vì công cuộc tranh đấu chống Cộng sản Việt nam. Nghe một số người rành chuyện nói ông HTT là cháu của ông Hà Thúc Ưa,vì họ Hà Thúc rất ít nên luôn có liên hệ,ba của Hà Thúc Tiến là quân nhân VNCH, chúng tôi chưa kiểm chứng rõ ràng về sự liên hệ giửa Hà Thúc Tiến với Hà Thúc Ưa,nếu quả đúng như vậy ,theo sự suy nghĩ của chúng tôi,Hà Thúc Ưa đi theo Đặng Ghi,Nguyễn Đồng Duy là hợp lý và cũng là nằm trong một kế hoạch chung.

          10) Tài Phiệt Trần Đức, một số người cho rằng ông TĐ có lòng tốt giúp đở các hội đoàn,chúng ta xét một vài việc thử có đúng như vậy không?

          Ông TĐ là người có vai trò rất quan trọng trong cộng đồng Tội Phạm, qua những email qua lại giữa phe Adam Nguyen và Trần Trung Dung chúng ta thấy rỏ ràng không phải là một mạnh thường quân bình thường. Trong bài viết trước đây BM có nói đến ông TĐ,ông là người Tàu,ông chỉ là người Việt giấy.. Thử hỏi đứng vào vị trí ông thì nên ủng hộ ai? Ủng Hộ VC hay ủng hộ người Việt Quốc gia chống tàu và VC? Nếu ủng hộ người Việt Quốc gia tức chống lại gốc của ông,theo người Việt Quốc Gia tức chống VC như vậy làm sao buôn bán được? ( xin đừng so sánh nhập nhằng là Mỹ buôn bán với VC thì có sao đâu,chúng tôi đã phân tích rất chi tiết đăng các số báo trước). Nên suy nghĩ để thấy rõ vấn đề. Chuyện quá nhỏ ,chuyện đó là báo NVNN chỉ ủng hộ TTD mà bị cúp quảng cáo,kéo thêm anh bạn Tàu nữa cup luôn),thì thử hỏi quý đồng hương .Ông TĐ đang buôn bán với VC mà thật tâm ủng hộ người Quốc Gia chống VC,thì VC có để yên không? Nếu VC để yên có nghĩa VC có lòng nhân,đại lượng,quân tử hơn ông Trần Đức nhiều.Báo NVNN có đăng tin là đã bị ông TĐ cắt quảng cáo cùng với một chủ Tàu nào đó cũng cắt luôn,vì tội là ủng hộ Trần Trung Dung(TĐ ủng hộ lập trường Quang Adam). Một người như vậy có đủ để chúng ta (người Việt tỵ nạn thấy là tài phiệt Trần Đức không phải là một người tốt bụng với người Việt chống Tàu và chống VC?

          11) Bác sĩ Nguyễn Xuân Dũng, ông này già rồi,quá khứ đã bị tờ báo Mỹ phanh phui chuyện gian lận bảo hiễm y tế, ông này ỷ có chút tiền tập tò làm chính trị, nhưng sự hiểu biết về chính trị hoàngtoàn mù tịt,nghe theo lời những tên nịnh hót vô học,hô chống Cộng biểu tình chống ca sĩ từ VN qua thế mà sát cánh của những kẻ buôn bán làm ăn với VC,trong những buổi Lễ lộc dùng diễn đàn để đã kích những người không theo ông ta,in và phát danh sách để bôi lọ những người chống lại ông ta,chỉ nói suông chứ không đưa ra bằng chứng là những kẻ đó phá hoại cộng đồng bằng cách gì,tại sao họ phá, nếu như NXD là người Quốc Gia chân chính tại sao Nguyễn Xuân Dũng không dám mở một cuộc họp với đồng hương mời đủ mọi thành phần (những kẻ ông gọi là phá hoại) đến để đối thoại ,làm sáng tỏ vấn đề , Ông b/s Nguyễn Xuân Dũng còn nhớ những lá thư HKA gởi ông không? Lá thư như một thách thức để ông kiện HKA và BM ra tòa,cứ việc làm chứ đừng hăm dọa( NXD nhiều lần hăm dọa rĩ tai cũng như ra thông báo hăm dọa kiện BM.) Dĩ nhiên khi BM thách thức như vậy phải có điều kiện .Nếu NXD thắng thìsao? Nếu NXD thua thì sao?Ông Dũng đã trốn chạy trong việc thách thức này,ông D chỉ có nước nói lén,nói xàm trước những kẻ không biết gì.

          12) Bà Trần Ánh Tuyết, bà này thuộc Liên Minh dân chủ của ông Nguyễn Ngọc Huy,bà này cũng thích nổi lắm,trước đây thất thể bị một vố nặng là chủ trương hoà giải vơí VC, bị những người đồng đảng Tân Đại Việt dập một trận nên thân,thất thế nhờ ông Quốc Nam dìu dắt cho lên đài phát thanh hội luận,lấy lại được bình thường trong sinh hoạt ,không biết thân đâm hơi dở chứng chạy lung tung theo ủng hộ đám Việt Tân,bể quá dựng cbà Thanh vợ ông Mẫn lên làm đại diện LMDC, con người nhiều mưu mô,chơi không tốt với bà Thanh( chơi kiểu thủ đoạn đá bà Thanh). Khi xe hoa do Trần Đức bảo trợ,xe hoa này do Denny Diep tổ chức (anh này trước đây là giám đốc tổ chức Peace Tree,tổ chức này tiếp đón đại sứ VC ở Seattle),thế mà khi xem xe hoa có con rồng đỏ,có biển quảng cáo chợ Viet Hoa,bà Tuyết khen ngợi nứt lòng,đại khái email nói “ Nhìn xe hoa mà bà hảnh diện cho cộng đồng..” Bà Tuyết là người đi bầu cho cộng đồng tội phạm,có lẻ bà Tuyết nghe theo lời lảnh tụ LMDC trước đây có đến Seattle và nói “Thà ủng hộ lầm hơn không ủng hộ” Thật đần độn vì câu nói này. Không biết bây giờ bà Tuyết theo Trần Trung Dung hay Quang Adam Nguyễn?

          13) Phan Rang, Ông này thì hết chổ nói,có tiếng về vụ “dê” quanh khu Phước lộc Thọ ,các housing đều biết rỏ,tính bộp chộp,không có một chút kiến thức nào cả ,thích nói nhưng mỗi lần nói là nói xàm,con người không có tự ái,bị đám vận động cho ra rìa thế mà một câu vuốt ve là theo ngay,ông Phan Rang có nickname ( không biết ai đặt)là Phan Rờ,ông này thì chả có gì nguy hiểm,hơn 70 chục rồi mà như con nít,trái phải chẳng biết phân biệt.

            Kính thưa quý độc giả ! Quả thật trong cộng đồng có nhiều rắc rối,rắc rối là do những tay làm chính trị Dzởm,rắc rối là do sự bịnh hoạn của những tay tập làm chính trị, rắc rối là do những loại người này sống trong hoang tưởng ,rắc rối là do những kẻ có nhiều tự ty mặc cảm và cũng do rắc rối nữa là do những kẻ già nua trí óc không còn minh mẫn . Cứ đứng làm người quan sát thì thấy những tuồng họ diển quá lố bịch. Như ông TTD đã công bố trong ngày cuối tháng 7 vừa qua, ông Dung đã nêu ra một vài trường hợp ( chúng tôi tin là ông D nói thật trong lúc này). Những bửa tịệc có người ủng hộ một bàn $600.00 nhưng chưa đưa tiền,ít hôm sau gọi lại nói là đã vào bệnh viện cấp cứu nên bây giờ không có tiền? Hay thật là hay? Ông TTD cũng kể việc ông Đại gia Trần Đức đấu giá một vật gì đó(người viết quên) $1,500.00 nhưng vẫn chưa đưa ,ông TĐ nói vì chưa xử dụng nên chưa đưa. Buồn cười không quý vị? Toàn là dzởm đời ráo trọi,người ta thích khoe trước đám đông mà thôi. Qua sự kiện lộn xộn này đồng hương chắc học được một bài học ,học để khỏi bị lừa ,những bửa tiệc gây quỷ từ thiện ,ngay cả cho Thương Phế Binh họ cũng lừa đồng hương ,số tiền không thể nào đến tay những người đáng thương và đáng tôn trọng ở Việt Nam , những kẻ ở đây cơm no,rượu dư thế mà vẫn tham lam từng đồng ,thật là bất lương,họ mượn đồng tiền của những đồng hương tốt bụng để thuê ca sĩ ,nhảy đầm cho qua ngày,còn dư thì họ lấy hoặc cho thân nhân họ,không thể nào chứng minh được việc làm của họ là minh bạch,họ dùng danh nghĩa chống cộng để kiếm ăn,nếu ai phanh phui ra thì họ già mồm ,lẻo mép chụp mủ là VC mới phản đối,chống phá gây quỷ từ thiện . Kính quý đồng hương ,nếu quý vị nào có tâm thật sự giúp thương phế binh thì nhờ thân nhân mình ở VN tìm giúp hoặc nhờ các hội đoàn quân đội cung cấp hồ sơ.. Gởi trực tiếp đến họ thì chắc ăn,có ít gởi ít. Người viết bài này cũng có hàng chục người hàng xóm,bà con xa gần nghèo khổ không cơm mà ăn,có biết hàng chục Thương Phế Binh đáng thương ,lo cho những người đó cũng đủ rồi,âm thầm làm việc thiện tốt hơn la khoe của ,khoe lòng trước đám đông . Người viết tin rằng người nào ở đây cũng quen,biết một số người nghèo khổ ờ VN(hoặc là hàng xóm,hoặc là bạn bè,hoặc là bà con…),tự động giúp trực tiếp cho họ.Có những người đến những bửa tiệc đó cho hàng trăm đồng nhưng,không nhả một đồng cho thân nhân,bạn bè họ lâm khổ ở VN ,vì cho những người này đám đông cộng đồng không biết.Thật là nghịch lý.

          Kính thưa quý độc giả! Những nhân vật nêu trên là những nhân vật nòng cốt để xây dựng cộng đồng “tội phạm”. Khi nêu tên họ và những việc làm của họ ,chúng tôi Bia Miệng chịu trách nhiệm về điều đó,chúng tôi sẳn sàng đối thoại với họ về những vấn đề nêu trên,nếu họ cảm thấy là chúng tôi nói sai sự thật,đối thoại để làm sáng tỏ vấn đề là chủ trương của nhóm Bia Miệng. Mọi vấn đề đối thoại trước đồng hương là đúng theo tinh thần dân chủ. Chắc chắn những kẻ ghét Bia Miệng sẽ nói xấu BM,khi đồng hương nào nghe họ nói xấu BM ,chúng tôi yêu cầu đồng hương nói với họ “ Các ông nói BM như vậy ,tại sao không mở đối thoại với BM, nếu có cuộc đối thoại thì chúng tôi sẽ tin ai ĐÚNG ai SAI.” Tưởng cũng cần nói nhóm người ghét BM ( điển hình như Quang Adam Nguyên )hay nói : BM phá hoại cộng đồng,đó là lời hầm hồ,chúng tôi chưa bao giờ phá cộng đồng,chúng tôi chỉ phá vở những tổ chức ,những kẻ tự xưng đại diện cho cộng đồng người Việt,những tổ chức cá nhân này làm bậy,có hại cho công cuộc chống cộng là chúng tôi PHÁ ,không cho hình thành để tiếp tục bịp đồng hương. Còn những tổ chức có lập trường Quốc Gia chân chính chúng tôi sẳn sàng ủng hộ.

            Kính thưa quý độc giả! Những gì chúng tôi đưa ra không với mục đích làm cho những người này thấy họ sai để quay về với lẻ phải,họ là những người đã mất hết lòng tự trọng,lương tâm…Họ hành động theo dục vọng xấu xa của họ,họ chỉ biết lấy chính họ,chuyện đất nước,cộng đồng …chỉ là miếng mồi để bịp đồng hương. Chúng tôi đưa ra để đồng hương khỏi bị BỊP ,hy vọng sau khi đọc hết số báo này quý độc giả nhìn được vấn đề để khỏi bị lừa, mong quý đồng hương tẩy chay tất cả những buổi gây quỷ của họ dù họ rêu rao “từ thiện”./.

          TƯỜNG TRÌNH HỘI THẢO CSVSQTB THỦ ĐỨC/WA (TT)

          Kính thưa quý độc giả !

           Chúng tôi tiếp tục tường trình buổi Hội Thảo của Hội CSVSQTB THỦ ĐƯC/WA bằng cách post từng pần của buổi hội thoại đó,Audio được post lên không edit nên có thể hơi ồn một tí,nhưng rất trung thực . Hôm nay chúng tôi kính mời quý vị nghe phần tâm sự của ông Nguyễn Quốc Hùng Trưởng Ban Lảnh Đạo của Hội. Kính mời.

          Xin bấm vào để nghe.


          TƯỜNG TRÌNH HỘI THẢO HỘI CSVSQTB THỦ ĐỨC/WA(TT).

          Kính mời quý vị nghe tiếp buổi Hội Thảo.phần này là lời phát biểu của Ông Nguyễn Công Ba chủ tịch Hội Thủ Đức và ông Nguyễn Bá Thành sáng lập viên của Hội.

          Kính mời bấm vào để nghe.


           Kính mời quý vị nhớ đón nghe phần kế tiếp phần này,chúng tôi sẽ post trong một vài ngày nữa.Phần này rất quan trọng,vì chứng minh những sự kiện mà Nguyễn Đồng Duy và Đặng Ghi chống lại lập trường 4 không của Hội.



          CÁI NHÀ LÀ NHÀ CỦA TA

          Phó thường dân (13): Cái nhà là nhà của ta

          Bây giờ là sắp vào mùa thu thời tiết vùng Tây bắc Hoa-kỳ đã cục cựa thay đổi. Buổi sáng bắt đầu có sương mù và những ngày mưa tới thường kỳ hơn. Mái nhà lợp gỗ tuyết tùng (cedar shake), trông thì đẹp mà hổng có bền, của phó thường dân đã có dấu hiệu mục và cong chênh với những đường nứt dù chưa đến ngày quá đát (mới 15 năm). Hãng bảo hiểm nhà đi kiểm chứng đã gởi giấy cảnh báo phải thay mái thì họ mới tiếp tục nhận bảo hiểm.

          Cái nhà là tổ ấm. Chính thị con nai vàng hổng trật đâu được. Ở vùng Tây bắc Hoa-kỳ tương đối lạnh và mưa khá nhiều này nếu nhà dột hoặc trống hở thì có mà chết cóng. Thế nên phó thường dân tui phải kêu thợ lợp mái lại, đúng là hao tại thiệt nhưng mà cho khỏi hao tâm.

          Ai đã có một căn nhà thì biết, đủ thứ mọi chuyện phải lo, chăm chút từng chuyện một. Từ ngoài cổng cho đến sau vườn quanh năm suốt tháng có chuyện để làm. Cắt cỏ, tỉa cây, dọn vườn hàng tuần thì cũng mất tiêu gần hết hai ngày cuối tuần. Rồi thì sửa ống dẫn nước, nhà cầu, nhà bếp, lò sưởi, máy giặt, máy sấy, máy cắt cỏ, v.v… Túi bụi hổng rảnh rỗi chút nào.

          Than thở dzậy thôi chứ nhà của ta thì ta là vua trong nhà. Muốn làm gì cũng được. Hổng ai được quyền nhóm ngó, quấy nhiễu. Ở bên này căn nhà là tòa lâu đài riêng của người chủ. Bất khả xâm phạm.

          Gần như vậy. Suốt hơn 30 năm ở vài nơi khác nhau trên đất Hoa-kỳ này riêng cá nhân phó thường dân tôi chưa bị quấy rầy bởi một ai, từ hàng xóm cho đến chính quyền. Mạnh ai nấy ở, mạnh ai nấy làm, miễn là không phiền nhiễu đến người khác. Đôi lúc cũng có những người đi giảng đạo gõ cửa xin phép nói chuyện và tặng thánh kinh nhưng nếu muốn nghe hoặc nhận thì cầm lấy còn không thì lắc đầu từ chối. Cả hai bên dzui dzẻ cười chào là xong chiện. Nhà nào kín cổng, cao tường dán luôn bảng không tiếp người bán hàng tận nhà (door-to-door salesperson) hoặc người truyền đạo thì xong ngay, khỏi mắc công bị gõ cửa.

          Ngay cả cảnh sát thi hành công vụ cũng chỉ được đứng trước cổng (nếu khoá cổng) hoặc cửa nhà hỏi chuyện chứ không được vào trong nhà nếu không có trát toà hoặc không được chủ mời. Có đâu như chuyện tổ trưởng dân phố, công an khu vực tự tiện xồng xộc vào nhà như nơi công cộng.

          Nhớ lại mấy năm sống dưới chế độ CS sau 1975 trước khi liều mình vượt biển, buổi sáng người bán hàng rong chưa rao hàng thì đã nghe tiếng loa phường điếc con ráy đánh thức dậy, bất kể người lao động ban đêm hoặc người hay thức khuya cần vài giờ an giấc. Rồi thì buổi chiều đến đang ăn tối lại bị nghe thông tin, tuyên huấn, nghị quyết đến sình bụng. Tuần nào cũng bị kêu đi họp tổ dân phố, cả đám ngồi chồm hổm nghe cán bộ lải nhải hổng thua gì cái loa phường.

          Còn bây giờ đã hơn 36 năm cái XHCN lại thòng thêm cái đuôi “định hướng kinh tế thị trường” cũng chẳng thay đổi gì. Loa phường vẫn ra rả, nhai nhải hết văn bản, thông báo, rồi nghị quyết của phường, xã, huyện, tỉnh, thành phố, nhà nước đúng là rác tai. Chưa hết các tổ trưởng dân phố và công an khu vực thì “rảnh” đến “thăm” bất kể ngày đêm viện cớ khám hộ khẩu, phổ biến công văn v.v… Lại còn bày trò nhân viên công ty kiểm tra công tơ điện, nước, v.v…

          Cái nhà đâu còn là của ta khi có kẻ tự tiện vào bất kể gia chủ muốn hay không (cũng không được)i. Vì họ chỉ cần nhân danh cái tập đoàn tội phạm (đảng và nhà nước) với cơ bắp (an ninh, cảnh sát) là đủ để cưỡng chế dân lành. Rồi họ lại áp đặt các nghị định, nghị quyết, thông cáo để bắt bớ, giam cầm vô cớ và xét xử, kết án trái phép, vi phạm mọi quyền hiến định của người dân.

          Phó thường dân chỉ được nghe tường thuật lại các cuộc xét xử ở toà án nhân dân. Nghe mà hãi hùng. Nhưng tui lại có cơ hội tham dự các phiên toà xử ở Hoa-kỳ này. Tui được thấy một phiên toà xét xử bởi bồi thẩm đoàn (trial by jury) mà họ theo tiến trình rất là nghiêm túc và chuẩn mực.

          Hệ thống luật pháp dưới chế độ dân chủ ở Hoa-kỳ tôn trọng và thiên về việc xét xử bởi bồi thẩm đoàn, gồm 6 hoặc 12 công dân đồng bào (fellow citizens), cho đa số các vụ hình sự. Đây không phải là hội đồng xét xử chọn lựa bởi chính quyền (công tố viên) theo kiểu toà án nhân dân. Danh sách sơ khởi bồi thẩm đoàn được bốc thăm (random selection) ra từ danh bạ công dân đi bầu trong quận hạt. Cả hai phía luật sư bị cáo và công tố viên chỉ được quyền lựa chọn bồi thẩm đoàn chính thức từ danh sách này sau khi đã phỏng vấn và chất vấn. Tính không thiên vị của bồi thẩm đoàn được bảo toàn qua hình thức tuyển chọn này.

          Trong các phiên đại hình thì bồi thẩm đoàn được cô lập không tiếp xúc với bên ngoài để tránh bị ảnh hưởng các ý kiến của báo chí và người ngoài. Phán quyết của bồi thẩm đoàn (jury verdict) phải hoàn toàn chỉ dựa trên cáo trạng, lời biện hộ, bằng chứng, lời chứng (testimonies), giải thích của nhân chứng chuyên gia (expert witness), các chất vấn (cross-examination) không bị áp lực từ cá nhân hoặc thế lực nào. Những ai cố tình ảnh hưởng, lung lạc, đe dọa bồi thẩm đoàn sẽ bị kết tội can thiệp bồi thẩm (jury tampering). Muốn có phán quyết trong các vụ hình sự thì phải đa số tuyệt đối (6/6 hoặc 12/12) để đảm bảo là toàn thể đồng tình kết tội một người.

          Cũng xin nhắc là trong bổn phận và trách nhiệm của mọi công dân Hoa-kỳ thì hai bổn phận chính là đi bầu và tham gia bồi thẩm đoàn (jury) nếu được gọi. Việc tham gia bồi thẩm đoàn là điều bắt buộc khi được gọi (bốc thăm) và chỉ được miễn trừ nếu có lý do chính đáng.

          Trở lại chuyện cái nhà của ta. Cái nhà riêng thì ai cũng chăm chút cho nó. Nhưng cái nhà chung thì sao? Cái nhà tổ tiên của vua Hùng để lại giờ như thế nào?

          Theo bài Cơ chế phá và xâyii thì có lẽ cái cơ chế của nhà nước XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN thì phá là chính vì “cái cơ chế ấy phá phách thì rất nhanh”.

          Về văn hóa, cơ chế ấy với khẩu hiệu “bài trừ tàn dư phong kiến, thực dân” đã phá đình chùa, đốt sách, hạn chế thờ cúng tổ tiên (1). Sau đó, hô hào xây dựng “nền văn hóa mới” không rõ hình hài. Đất nước đã 36 năm thống nhất nhưng chưa có lấy một công trình văn hóa xứng với rất nhiều công trình để lại từ thời “thực dân pháp đô hộ”.

          Những tàn phá gốc rễ xã hội dẫn tới rối loạn trầm trọng ở mọi lĩnh vực: giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học, thể dục thể thao, văn học nghệ thuật, quốc phòng, an ninh, chính trị, tư tưởng… Cái cơ chế tàn phá rất nhanh nhiều giá trị truyền thống, lại bế tắc trong xây dựng các giá trị mới, thì không có cơ sở tồn tại. Thực tiễn không tìm thấy lý do tồn tại thì tranh cãi lý thuyết chẳng còn ích gì.

          Ví dụ cụ thể của cơ chế phá được dẫn ở chú thích trong cùng bài:

          (1) Hiện tượng đáng đau tủi gần đây nhất là hầu hết lăng mộ thời Trần ở An Sinh (Đông Triều, Quảng Ninh) đã được chính quyền Nhà nước tùy tiện chia cho người dân để lấy đất làm chỗ ở (vì những chỗ béo bở thì các quan đã chia nhau hết rồi), và đương nhiên ai được chia thì việc đầu tiên là phá hủy lăng mộ các vua Trần để san lấp mặt bằng rồi sau đó xây dựng nhà cửa lên trên, thế là cả một cụm di tích vô giá bằng đá gồm 7 ngôi mộ các vua Trần giữa một vùng đồi rất đẹp bị san bằng. Nhưng không thể trách người dân, vì “dân ngu khu đen” bị dồn đến chỗ mất đất, mất nhà thì đâu có tội. Dầu là di tích lịch sử đi nữa họ cũng phải phá đi để kiếm chỗ cho con cháu có cái mà chui tạm chứ. Vậy thì trách ai đây nếu không là một cơ chế “óc rỗng” từ dưới lên trên, không cần biết đến lịch sử, không thèm hiểu về văn hóa, ấy trăm tội cứ đổ vào đầu cái thằng cơ chế là khỏe nhất – Chú thích của BVN.

          Tây Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn là nóc của căn nhà Việt Nam. Thế nhưng nó đã bắt đầu rò rỉ, dột nát vì các kế hoạch và chính sách thiển cận trong tư lợi.Vấn đề nổi cộm bức xúc nhất mà các nhân sĩ và dân chúng quan tâm từ mấy năm vừa qua về khai thác bô xít vùng Tây Nguyên thì đã chóng thấy nhãn tiền. Tàn phá môi trường ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống người dân trong vùng ngay từ bây giờ và cho đến cả trăm, ngàn năm sau. Các cư dân trong vùng đã phản ảnh như sau:

          Ông Nguyễn Quang Minh, ở khu 6A, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo Lâm, nói: “Người dân chúng tôi thấy vụ ô nhiễm này rất nghiêm trọng, bà con đang rất lo lắng, nhất là ô nhiễm môi trường về lâu dài. Hiện Nhà máy chuẩn bị đi vào hoạt động nhưng hồ chứa bùn đỏ mới chỉ làm được một phần nhỏ thì nguy hại không biết còn đến mức độ nào nữa”.

          Anh Vũ Ngọc Long, ở khu 6, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo Lâm, nói: “Nhà tôi nằm cách Nhà máy 1km nhưng nói chuyện với nhau thì phải hét vào tai mới nghe được. Còn ở khu vực gần đó, bà con nói chuyện chẳng nghe được gì luôn”.iii

          Thế nên bọ Lập đã có lời ai điếu trong Lời cuối cho Bauxiteiv:

          Làm  Bauxite Tây Nguyên chẳng được cái gì, thiệt hại về kinh tế, ô nhiễm về môi trường, nguy hiểm về quân sự, đến đứa con nít cũng biết. Vậy người ta có đóng cửa Bauxite Tây Nguyên không? Không, không bao giờ, không đời nào. Cũng như Vinashin, người ta sẽ chèo chống đến cùng giữ cho được Bauxite Tây Nguyên. Vì sao ư, quá dễ để có câu trả lời. Nhưng như một ông quan đã than thở với mình: nói ra dễ bị tù tội lắm em ạ, ai dại. Mình cũng chả dại, vì thế mình mới viết lời cuối cho Bauxite, coi như ai điếu cho cái thời mình đang sống vậy.

          Còn tuyến đầu của tổ quốc thì đã bị tằm ăn rỗi, hết chuyện Hài bà Trưng đi chầu Mã Viện ở Đông Hưng, Trung Quốc năm trước giờ lại đến việc treo đèn lồng và đổi ngày kỷ niệm thành lập tỉnh Lào Cai trong Âm mưu Hán hóav. Rồi biển đảo bỏ trống cho “tàu lạ” tung hoành để ngư dân bị săn đuổi trong khi đánh cá ở ngư trường cố hữu bao năm nayvi.

          Thế thì có ai còn nhớ rằng:

          Cái nhà là nhà của ta
          Công khó ông cha lập ra
          Cháu con phải gìn giữ lấy
          Muôn năm với nước non nhà

          Cõi đời là đời của ta
          Nuôi dưỡng công lao mẹ cha
          Lớn khôn để gìn giữ nước
          Thay nhau xây đắp sơn hà

          Đó là bài hát sinh hoạt học đường, hướng đạo nhắc nhở thanh thiếu niên trẻ nhớ công ơn tổ tiên, ông cha xây nhà dựng nước mà bây giờ phó thường dân vẫn còn nhớ tới. Không biết qua bao năm tuyên truyền nhồi sọ với ông Mác-Lê cũng như câu đầu môi “nhờ ơn Bác và Đảng” thì con dân nước Việt có còn nhớ đến “công khó ông cha lập ra” hay chỉ là “Trung với Đảng” và “còn Đảng còn mình” để rồi nước mất, nhà tan.

          © 2011 Vietsoul:21

          [Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu  - (8) Gió mưa là chuyện của trời …  – (9) Vô liêm sỉ - man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … (12) Nhà em có nuôi một con két …]

          PHẦN QUAN TRỌNG : HỘI THẢO HỘI CSVSQTB THỦ ĐỨC/WA (TT)

          Kính thưa quý độc giả!

           Chúng tôi kính mời quý độc giả nghe Audio sau đây,phần này chứng minh hai ông Nguyễn Đồng Duy và Đặng ghi chống lại lập trường 4 không của Hội Thủ Đức . Lập trường đó là:

           *** Lập trường Bốn (4) không của Hội phát triễn từ nội quy của Hội Cựu SVSQTĐ/WA ,ông Duy nhận từ niên trưởng Đặng Phùng Diễm và hứa đi đúng lập trường của Hội

           Nhân danh và thừa uỷ nhiệm các cơ chế của Hội Cựu SVSQ/TB Thủ Đức Tiểu Bang Washington:

           Tôi Đặng Phùng Diễm, TB Tham Vấn của Hội có đôi lời nhắc nhở Tân CT Hội nhiệm kỳ 2010-2013 những điều sau đây:

          “Với chức vụ CT. Hội Cựu SVSQ/TB/Thủ Đức TB Washington, lúc này hơn lúc nào hết, ông CT cần nắm vững lập trường của Hội.

          Ngoài việc phát triển Hội, ông CT cần bảo vệ lập trường của Hội:

          1. Hội Cựu SVSQ/TB/ Thủ Đức TB Washington không chấp nhận đảng Cộng Sản Việt Nam và nhà cầm quyền độc tài toàn trị do họ thiết lập.

          2. Không hợp tác với các tay sai của Cộng Sản Việt Nam.

          3. Không hợp tác với bọn có ý định hòa hợp hòa giải với Cộng Sản Việt Nam.

          4.Không đứng chung hàng ngũ với bọn làm ăn và giao thương với Cộng Sản Việt Nam.

            Xin bấm vào bên dưới để nghe:

           


          ** Ghi chú : Chúng tôi kính mời quý  đôc giả nhớ đón nghe những phần kế tiếp : Những lời phát biểu của Đồng Môn và đồng hương.

          HỘI THỦ ĐỨC HỘI THẢO(TT): PHẦN PHÁT BIỂU CỦA ĐỒNG MÔN,ĐỒNG HƯƠNG.

          Chúng tôi gởi đến quý độc giả những lời phát biểu của đồng môn và đồng hương trong buổi Hội Thảo của Hội CSVSQTĐ/WA vào ngày 24 tháng 9 năm 2011 vừa qua.

           1/ Chị Thanh Trúc :

          “.Với tư cách là một người Việt Quốc Gia,với tư cách là người vợ,người em…của CSVSQTĐ………..Tôi là một người đàn bà biết phân biệt cái nào là chánh,cái nào tà...”

           2/ Ông Trần Văn Minh (khóa 14 Thủ Đức):

           “…Tôi đề nghị những người còn lại ngồi với nhau để củng cố Hội….”

           3/ Anh Đặng Sơn Minh :

           “…Điểm quan trọng của một Hội là lập trường của Hội ,tỷ dụ như 4 không chẳng hạng,có lập trường đó mới phân biệt được Quốc ,Cộng …. Có những thành phần lợi dụng cái tên Người Việt Quốc Gia,cái đó không những mình bị cái nghị quyết 36 ăn sâu vào,mà thế hệ con cháu chúng ta bị lợi dụng…..”

           4/ Ông Võ Tấn Ngãi:

           “…. Tôi thấy cái cách của VC làm ở đâu cũng giống nhau…..”

           5/ Cô Quỳnh Trâm:

           “ Vấn đề phân hóa rất nhiều trong cộng đồng….. Mặt trước,mặt sau,sân khấu có hậu trường….”

           6/ Ông Đặng Công Minh khóa 5/70 Thủ Đức:

           “….Ông Duy muốn làm chủ tịch lâu rồi,khi Nguyễn Đồng Duy lê làm chủ tịch tôi nói với vợ tôi là “ Nguyễn Đồng Duy lên bán Hội Thủ Đức cho Việt Tân để mà coi”. Hôm nay tôi trông cho Nguyễn Đồng Duy đến để tôi nói,có Đặng Ghi,Nguyễn Đồng Duy để nói. Đối với Nguyễn Đồng Duy thì hết thuốc chửa…”

           7/ Ông Vũ Trung Bình khóa 15:

           “ Khởi đầu của Hội Thủ Đức là bị đánh phá rồi,từ ngày ông Võ Tấn Kha trong ngày tết không cho bán radio của b/s Nguyễn Xuân Dũng…. Chúng ta phải giử căn cước tỵ nạn để chống cộng sản…..”

           8/ Anh Nguyễn Văn Thinh khóa 1/70:

           “ Cộng Sản là một loại siêu vi trùng ,chúng sinh sôi nẩy nở ở một cơ thể yếu ớt…. Chúng ta phải suy nghĩ cho kỷ đâu là chính ,đâu là tà..…”

           9/ Ông Bùi Quốc Hùng : Tổng Thư Ký của Hội CSVSQTĐ.

           “ …Anh Duy không có một kiến thức nào về quân sự,hay hành chánh……”

           10/ Anh Nguyễn Hiếu :

          “” Thế hệ của cháu không tham dự cuộc chiến nhưng biết mình là ai? Mình là người tỵ nạn Cộng Sản…”

           11/ Ông Khúc Thừa Nhân:

           “ …Chúng ta nên chú ý hai việc vừa xảy ra,Cộng Sản phá từ nhỏ tới lớn… nên nhớ vẫn còn hai lằn ranh….”

          BM

          ****  KÍNH MỜI QUÝ VỊ BẤM VÀO PHÍA DƯỚI ĐỂ NGHE AUDIO


          TƯỜNG THUẬT:HỌP KHOÁNG ĐẠI CỘNG ĐỒNG NVQG SEATTLE & VÙNG PHỤ CẬN


          LTS: Chúng tôi tạp chí Bia Miệng có đến dự phiên họp khoáng đại do ông Trần Trung Dung tổ chức,chúng tôi tường thuật lại những gì tai nghe,mắt thấy một cách trung thực để đồng hương tiện việc theo dỏi . Chúng tôi chỉ tường thuật những nét chính yếu của buổi họp. Những lời phát biểu ghi lại nơi đây không nguyên văn nhưng nội dung lời phát biểu hoàn toàn đúng.

          B.M

           Đại Hội khoáng đại của Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Seattle và Vùng Phụ Cận do ông Trần Trung Dung làm chủ Tịch,đại hội bắt đầu vào lúc 2:30pm ngày 8 tháng 10 năm 2011 tại nhà hàng Jumbo đường Rainier.

           Đại Hội với mục đích :

          1/ Làm sáng tỏ những chuyện xung đột giũa ông Trần Trung Dung và các ông Quang Adam Nguyễn(Phó Chủ Tịch), Tông Thất Hồng( Chủ Tịch Hội Đồng Giám Sát), Nguyễn Văn Diệp( chủ tịch Hội Đồng Quản trị).

           2/ Ý kiến đồng hương về sự việc xảy ra.

             Sau nghi thức thông lệ là cháo Quốc Kỳ Mỹ,Việt . Ông TTD yêu cầu đồng hương bầu chủ tọa đoàn. Những người được bầu làm chủ tọa đoàn là những ông,bà:

          _ Ông Khúc Thừa Nhân

          _ Ông Nguyễn Hồng Phúc

          _ Ông Võ Tấn Ngãi

          _ Cô Hương (thư ký buổi họp)

          Ông Khúc thừa Nhân đề nghị với ban tổ chức sửa đổi một vài yêu cầu bất hợp lý để cho phù hợp với tinh thần dân chủ. Ban tổ chức đã đồng ý. Sau ông Trần Trung Dung là ông Thái Nhật Lĩnh,ông Lĩnh ở trong Hội Đồng Quản trị,ông cũng là Trưởng Ban Vận Động của tổ chức cộng đồng này. Ông Lĩnh đã dùng slide show chứng minh những gì mà phía Quang Adam Nguyễn,Tôn Thất Hồng và Nguyễn Văn Diệp là trái với nội quy của tổ chức.

           I . Phần trình bày của ban tổ chức.

           1/ Ông Trần Trung Dung:

           Ông nêu ra những chứng từ vi phạm nội quy của phía Quang Adam.Ông Dung nói là đã có mời họ tới nhưng họ không đến( ông chỉ vào những tấm bảng tên của các ông Tôn Thất Hồng,Nguyễn Văn Diệp,Quang Adam,Nguyễn Trọng Nghị.

           2/ Ông Thái Nhật lĩnh:

           Điểm thứ nhất là :Các Ông Hồng,Diệp,Quang Adam xin một giấy phép mới,giấy phép này của một tổ chức khác (không liên hệ đến tổ chức Cộng Đồng đang có)

          Điểm thứ hai: Phía Quang Adam Nguyễn,Nguyễn Văn Diệp,Tôn Thất Hồng dưới sự kiễm soát của tài phiệt.

           2/ Ông Nghiêm Hòa:( không trong ban tổ chức).

           Ông Nghiêm Hòa là chủ tịch Hội Thương phế binh,ông trình bày về vấn đề tiền thương phế binh trao cho ông Nguyễn Văn Diệp. Ông Nghiêm Hòa nói là khi ông nhận chủ tịch do ông Nguyễn Văn Thảo bàn giao,ông thấy rằng số tiền $1,250 .00 mà ông Thảo giao cho ông Nguyễn Văn Diệp(ông Hòa đưa biên nhận ra),nhưng ông Nguyễn Văn Diệp không đưa hồ sơ của những người TPB lảnh tiền,không có một chứng từ gì để gọi là các anh TPB đã nhận được tiền,ông Diệp chỉ đưa tên không mà thôi,chỉ tên làm sao biết hư thực. Sau đó ông Nguyễn Văn Diệp có xin thêm tiền cho TPB nhưng ông Nghiêm Hòa từ chối,ông Hòa không tin vì ông Diệp đã không chứng minh được là số tiền trước đây ông Diệp nhận đã đến tay các anh TPB. Ông Hòa nhấn mạnh ông là người tiêu xài rất nhiều nhưng đồng tiền của các anh TPBthì không bao giờ đụng tới,lấy tiền đó là thất đức. Nói tóm lại phần trình bày của ông Nghiêm Hòa đã lột trần tất cả sự gian trá của ông Diệp trong việc xử dụng tiền của đồng hương đóng góp để “nhớ về anh”.

           II.Ý Kiến Đồng Hương.

           1/ Ông Vũ Trung Bình:

           Phần nỗi bật nhất là ý kiến của ông vũ Trung Bình,ông Bình đã đi thẳng vào vấn đề,vấn đề bất chấp nội quy để cướp Hội,Cộng Đồng… Ông so sánh ở Hội Thủ Đức và Cộng Đồng. Ở Hội Thủ Đức hai ông Nguyễn Đồng Duy và Đặng Ghi đã gây rối đi theo con đường tà,nay thì Quang Adam Nguyễn cùng những tên Tôn Thất Hồng,Nguyễn Văn Diệp,Nguyễn Trọng Nghị gây rối trong tổ chức cộng đồng của họ. Lần lượt rồi sẽ đến những tổ chức “Người Việt Quốc Gia”khác .Bây giờ chúng ta phải làm sao quét hết rác rưởi đó,quét những kẻ núp phía sau xúi dục quậy phá ,làm tan nát những tổ chức của người Quốc gia.,phải vạch mặt bọn chúng .Ông Bình cũng đề cập đến vấn đề báo chí,ông nói ở trong nước báo chí VC là báo chí đi theo “lề phải”,tất cả là chỉ thị của đảng,còn ở hải ngoại đa số báo chí cũng có “lề phải” của họ,báo chí không loan tin trung thực hoặc không đăng bài của những người không đi theo “lề” của họ…

           2/ Ông Khúc Thừa Nhân:

           Ông Nhân hỏi ông Dung về sự khác biệt lập trường của ông Quang Adam nguyễn với ông Dung,sự khác biệt này có lần ông Dung đề cập tới,nhưng không nói rõ. Ông Dung giải thích sự khác biệt là : Ông Dung lo cho chuyện chung,còn ông Quang Adam chỉ mưu lợi lộc ,không nghĩ đến chuyện Cộng Đồng .Sự khác biệt về lập trường chính trị thì ông Dung không giải thích rõ,ông chỉ nói là để đồng hương đánh giá,ông cũng nêu ra ví dụ là chính ông đứng ra tổ chức biểu tình chống Trung Cộng và VC vừa qua,như vậy quý đồng hương biết được chúng tôi như thế nào?.

           3/ Ông Huỳnh Kim Anh:

           Ông HKA nhắc lại buổi họp khoáng đại trước đây do ông Dung tổ chức ,hôm đó ông Dung có đề cập đến một nhân vật làm ăn buôn bán với VC ,đó là ông Hà Thúc tiến.Ông Dung không chấp nhận sự việc này đó là lập trường của ông Dung.Hôm nay chúng ta cũng cần chú ý một điểm,dù là phần bổ túc của ông Thái Nhật lĩnh nhưng vô cùng quan trọng,đó là việc Nhóm Tôn Thất Hồng,Nguyễn Văn diệp,Quang Adam… đặt dưới sự kiểm soát của tài phiệt. Hai sự kiện trên tôi nghĩ cũng thay thế được câu trả lời của ông Dung .Vì thế khi ông HKA chấm dứt,ông Dung đã nói “ Cám ơn chú KA đã trả lời thế”

           4/ Ông Nguyễn Quốc Hùng:

           Nêu lên một vài thành phần chuyên môn phá hoại,điển hình nhất là ông Nguyễn Trọng Nghị,một nhân vật gây nhiều sóng gió trong cộng đồng.Ông Nghị đã từng phá Hội Thủ Đức nay đến cộng đồng “trẻ” Ngoài những ý kiến đó ra còn có ý kiến của ông Võ Tấn Ngãi,ông kêu gọi các hội đoàn đứng lại với nhau để đối phó với những thành phần gây rối .Ông Ngãi có nhắc đến những bài viết thật chính xác của cô Đặng Ngọc Hằng,những bài viết có sức thuyết phục.

          III. Kết Luận:

          Chủ tọa đoàn hỏi ý kiến đồng hương về sự việc mà đồng hương đã nghe. Tất cả (100%) đều đồng ý : Bải nhiệm các ông đã làm loạn vì họ đã vi phạm nội quy trầm trọng. Các ông đó là : Tôn Thất Hồng,Nguyễn Văn Diệp,Quang Adam, Nguyễn Trọng Nghị.

            B.M

          NHỮNG NGƯỜI MUỐN CỘNG ĐỒNG RỐI LOẠN

          Kính thưa quý thính giả!

           Từ trước đến nay nhiều dư luận về việc ông Nguyễn Cao kỳ,phía bên chống lại những việc làm của ông Kỳ thì nhiều,về phía bên vực thì ít. Khó mà chối cải về những việc làm của ông Kỳ khi còn sống,nếu ông Kỳ là một người thường hay là một sĩ quan cấp nhỏ của QLVNCH thì không gì đáng nói,nhưng dù ai có nói thế nào đi nữa ông Kỳ cũng là vị lảnh đạo Quốc Gia thời VNCH,cho nên những hành động của ông là một xỉ nhục cho QLVNCH cũng như chế độ VNCH . Bây giờ thì ông Kỳ đã chết,dư luận vẫn còn,mỗi người có quan niệm riêng,chúng tôi tạp chí Bia Miệng chưa bao giờ lên tiếng chỉ trích ông Kỳ bởi vì, càng bươi càng xấu,chúng tôi muốn chôn đi cho xong,tuy thế chúng tôi cũng không phản đối những ai chỉ trích ông Kỳ sau khi chế… Chúng ta nếu là người Việt Quốc Gia chân chính,chúng ta nên đề phòng những thủ đoạn của VC,chúng lợi dụng đủ thứ chuyện để gây xáo trộn trong cộng đồng người Việt tỵ nạn,từ việc nhỏ nhất rồi sẽ kéo đến việc lớn,nhìn lại lịch sử thì chúng ta thấy rỏ. Người Quốc Gia thì hờ hửng,mau quên ,đôi khi lại có tính “quân tử” nên bị thua .

           Chúng tôi mời quý vị nghe Audio cuộc nói chuyện của chúng tôi với ông Quốc Nam giám đốc đài RADIO SAIGON ở Seattle để biết rỏ hơn về quan niệm của chúng tôi (BM). Chuyện ông Kỳ không thành vấn đề nữa , nhưng quan trọng là những người đứng ra tổ chức những chuyện có dính dáng đến ông Kỳ,theo chúng tôi những người này chẳng thương hay tiếc hay nể trọng gì ông Kỳ cả ,họ làm có mục đích riêng của họ và chắc chắn là gây rối loạn trong cộng đồng,điều này rất có lợi cho nghị quyết 36 của VC.

               Kính mời quý vị bấm vào để nghe AUDIO


          TUYÊN BỐ CỦA CHÍNH PHỦ VNCH NGÀY 26 THÁNG 4 NĂM 1958……

          Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ngày 26 Tháng 4 năm 1958 về thắc mắc trong vấn đề tái thống nhất đất nước

          Nguyen Hoi

          October 20, 20110 Bình Luận

          Kính thưa Quí Vị,

          Từ hai năm qua, vào cuối tháng 10 hoặc đầu tháng 11 tôi đều đóng góp một bài viết về nền Đệ Nhất Cộng Hoà. Với hai bài „Thời nào Dân Việt sướng nhất“ chúng ta đã cùng so sánh đời sống đại đa số dân chúng trong ba thời kỳ Đệ Nhất, Đệ Nhị Cộng hoà và XHCN. Kết quả cho thấy, mặc dù dưới thời Đê Nhất Cộng hoà số tiền viện trợ ngoại quốc vào Việt Nam thấp nhất nhưng tiền lương người dân laođộng, là thành phần chiếm đa số trong xã hội Việt Nam, cao trội hơn một cách rõ ràng với Đệ Nhị Cộng hoà và đặc biệt là với thời XHCN, mặc dù khoảng cách đã gần 50 năm.

          Nhân tìm được trong thư viện một trường Đại học Đức “Bản Tuyên Bố của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà ngày 26.04.1958 về thắc mắc trong vấn đề tái thống nhất đất nước” bằng tiếng Đức, tôi “ngấu nghiến” đọc và nhận thấy Bản Tuyên Bố có lập luận chặt chẽ, lời lẽ nhẹ nhàng nhưng diễn được suy nghĩ đanh thép của những người lãnh đạo thời đó. Những lập luận luôn được kèm theo thí dụ các sự kiện đã xảy ra làm người đọc, cho dù chưa sống dưới chế độ cộng sản, cũng có thể hiểu được thực trạng của chế độ cộng sản và lý do nào khiến người cộng sản miền Bắc đã chia đôi đất nước và sau đó đòi hỏi một cuộc tổng tuyển cử để tái thống nhất đất nườc với một Việt Nam Cộng Hoà tự do và trù phú chỉ sau gần 4 năm tái kiến thiết sau ngày Hiệp định Genève được ký kết.

          Một điều đáng chú ý là năm 1958 Việt Nam Cộng hoà chưa có Đại sứ, mới chỉ có Sứ Thần tại CHLB Đức, nhưng các Vị Tiền bối cũng đã cho dịch dịch Bản Tuyên bố của Chính phủ ra tiếng Đức và cho phổ biến đến các trường đại học. Qua đó cho thấy, Bản Tuyên bố này đã được phổ biến ở nhiều quốc gia khác nơi VNCH có cơ sở ngoại giao.

          Do tầm quan trọng của Bản Tuyên bố, tôi dịch bản Tuyên bố trên ra tiếng Việt để mọi người chúng ta cùng tham khảo và hãnh diện rằng, nước Việt Nam đã một thời có những người lãnh đạo đất nước không những chỉ thực sự vì nước vì dân mà còn rất khôn ngoan. Với đường lối chính trị và phương thức đấu tranh của Chính phủ Đệ nhất VNCH, chắc chắn miền Nam đã không rơi vào tay người cộng sản mà ngược lại có lẽ cả nước Việt Nam ngày nay đã được thống nhất theo mô hình của Đức và người dân Việt không phải lam lũ làm tôi mọi cho giai cấp thống trị mại bản đỏ, người con gái Việt không phải vong thân cho ngoại bang dày vò thể xác để mong được sống qua ngày, mà chúng ta đã là những con người tự tin, hiên ngang như các dân tộc Nhật bản, Đại hàn, Đài loan, Singapore vv….

          Công việc dịch ra tiếng Việt từ ngoại ngữ chắc chắn không thể diễn tả hoàn toàn hết được ý tưởng của bản văn tiếng Việt. Xin Quí Vị niệm tình tha thứ nếu có sơ xót.

          Kính mến

          Nguyễn Hội

           Vietnamese refugees left the newly created communist North Vietnam during Operation Passage to Freedom (October 1954).

           Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ngày 26 Tháng 4 năm 1958 về thắc mắc trong vấn đề tái thống nhất đất nước

            Trong bức thư đề ngày 7 tháng ba năm1958, được sử dụng với mục đích tuyên truyền – bởi vì văn bản được phát đi ngay lập tức bởi Đài phát thanh Hà Nội và Đài phát thanh Bắc Kinh – Nhà chức trách Hà Nội đưa đề nghị „thiết lập quan hệ bình thường“, đề nghị xem xét vấn đề tái thống nhất đất nước, hạn chế quân sự và giao thương giữa hai vùng.

          Mặc dù đồng bào chúng tôi ở miền Nam và miền Trung Việt Nam đã được thông báo về tính chất lừa đảo của tuyền truyền cộng sản, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cũng phải có trách nhiệm giải thích cho đồng bào ở miền Bắc, những người đang bị cô lập với mọi thông tin xác thực và dư luận thế giới, các mâu thuẫn giữa tuyên bố và hành động của nhà chức trách Hà Nội cùng thực trạng bất lương về những cáo buộc của họ.

           Vấn đề thống nhất đất nước và cuộc bầu cử chung

            Xin nhớ rằng, Chính phủ chúng tôi đã luôn luôn bảo vệ sự thống nhất của đất nước. Trong Hội nghị Genève năm 1954, phái đoàn Việt Nam đã phản đối mạnh mẽ chống lại ý định của cộng sản Việt Nam. Phái đoàn chúng tôi đã chống việc chia ly tạm thời của đất nước. Chúng tôi đã đề xuất việc thu các đơn vị quân sự của cả hai bên vào một số khu vực hạn chế và sau đó tổ chức cuộc bầu cử tự do dưới sự kiểm soát của Liên Hiệp Quốc. Phái đoàn Cộng sản đã bác bỏ đề nghị trên, họ đòi hỏi chia đất nước từ vĩ tuyến 17 nhằm đạt dân số trội hơn miền Nam. Sau cuộc trốn chạy của hơn một triệu người tị nạn về miền Nam, tại miền Bắc vẫn còn hơn 13 triệu người so với 11 triệu người dân sinh sống trong miền Nam.

          Nhờ vào chế độ công an trị và quân đội lớn hơn so với Việt Nam Cộng hòa, cộng sản tin rằng họ có thể ép dân chúng miền Bắc, dân số cao hơn, bỏ phiếu bầu cho họ ngõ hầu chế độ cộng sản có thể thống trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam và như thế, nền hoà bình trong vùng Đông Nam Á sẽ bị đe doạ.

          Từ ý tưởng này người cộng sản đòi hỏi thực hiện một cuộc Phổ thông đầu phiếu tại Việt Nam, trong khi họ luôn từ chối các cuộc bầu cử tự do tại Đức và Đại Hàn, bởi vì trong hai quốc gia này dân số trong vùng họ kiểm soát ít hơn so với các khu vực tự do; do đó họ không có cơ hội để thực hiện ý đồ đen tối của mình.

          Thái độ mâu thuẫn của cộng sản về vấn đề thống nhất đất nước ở các quốc gia bị phân chia cho thấy động cơ thầm kín của họ nhằm thực hiện những cuộc bầu cử không tự do và không thành thật.

          Mặc dù nhà chức trách Hà Nội đòi hỏi cuộc bầu cử chung, nhưng họ lại không tổ chức một cuộc bầu cử tự do trong vùng tạm kiểm soát của mình để canh tân cái gọi là Quốc hội của họ. Quốc hội này bao gồm một số thành viên được chỉ định và một số thành viên được bầu trong sự hỗn loạn của năm 1946, hiện nay phải đối mặt với thực tế là một số thành viên đã bỏ chạy về miền Nam. Theo quyđịnh trong Hiến pháp của họ, một bản Hiến pháp được hoàn thành không có sự tranh luận, trong một phiên họp chỉ kéo dài có một ngày, thì nhiệm vụ những đại biểu của Quốc hội này đã được chấm dứt từ hơn 8 năm nay rồi. Cộng sản Việt Nam dođó đã không tôn trọng hiến pháp của chính họ. Đồng thời họ đã thiết lập chế độ Cộng sản ở miền Bắc, mà không trưng cầu ý dân. Và họ không bao giờ trưng cầu dân ý vì họ biết rằng dân chúng sẽ không bao giờ chấp nhận cái chế độ này.

          Chính phủ chúng tôi đã tiến hành một cuộc trưng cầu dân ý vào ngày 23 Tháng 10 năm 1955́, dựa theo đó chế độ cũ được bãi bỏ và chế độ Cộng hòa đã được thành lập. Sau đó chính phủ chúng tôi đã tổ chức cuộc bầu cử Quốc hội vào tháng 3 năm 1956 ở miền Trung và miền Nam Việt Nam. Quốc hội này đã soạn thảo và thông qua một bản Hiến pháp. Hiến Pháp này đã được công bố sau đó.

          Những tổ chức dân chủ và các tiến bộ mà chính phủ chúng tôi đã đạt được trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội, đã được cảm thông của cả thế giới. Đến ngày hôm nay đã có 56 quốc gia công nhận chính phủ chúng tôi, duy trì quan hệ ngoại giao với chúng tôi, hoặc đã đề nghị chúng tôi được gia nhập Liên Hiệp Quốc. Nhà cầm quyền cộng sản ở miền Bắc chỉ được sự công nhận của khoảng 10 chính phủ cộng sản. Trong những năm gần đây, ảnh hưởng của Việt Nam Tự Do đã được tăng đáng kể: Nước chúng tôi hiện nay là thành viên của 33 tổ chức quốc tế và Sài Gòn được chọn là trụ sở của nhiều hội nghị quốc tế.

          Do đó, rất kỳ lạ khi thấy những người có trách nhiệm phân chia đất nước, không dám tiến hành bầu cử trong vùng tạm kiểm soát của họ và sau đó lại đổ lỗi cho chính phủ chúng tôi từ chối thống nhất đất nước và từ chối bầu cử chung.

          Vấn đề về giao thông đi lại giữa liên khu vực tự do

          Nhà chức trách Hà Nội đã dấu không thông tin cho người dân miền Bắc biết, rằng người dân có quyền chọn lựa khu vực để sinh sống. Với chế độ khủng bố, họ đã ngăn cản các chuyến di tản của dân chúng miền Bắc; họ đã dùng bạo lực bắt giữ thân nhân những người đã di cư về miền Nam. Tại Ba-Làng và Lưu-Mỹ họ đã nổ súng đàn áp những người đã cố gắng đi đến khu vực tự do.

          Họ cũng đã rút ngắn thời gian cho tự do giao thông liên vùng và tự do lựa chọn vùng sinh sống, qua việc qui định thời hạn vào ngày 19 Tháng 5 năm 1955. Sau thời gian này, chính phủ chúng tôi đã đề nghị gia hạn thời gian giao thông liên vùng tự do. Nhưng nhà chức trách Hà Nội muốn hủy bỏ càng nhanh càng tốt sự liên kết giữa hai khu vực, nhằm ngăn chặn các chuyến tỵ nạn về miền Nam và luôn bày tỏ ý đồ xấu xa này của họ. Do đó nhà chức trách Hà Nội đã chỉ gia hạn thời gian di tản thêm hai tháng, tức là đến ngày 20 Tháng 7 năm 1955, và trong hai tháng đó họ đã chỉ cung cấp một chiếc thuyền cho những người muốn về miền Nam.

          Bất chấp mọi nỗ lực để ngăn cản việc di tản, bất chấp bị khủng bố và trù dập bằng bạo lực và cho dù thời hạn được di tản rất ngắn ngủi, nhưng gần một triệu đồng bào từ miền Bắc đã di cư về miền Nam thành công. Mặc dù đồng bào của chúng tôi ở phía bên kia vĩ tuyến 17 bị mất quyền tự do di chuyển ngay cả trong khu vực sinh sống của mình, ngày nay họ vẫn còn chạy trốn về miền Nam bằng cách vượt dẫy núi Trường Sơn[1], hoặc trong các chiếc thuyền mỏng manh dọc bờ biển. Một số người không may mắn bị rơi vào tay cộng sản và bị giết, hoặc đã bị tra tấn tàn nhẫn. Những người khác đã chết vì kiệt sức trong rừng sâu hoặc là nạn nhân của các cơn bão biển.

          Hiện nay có 81 123 người và 1955 gia đình đã tự, hoặc qua đại diện của họ, làm đơn yêu cầu được di tản vào miền Nam. Yêu cầu của họ đã được giao cho Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến. Nhưng nhà chức trách Hà Nội phản đối những yêu cầu này.

          Ngoài ra, còn có một số gia đình từ miền Trung và miền Nam Việt Nam đã đòi hỏi cho anh em, chồng con họ, những người đã bị cộng sản dùng bạo lực bắt cóc đưa về miền Bắc, phải được hồi hương. Tổng số đơn yêu cầu về việc này là 11.196, đã được chuyển tiếp đến Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến. Ngoài các đơn kiện này, còn có rất nhiều trường hợp khác được gửi trực tiếp đến Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến, và số lượng đơn của những trường hợp này không bao giờ được công bố. Qua sự phản đối, chống lại những yêu cầu của người dân được nêu trên, nhà chức trách Hà Nội phải gánh trách nhiệm về tình trạng đau đớn vì chia ly của các gia đình này. Sau khi cộng sản cấm đoán người dân tự do đi lại ngay cả trong khu vực miền Bắc Việt Nam và ngăn chặn những người muốn di tản đi xa, bây giờ thì họ lại rêu rao, tuyên truyền là „tự do đi lại“ và „khôi phục lại mối quan hệ bình thường“.

          Vấn đề cắt giảm lực lượng quân sự

          Từ 3 năm qua nhà chức trách Hà Nội luôn luôn cổ võ cho hòa bình. Nhưng hành động của họ luôn tương phản lớn với chủ đề tuyên truyền của họ.

          Họ đã không dừng lại mà luôn tăng cường lực lượng quân sự và nâng cấp trang bị vũ khí kể từ sau khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực và như vậy là vi phạm Hiệp định Genève do chính họ đã ký kết.

          Cần quan tâm đến một giác thư của chính phủ Vương quốc Anh gửi cho Liên Xô ngày 9 Tháng 4 năm 1956. Là đồng chủ tịch của Hội nghị Genève, chính phủ Anh đã cáo buộc chính quyền Hà Nội, kể từ khi ngừng chiến đến nay họ đã tăng cường lực lượng quân sự từ 7 lên 20 sư đoàn.

          Ngoại trưởng Pháp tháng 3 năm 1958 cho biết, rằng nhà chức trách Hà Nội đã gia tăng quân đội lên đến 350.000 quân và công an, cảnh sát lên tới 200.000 người.

          Họ cũng đã nhập cảng vũ khí từ các nước cộng sản để tăng cường lực lượng quân sự của họ. Trong ba năm qua họ đã không tôn trọng Hiệp định Genève, bởi vì họ chưa bao giờ thông báo cho Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến về việc nhập cảng vũ khí vào Việt Nam.

          Mâu thuẫn với thực tế, nhà chức trách Hà Nội tuyên bố rằng họ đã giảm lực lượng quân sự của họ xuống còn 80.000 người. Nhưng cho đến nay họ chưa bao giờ nói bất cứ điều gì về con số thực sự quân đội của họ, trước khi hoặc sau khi cái họ gọi là giảm quân. Họ không đưa ra bằng chứng về những lời tuyên bố của mình và không chấp nhận mọi cuộc điều tra.

          Họ không có lý do duy trì một quân đội mạnh mẽ hơn Việt Nam Cộng Hòa. Đây là mối đe dọa cho nền hòa bình không những chỉ cho Việt Nam mà còn cho các nước ở trong vùng Đông Nam Á. Để có khả năng duy trì một quân đội to lớn như vậy, nhà chức trách BắcViệt áp đặt mức thuế cao và hệ thống „đấu tố“, với hệ thống này họ đã ép buộc những người vợ, những người con phải tố cáo cha mẹ và chồng mình đã „dấu vàng của nhân dân“. Những người này thậm chí đã phải tự đánh mình và cuối cùng họ bị xử tử ngay tai chỗ mà không thông qua một cuộc xét xử của toà án. Có thể nói rằng dân tộc chúng tôi phải chịu nhiều đau khổ với chính quyền miền Bắc hơn bất kỳ dân tộc nào khác trên thế giới này.

          Ngược lại, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã luôn luôn phục vụ cho nền hòa bình kể từ hiệp định Genève. Để đảm bảo lực lượng laođộng cần thiết cho việc tái thiết đất nước bị tàn phá bởi chiến tranh, chúng tôi đã giảm quân đội từ 242.000 xuống còn 150.000, đồng thời chúng tôi đã không bổ xung thay thế 180.000 binh lính của „Đội quân Viễn chinh“ Pháp. Cộng sản mong muốn duy trì Đội quân này lại ở Việt Nam. Vấn đề giảm lực lượng quân sự được phổ biến rộng rãi, điều này rất dễ kiểm chứng.

          Nhân đây cũng xin nhắc lại lời tuyên bố long trọng của Chính phủ Quốc gia vào ngày 6 Tháng 4 năm 1956 là không tham gia bất kỳ liên minh quân sự nào và không cho phép cài đặt căn cứ quân sự ngoại quốc trên lãnh thổ của mình.

          Vấn đề trao đổi thương mại

          Trong thư đề ngày 7 Tháng Ba nhà chức trách Hà Nội đã đề xuất việc trao đổi thương mại với miền Nam. Qua đánh giá đề nghị này và qua tin tức nhận được cho thấy rằng đồng bào miền Bắc mong muốn, cầu xin sự giúp đỡ của thân nhân hoặc bạn bè ở miền Nam, có thể một vài mét vải hoặc vài viên thuốc aspirin. Nền kinh tế miền Bắc do sự thống trị của Đảng Cộng sản đang ở dưới đáy vực sâu. Đề nghị của cộng sản không nhằm mục đích nâng cao đời sống của dân chúng miền Bắc. Do hệ thống độc quyền với chính sách nội thương và ngoại thương mà họ đã đề ra là mua sản phẩm nông nghiệp của dân chúng với giá rẻ mạt và bán lại những sản phẩm này với giá cao hơn đáng kể. Mục tiêu của họ chỉ là, thu thập sự phong phú của miền Nam vào ngân sách đảng của họ. Nếu nhà chức trách miền Bắc muốn đề nghị của họ được duyệt xét thì điều kiện đầu tiên là họ phải đặt quyền lợi người dân lên trên lợi ích của đảng. Đồng thời họ phải để cho dân chúng miền Bắc toàn quyền tự do thương mại và từ bỏ sự độc quyền kinh tế mà đảng cộng sản đã chiếm đoạt từ trước đến giờ.

          Vấn đề trao đổi thư từ và bưu thiếp

          Mặc dù cộng sản không đề cập đến đề tài này trong thư của họ đề ngày 7 tháng ba năm 58, nhưng họ đã nhiều lần đề nghị nối lại dịch vụ bưu chính giữa hai khu vực. Cho đến hôm nay, cộng sản đã sử dụng các bưu thiếp như một phương tiện tuyên truyền nhiều hơn so với những phong thư được đóng kín. Yêu cầu trao đổi thư từ của họ không ngoài mục đích nào khác là tăng cường chiến dịch đe dọa và ăn xin người dân miền Nam. Vì quyền lợi của dân chúng, Chính phủ Quốc gia không thể thực hiện đề nghị này, nhưng Chính phủ yêu cầu cộng sản khai triển trao đổi bưu thiếp một cách đơn giản để nhân dân của hai Miền có thể liên lạc được với nhau.

          Sự thật được mô tả trên đây cho thấy bản chất lừa đảo của các đề nghị của cộng sản, chẳng hạn như tăng cường củng cố lực lượng quân sự của mình, lệnh cấm di chuyển giữa hai khu vực, các vụ giết người muốn di tản về miền Nam, họ đã gây ra những trở ngại để các thân nhân của các gia đình sống tản mác không tìm được nhau và lợi dụng việc trao đổi bưu thiếp nhằm vào mục đích tuyên truyền.

          Mâu thuẫn giữa tuyên truyền và hành động của nhà chức trách Hà Nội thật đã rõ ràng. Từ nhiều năm qua thái độ của họ vẫn luôn như một. Để chứng minh thái độ của họ đã thay đổi, họ hãy thực hiện một số hành động cụ thể như sau:

           1. Họ hãy để cho 92 319 người và 1955 gia đình thực hiện ý nguyện của mình là được di cư về miền Nam, đơn của những người và gia đình này đã nộp cho Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến, để những người này được đoàn tụ với gia đình của họ.

          2. Họ nên giảm lực lượng quân sự của họ tương đương với miền Nam Việt Nam. Việc giảm bớt phải được xác nhận là đúng bởi một Ủy ban quốc tế hữu trách. Sau đó vấn đề giới hạn lực lượng quân đội của hai vùng mới được bàn thảo.

          3. Họ cần phải xóa bỏ cái gọi là „Ủy ban Giải phóng miền Nam“, bằng cách từ bỏ khủng bố, giết dân cư của những làng mạc xa xôi hẻo lánh, phá hoại cơ sở Chính phủ nhằm cải thiện đời sống của người dân, đặc biệt trong lĩnh vực cải cách ruộng đất và nông nghiệp.

          4. Họ phải từ bỏ sự độc quyền kinh tế của đảng Cộng sản, để nhân dân miền Bắc Việt Nam được làm việc trong hoàn toàn tự do và qua đó, có thể tăng mức sống của họ hiện đã bị giảm xuống đến mức chưa từng có từ xưa đến nay.

          5. Họ không được buộc dân chúng phải cất tiếng ca ngợi họ[2] trong các bưu thiếp. Họ nên giải tán ban biên tập công tác tuyên truyền phục vụ bưu thiếp. Họ không được trả thù những người nhận hoặc gửi bưu thiếp.

          6. Họ phải tôn trọng các quyền tự do dân chủ trong khu vực của họ như ở miền Nam và nâng cao mức sống của dân chúng miền Bắc, ít nhất được tương đương với dân chúng miền Nam; họ không được dùng chế độ vô nhân đạo của họ để làm cho khoảng cách giữa hai vùng lớn hơn nữa.

          Nếu khảo sát các sự kiện kỹ càng, ta sẽ nhận thấy bức thư ngày 7 Tháng Ba năm 58 của nhà chức trách Hà Nội có mục đích chủ yếu nhằm tuyên truyền và phá hoại, chống lại sự giúp đỡ của các quốc gia bạn. Cộng sản đã hành động theo đơn đặt hàng của Liên Xô và cộng sản Trung Quốc, trong lá thư trên đã chỉ trích gay gắt Mỹ và cáo buộc người Mỹ can thiệp vào nội bộ của miền Nam Việt Nam.

          Thực tế hoàn toàn ngược lại với những cáo buộc của cộng sản: mối quan hệ Việt-Mỹ hoàn toàn bình đẳng dựa trên luật pháp quốc tế giữa hai nước, cùng tôn trọng chủ quyền của nhau. Tương tự sự liên kết giữa Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và các nước trong thế giới Tự do. Mục đích mối quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Hoa Kỳ chỉ nhằm bảo đảm nền hòa bình và tự do.

          Mối quan hệ giữa nhà chức trách Hà Nội cùng giới thống trị Nga và Trung Quốc, thuộc một thể loại khác. Họ là một vệ tinh đối với giới cai trị. Họ là hạ cấp so với thượng cấp trong hệ thống phân cấp của một đảng: đảng Cộng sản Quốc tế. Sự phụ thuộc này không chỉ được thể hiện qua sự đồng nhất của các tổ chức chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội theo kiểu mẫu của cộng sản Liên Xô và Trung Quốc, mà sự lệ thuộc này còn thâm nhập ngay cả vào lĩnh vực tư tưởng: trong các nghị định và các quyđịnh của họ nhà chức trách Hà Nội bắt buộc dân chúng miền Bắc phải học các hệ tư tưởng cộng sản và sống theo đường lối chính trị của Nga và Trung Quốc.

          Ở miền Nam, không ai bị bắt buộc phải tôn thờ các nhà lãnh đạo ngoại quốc và treo hình ảnh họ trong nhà, ở đây không ai có thể tưởng tượng rằng họ có thể hành xử điều kỳ lạ nêu trên.

          Ở miền Bắc, nhà chức trách ép buộc dân chúng phải sùng bái các các nhà lãnh đạo Nga và Trung Quốc, treo hình ảnh của họ ở nhà và trong những ngày lễ của Liên Xô. Đồng thời họ cấm đoán dân chúng không được phê bình ý thức hệ cộng sản, không được phê bình chính phủ và giới lãnh đạo các nước cộng sản.

          Thái độ hèn hạ của nhà chức trách Hà Nội đối với cộng sản ngoại quốc đã hủy hoại đời sống của dân tộc Việt, và là trở ngại lớn nhất cho công cuộc thống nhất đất nước.

          Hệ tư tưởng cộng sản hoàn toàn phản nghịch với truyền thống tâm linh của châu Á và tính chất quốc gia của dân tộc Việt Nam.

          Để tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc bầu cử tự do, nhà chức trách Hà Nội phải hủy bỏ chế độ cộng sản mà họ đã áp đặt lên người dân miền Bắc.

          Họ không nên nhắm mắt và tự bịt tai. Họ phải học hỏi để hiểu cho ra rằng, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và Dân tộc Việt Nam không bao giờ chấp nhận cuộc bầu cử không có sự tự do và chân thành.

          Nguyễn Hội

          sưu tầm và dịch từ văn bản tiếng Đức “Erklärung der Regierung der Republik Vietnam von 26. April 1958 über die Frage der Wiedervereinigung” do văn phòng Sứ Thần VNCH tại CHLB Đức xuất bản năm 1958.

          [1] bản tiếng Đức ghi là dẫy núi An Nam

          [2] nguyên văn tiếng Đức là: Họ không được buộc dân chúng phải cất tiếng hát những bài ca tụng họ trong các bưu thiếp“

          TRẢ LỜI ÔNG ĐẶNG GHI

          TRẢ LỜI ĐẶNG GHI

          Bam vao nghe AUDIO


           Kính thưa quý độc giả !

             Vừa rồi Đặng Ghi có viết một thư ngỏ sồ 2 với mục đích bôi xấu nhóm chủ trương website Bia Miệng nói chung,và nhất là cá nhân ông Huỳnh Kim Anh. Tại sao ông Đặng Ghi và những người đồng thuyền với ông ta làm như vậy? Website Bia Miệng là một web site trung thực “nói có sách và mách có chứng”. Trong những năm vừa qua Bia Miệng đã đưa ra ánh sáng những Hội Đoàn,cá nhân…có những quan hệ với Việt Nam.Chúng tôi cũng đã vạch trần những xảo trá của một số Hội đoàn,cá nhân “treo đầu dê bán thịt chó”,những thành phần này cay cú và căm thù Bia Miệng,chúng cứng họng trước những phanh phui đó, chúng dùng mọi thủ đoạn đê hèn để tiêu diệt nhóm Bia Miệng như lấy hình chúng tôi cho bận đồ công an vc post lên diễn đàn,chửi bới tục tỉu,bịa đặt đời tư,tạo bằng chứng giả để kiện ra tòa,ngồi nhà tưởng tượng viết lếu láo để post lên diễn đàn internet. Những tin tức từ Bia Miệng đưa ra càng ngày càng giá trị,được đồng hương tin cẩn ,bọn chúng lại càng căm phẩn. Đặng Ghi,Nguyễn Đồng Duy là hai người trong nhóm căm phẩn đó,mới nhất qua buổi Hội thảo của Hội CSVSQTB Thủ Đức/WA những bài thuyết trình,những lời phát biểu trong buổi Hội Thảo đã được đồng hương,đồng môn hôm đó tán đồng. Bẩn thỉu nhất của Đặng Ghi và Nguyễn Đồng Duy là đến thư viện yêu cầu nhân viên thư viện không cho Hội Thủ Đức mượn phòng để hội thảo,nhưng nhân viên thư viện đã từ chối . Tưởng cũng cần nhắc lại là ĐG và NĐG là hai người tích cực chống lại lập trường 4 không của Hội,nhất là không thứ 4 ( không ngồi chung với bọn làm ăn buôn bán với VC).Hội Thủ Đức có gởi thư mời đến Đặng Ghi và Nguyễn Đồng Duy nhưng họ hèn nhát không dám đến. Sự căm phẩn lên đến tột độ Đặng Ghi ra thư ngỏ số 2 để bôi nhọ website Bia Miệng.

          Chúng tôi kính mời quý độc giả,thính giả nghe lá thư chúng tôi trả lời ông Đặng Ghi.

          Gởi ông Đặng Ghi!

          Tôi Huỳnh Kim Anh một trong những người trong nhóm chủ trương của website Bia Miệng,người mà ông đề cập nhiều nhất trong thư ngỏ số 2 của ông.

          Chúng tôi không nói nhiều,những điều cần nói để đồng hương ,đồng môn Thủ Đức biết rỏ ,chúng tôi đã nói một cách chi tiết,rành rẻ tại buổi Hội Thảo của Hội CSVSQTB Thủ Đức/WA hôm 24 tháng 9 năm 2011 tại thư viện Columbia đường Rainier ,thành phố Seattle/WA. Những Audio từng phần của buổi Hội Thảo đó đã được post lên website www.biamieng.com chắc ông và đồng thuyền đã nghe,chúng tôi nói rất rỏ,có chứng minh bằng hình ảnh qua slide show. Thư ngỏ của ông tựu trung chẳng có gì mới mẻ,bằng những lý luận nhập nhằng không thuyết phục được người đọc.Một bài viết dưới mức trung bình về lý luận,viết ra để thỏa mản tự ti mặc cảm mà thôi.

           Thưa ông Đặng Ghi, chúng tôi xin đi thẳng vào vấn đề sau đây:

          1/ Ông hăm dọa Post những hình ảnh mà ông đã đuổi (1)các niên trưởng,đồng môn đếndự đại hội của ông và Nguyễn Đồng Duy Duy mở vào ngày 2 tháng 4 năm 2011 tại nhà hàng Jumbo đường Rainier.

           Vấn đề này chúng tôi đã đưa tin sau đại hội của ông một vài ngày,tuy nhiên chúng tôi ra hạn cho ông Đặng Ghi và đồng thuyền trong vòng 15 ngày để post những hình ảnh “ Đặng Ghi đuổi” chúng tôi lên youtube, nếu ông không post thì sẽ có người post. Khi những hình ảnh đó post lên youtube ,chúng tôi sẽ giải thích chi tiết để đồng môn Thủ Đức,đồng hương thấy rỏ sự việc . Ai là người mang nhục? Chắc ông và phe nhóm cũng đã thấy hình ảnh người thanh niên biểu tình bị Công An vc bắt và đạp vào ngực. Ai nhục đây Đặng Ghi? Công An nhục hay người thanh niên nhục? Chúng tôi chờ ông Đặng Ghi thực hiện biện pháp như trong thư ngỏ của ông.

           2/ Mở đối thoại:

          Chắc ông Đặng Ghi biết rỏ về việc một số người ,họ chỉ ngồi trên computer để gỏ bài chửi bới,nhục mạ,chụp mủ… một cách vô tội vạ một số người mà họ không ưa. Việc ông ra thư ngỏ để lên án là một chuyện quá dể phải không ông Đặng Ghi? Một đứa con nít cũng làm được ,một số Việt Cộng hay tay sai của chúng cũng đang viết tung lên diễn đàn để hạ nhục người Quốc Gia.

          Thưa ông Đặng Ghi ! Ông và những người đồng thuyền với ông đang sống ở Seattle tiểu ban Washington, chúng tôi nhóm chủ trương website www.biamieng.com cũng ở Seattle/WA. Quá gần để có thể nói chuyện với nhau ,quá gần và dể dàng để mặt đối mặt. Sống ở một nước dân chủ,tự do,quyền con người được tôn trọng… Nếu có hiềm khích,bất đồng thì đối mặt để giải quyết vấn đề là cách hay nhất,tốt nhất và có hiệu quả nhất. Nếu ông Đặng Ghi và đồng thuyền nghĩ các ông là : Chính nghĩa,làm đúng,có tinh thần Quốc Gia chân chính v.v…Và ngược lại các ông cho chúng tôi là: Phá hoại,chụp mủ,xuyên tạc v.v... Chúng tôi thách thức Đặng Ghi cùng những kẻ sau lưng Đặng Ghi mở cuộc đối thoại với chúng tôi trước đồng môn,đồng hương,các cơ quan truyền thông và báo chí. Đây cũng là dịp để những kẻ ủng hộ , xúi ông Đặng Ghi xuất đầu lộ diện yểm trợ trực tiếp ông Đặng Ghi. Chúng tôi nhóm chủ trương Bia Miệng sẽ đến trả lời bất cứ câu hỏi nào của phe nhóm các ông, những câu hỏi đó liên quan đến vấn đề chính trị mà chúng tôi đã post lên website biamieng ,đồng thời chúng tôi cũng đặt câu hỏi liên quan đến các ông trong sinh hoạt cộng đồng. Mỗi bên chuẩn bị tài liệu để trình bày trước đồng môn,đồng hương …Nếu ông không có khả năng ăn nói trước đám đông ông có quyền thuê Luật Sư để giúp ông việc đối thoại với chúng tôi.

           Chắc chắn ông Đặng Ghi cũng biết rỏ là: trong trường hợp này(giữa chúng tôi và các ông)“ Người nào từ chối đối mặt,người đó là bất chánh” ,nếu ông Đặng Ghi không đồng ý với chúng tôi về quan niệm đó ( trốn tránh là bất chánh),ông Ghi có thể hỏi những người thân của ông chẳng hạng như: vợ,con,cháu…và những vị lớn tuổi mà ông tin tưởng để có câu trả lời “đúng”. Phần chúng tôi hoàn toàn đồng ý với quan niệm đó,chúng tôi tin là một đứa con nít 10 tuổi,một người học hết bậc tiểu học cũng nhận biết “ kẻ nào trốn tránh là hèn nhát,bất chính”. Trong xã hội dân chủ như Mỹ mọi biện pháp về an ninh được bảo đảm,hệ thống Cảnh Sát rất chặc chẻ ,mau lẹ nếu chúng ta cần đến,ông và những người đồng thuyền đừng e ngại chúng tôi giăng bẩy hay ám hại gây thương tích cho các ông. Mặt đối mặt để giải quyết vấn đề. Chúng tôi sẽ vận động trên trang web của chúng tôi để khách tới dự đông đảo.Tôi tin là đồng hương và đồng môn đi rất đông.

           Thưa ông Đặng Ghi!

          Trong thư ngỏ ông cũng nói đã đuổi chúng tôi,các niên trưởng ,đồng môn hôm ngày 2 tháng 4 năm 2011(đại Hội bất thường của các ông),đó là tiền lệ và sau này bất cứ cuộc họp nào của các ông ,chúng tôi đến ông Đặng Ghi cũng sẽ đuổi như vậy. Chúng tôi cũng thông báo đến ông Đặng Ghi:Từ nay về sau nếu ông Đặng Ghi và đồng thuyền mở Đại Hội hay sinh hoạt có liên quan đến chính trị,đến Hội Thủ Đức , ( không phải lễ lạc,tiệc tùng)mà những sinh hoạt đó các ông đăng báo thư mời đồng môn,đồng hương…nhóm chủ trương báo Bia Miệng sẽ đến,đến trong tinh thần dân chủ ( chúng tôi hay bất cứ người nào cũng không dám phá đâu,phá sẽ bị cùm ngay), chúng tôi đến để ông Đặng Ghi đuổi nữa như lời hứa của ông. Thử rằng người bị đuổi nhục hay người có quyền đuổi nhục? ? ?

          Một lần nữa chúng tôi minh xác lập trường và quan điểm của nhóm Bia Miệng,chúng tôi rất hảnh diện về điều mà phe phái ông Đặng Ghi gọi chúng tôi là “cực đoan”. Sự cực đoan đó là:

          _ Vạch mặt những Hội đoàn,tổ chức hay cá nhân có liên hệ với vc (qua mọi hình thức)

          _ Vạch mặt những cá nhân nào lưu manh,lừa đảo đồng hương bằng cách quyên tiền cho việc từ thiện rồi đút túi riêng.

          _ Vạch mặt những tên ăn cắp tiền quỷ của Hội đoàn

          _ Không ngồi chung với đám tay sai nịnh bợ gian thương

           3/ Kết luận:

          Có hai điểm cần nhắc để ông Đặng Ghi nhớ.

          a) Ông còn nhớ tại thư viện Rainier Beach trong một cuộc họp của Hội,Nguyễn Đồng Duy làm chủ tọa,ông đã nêu những vấn đề về Bia Miệng ,vấn đề đó tương tự như một số điểm trong thư ngỏ số 2 của ông vừa qua,đại loại là : Nhóm Bia Miệng chụp mũ người này người nọ, Hội Đoàn kia… là việt cộng.Chúng tôi yêu cầu ông Đặng Ghi nêu bằng chứng (những trang web còn đó),ông Đặng Ghi trả lời “ Tôi nghe nói như vậy”,ông Nguyễn Quốc Hùng buộc ông Đặng Ghi phải xin lổi nhóm Bia Miệng và, ông Đặng Ghi đã xin lổi.Hôm đó ông ĐG còn xin lỗi niên trưởng Diễm (khóa 4 Thủ Đức) về việc nói hỗn với niên trưởng. Chắc ông Đặng Ghi khó quên điều này.

           b) Năm 2009 Bia Miệng đã mở buổi Hội Thảo cộng đồng tại thư viện Columbia đường Rainier,hôm đó có báo chí Mỹ cũng như các ông Mỹ khác dính dáng đến đề án xây mall Little Sài Gòn ở đường Jackson, hôm đó ông Huỳnh Kim Anh là người thuyết trình về “ Cái vòi ngàn dặm từ Việt Nam đến Seattle” ,Họa đồ mà ông đã nói ở thư ngỏ đã đưa trình chiếu bằng slide show,hình của ông tươi cười khi nhận được phần thưởng của một Hội đoàn mà Hội Đoàn này đã từng về Việt Nam họp với bà Nguyễn thị Hồng phó chủ tịch ũy ban nhân dân Sài Gòn,ông Đặng Ghi ngồi dưới đực mặt ra khi ông Huỳnh Kim Anh chỉ Hình ĐG và nói có ĐG ở đây, lúc đó có nhiều đồng hương sao ông ĐG không phản đối là Bia Miệng chụp mủ,xuyên tạc.. Mà đến bây giờ mới viết lếu láo trong thư ngỏ?

          Chào ông

          Nhóm Bia Miệng.

                       NHỮNG HÌNH ẢNH ĐỂ ĐẶNG GHI TRẢ LỜI :AI NHỤC?

                               Kẻ dùng bạo lực nhục hay người dân nhục hả Đặng Ghi ?

          Ai đây ông Đặng Ghi? Nhận phần thưởng từ một tổ chức đi về VN họp với bà Nguyễn Thị Hồng phó chủ tịch uỷ ban nhân dân thành phố Sài Gòn . Có nhục không ông Đặng Ghi?

           * Linh Mục Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng không cho nói . Cha Lý nhục hay vc nhục hả Đặng Ghi?
          * Đặng Ghi đuổi các niên trưởng,đồng môn,đàn anh của Đặng Ghi khi các vị này(trong 4 cơ chế) đến dự Đại Hội để nói lên sự thật.Ai nhục hả ông Đặng Ghi?

           

                  Thằng công an chìm đạp vào ngực người thanh niên biểu tình chống T.C ,ai nhục đây Đặng Ghi?

                                TƯ TƯỞNG LỚN GẶP NHAU?

                   * Tên công an chìm này rất hảnh diện về việc đạp vào người thanh niên biểu tình chống T.C

                 * Đặng Ghi rất hảnh diện khi đuổi các niên trưởng,đàn anh,đồng môn của ông đến dự Đại Hội như theo thư mời

          ** Ghi chú: (1) Luật của tiểu ban WA người bỏ tiền ra thuê chổ có quyền yêu cầu Cảnh Sát mời người nào mà họ không ưa.Hôm đó Đặng Ghi thuê 2 Cảnh Sát giử an ninh.

          VÀI LỜI CÙNG ÔNG TRƯƠNG TRỌNG KIÊN: CHÓ SỦA MẶC CHÓ…

          LTS:

          Kính Thưa quý độc giả!

          Ông Trương Trọng Kiên khóa 6/69 Thủ Đức hiện cư ngụ tại thành phố Everette/WA có viết một bài viết để đả kích cá nhân ông Huỳnh Kim Anh và báo Bia Miệng,chúng tôi nhận thấy bài viết mang đầy tính tự ti mặc cảm,lý luận hầm hồ,mục đích chính là mạ lị, ngay cả tựa bài “chó sủa mặc chó” . Ông Kiên viết“.. Thú thật tôi không thích lối viết báo lá cải hạ cấp nên hầu như không đọc mấy tờ báo Góp Gió và Bia Miệng,”  . Ông Kiên không đọc thì biết tờ Bia Miệng viết gì để rồi viết chửi báo Bia Miệng đúng là hầm hồ,nói đến đây tôi nhớ câu chuyện được kể lại về trường hợp ông Nguyễn Hiến Lê(NHL) . Sau năm 1975 ông Nguyễn Hiến lê ở nhà xem cuốn sách tử vi,tên công an vào nhà thấy vậy hỏi ông Nguyễn Hiến lê “ Nè ông coi mấy thứ sách mê tín dị đoan vớ vẫn ấy làm gì thế!” Ông NHL nhìn tên công an hỏi “À! Chú đã xem cuốn sách này chưa ?”. Tên công an trả lời : “ Tôi đâu thèm xem mấy thứ đó,vớ vẫn…”. Ông NHL nói : “ Chú chưa xem mà làm sao biết là mê tín dị đoan,vớ vẫn…” Tên công an ú ớ. Ông Kiên cũng vậy, không thèm đọc BM làm sao biết BM nói gì để phê phán, đúng là thiên tài.

          Ông Kiên viết “Người mệnh danh làm chính trị há không biết rằng…….… những người có cùng kẻ thù với ta là bạn ta hay sao? Thử hỏi ông Kiên , “ vc là kẻ thù của ông Kiên, vc cũng là kẻ thù của những tên cướp,như vậy ông Kiên và những tên cướp là bạn sao? Chính quan niệm như vậy nên thời đệ nhất Cộng Hòa những ai chống Đệ Nhất Cộng Hòa (kẻ thù) bỏ vào bưng tìm vc, (Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam được thành lập),họ đi tìm người có kẻ thù chung với họ để làm bạn. Đó là một quan niệm quá sai nếu không nói là ngu ,hậu quả tai hại vô cùng.

          Chúng tôi xin tạm dừng phần giới thiệu ở đây( BM sẽ có bài viết riêng) để kính mời quý độc giả xem bài viết dưới đây của anh Hoàng Phan,tưởng cũng cần nhắc lại, anh Hoàng Phan đã có vài ba lần viết cho BM,những bài viết của anh đã được quý độc giả của BM đánh giá cao.                                                                                                                                                    

           

          CHÓ SỦA MẶC CHÓ……..

          Đôi lời về bài viết của Ông Trương Trọng Kiên.

          Hoàng Phan

          Ngày hôm qua, 03-11-11,ông Trương trọng Kiên có gởi đến đồng môn Thủ Đức một bài viết nhan đề “ Chó sủa mậc chó…”để bênh vực hai ông Đặng Ghi và Nguyễn đồng Duy đồng thời đánh Huỳnh Kim Anh và nhóm Bia Miệng. Nay có vài lời đáp lễ.

          Xin đi ngay vào đề

          I HÌNH-THỨC: Đáng lý, vấn đề hình thức không nên đề cập làm gì nhưng trong bài viết của Ông Kiên đã dành một phần dài mở đầu đề phê phán về những lỗi chính tả và văn chương trong báo BM nên thiết nghĩ cũng phải có vài lời. Tôi hoàn toàn đồng ý với Ông Kiên là trong nhiều bài viết của BM chứa đầy những lỗi chính tả và văn phạm đôi khi làm người đọc cảm thấy khó chịu. Đó có lẽ do Ông Anh là ngươi Trung, nhất là người Quảng-Nam đa số không giỏi về chính tả cho lắm. Theo tôi nghĩ, chuyện đó có quan hệ gì đến Lập Trường Chính Trị của BM đâu. Ông Kiên nên biết phân biệt một tờ báo Đấu Tranh và một tờ báo văn học chứ. Một tờ báo Đấu Tranh mục đích chính là chuyên chở Tư Tưởng và Lập Trường Chính Trị của mình đến người đọc. Đành rằng khi viết càng ít lỗi thì càng tốt, nhưng không lẽ vì yếu kém về chính tả mà mình không thể viết ý kiến của mình cho người khác biết hay sao? Trong các cuộc biểu tình của Tea Party và Occupy Wall Street mà Ông thấy hàng ngày trên TV, các người biểu tình mang những biểu ngữ sai chính tả, văn phạm tùm lum thấy có nhà bình luận chính trị nào chê trách đâu? Đặng ý thì quên lời đi Ông Kiên ạ, Ông cứ lẩn quẩn với ba cái dấu hỏi dấu ngã mãi thì biết bao giờ mới hiểu được người ta nói cái gì.

          Bây giờ về phần Ông. Trong bài viết Ông có bảo “Nói người thì phải nghĩ lại mình”. Điều đó tôi đồng ý. Vậy Ông thử xem lại bài viết của Ông coi. Ông là người Bắc nên ít lỗi chính tả, nhưng còn về văn phạm và ngắt câu thì sao. Quá tệ, chẵng đâu vào đâu .Chổ đáng chấm thì phẩy, chổ đáng phẩy thì chấm, đặt dấu than (!) không đúng chổ, sau dấu chấm không viết hoa v.v. và v.v. nhiều lắm, Ông chỉ cần đọc lại cho kỷ thì sẽ thấy. Cách đây 50 năm Ông đã làm văn nghị luận rồi thì những chuyện vặt như thế nầy cần gì tôi phải chỉ cụ thể cho ông, phải không Ông Kiên hay chữ ?

          Tôi không muốn theo gương Ông cứ lẩn quẩn vào những chuyện trẻ con nầy nhiều. Xin đi vào phần thứ hai nhé.

          II.  NỘI DUNG. Xin được nói thẳng, đây là bài viết dưới trung bình quá xa, quá tệ, lý luận lủng củng, một lời sai một lời, một câu bậy một câu, chính mình tự mâu thuẫn với mình. Đã vậy mà còn đạo đức giả nữa. Phần nầy thì phải chứng minh nhé. Nhiều lắm, chỉ lấy vài ba điểm thôi:

          1. Xin trích lời trong bài viết của Ông:…”, thế nhưng Huỳnh Kim Anh và nhóm chống cộng quá khích kêu gọi mọi người không mua thực phẩm và hàng hóa của chợ VietWah và tổ chức tiệc tùng tại nhà hàng Tea Palace vì Huỳnh Kim Anh và nhóm quá khích tuyên bố là Ông Trần Đức làm ăn, mua bán sản phẩm từ Việt Nam và Trung Cộng, “

          Và:…” Cần phải nói rõ thêm cho Huỳnh Kim Anh và đám chống cộng dỏm biết là những gì có trong bữa cơm gia đình của các ông,..”

          Tôi xin phân tích về những chữ Ông dùng mà tôi mạn phép gạch dưới hàng. Đó là hai chữ “ quá khích” và “dỏm”

          Tôi không có quyển tự điển tiếng Việt trong tay nhưng có lẽ Ông và tôi đều đồng ý rằng khi Ông nói một người chống cộng quá khích tức là đầu tiên Ông phải công nhận người đó là một người chống cộng, nhưng phương pháp chống cống của họ quá trớn, cực đoan, không dè dặt mà theo Ông có thể có hại hơn là có lợi ( theo Ông) v.v và v.v. Nhưng điều quan trọng là Ông không nghi ngờ gì cả về lập trường chống cộng của họ. Đúng không?

          Về chữ “dỏm” có nghĩa là giả mạo, không thật. Một người chống cộng dỏm là một người không chống cộng, đôi khi chính họ là cộng sản nữa, mà làm ra vẻ chống cộng

          Như vậy, một người chống cộng quá khích không thể nào lại là một người chống công dỏm được phải không Ông Kiên, một người làm văn nghị luận được 16/20?

          Phần trên ông nói Huỳnh Kim Anh là chống cộng quá khích thì cũng chính Ông phần dưới thì bảo HKA chống cộng dỏm. Thế lầy nà thế lào đây Ông Kiên” nghị nuận”

          Trong thư gởi Đặng Ghi, HKA chỉ dùng hai chữ bất chánh và bất chính mà ông cũng đồng ý là nghĩa giống nhau, chỉ vì HKA khi thì dùng chánh khi thì dùng chính mà ông đã bắt bẻ và coi thường HKA rồi. Còn Ông, khi thì Ông nói HKA chống cộng quá khích khi thì bảo HKA chống cộng dỏm thì ai bất bẻ Ông đây? Đúng là cái xà trong mắt mình thì không thấy mà lo nhìn cái gai trong mắt người khác. Tôi lại phải dùng lời Ông viết nói người thì phải nghĩ lại mình” rồi.

          2. Xin trích lời Ông:” Người mệnh danh “làm chính trị” há không biết rằng Những Người Cùng Chiến Tuyến Với Ta Là Chiến Hữu Với Ta hoặc Những Người Có Cùng Kẻ Thù Với Ta Là Bạn Ta hay sao?Đây chính là tử huyệt của Ông. May mắn thay tôi gặp một người làm văn nghị luận có điểm 16/20 . Vậy tôi xin nghị luận vài dòng với Ông nhé.

          Giả sử rằng tôi đồng ý với câu trên của Ông, chỉ giả sử thôi nhé, thì tôi sẽ lý luận như thế nầy:

          a. Ông, Đặng Ghi và Nguyễn đồng Duy đều đồng ý rằng HKA là kẻ chống cộng quá khích, từ đó suy ra HKA là kẻ thù với Cộng Sản.

          b.Nếu Ông, Đặng Ghi và Nguyễn đồng Duy cũng là kẻ thù của Cộng Sản thì Ông, Đặng Ghi, Nguyễn đồng Duy và HKA là bạn.

          c.Nếu Ông, Đặng Ghi, Nguyễn đồng Duy và HKA là bạn thì không bao giờ khai trừ nhau.

          d.Nhưng thực tế, Đặng ghi và Nguyễn đồng Duy khai trừ HKA

          e.Như vậy, họ không phải là bạn mà là kẻ thù.

          f.Kẻ thù của HKA là cộng sản…..

          Đến đây thì Ông hiểu chưa hởi Ông Kiên “nghị nuận”.

          Ông Kiên ạ, Tôi biết Ông ra cứu bồ trong khi Đăng Ghi đang lúng túng vì lá thơ vừa rồi của HKA. Nhưng trước khi cứu người chết đuối mình phải biết bơi Ông ạ. Cở như Ông mà đi cứu người coi chừng chết chìm cả đám.

          3.Lại cũng là lời Ông “Thách thức mở cuộc đối thoại giữa 2 nhóm để đồng môn, đồng hương hoặc các cơ quan truyền thông chứng kiến đúng sai thiết tưởng là việc không cần thiết, nếu không muốn nói là quá thừa. Tại sao vậy? Câu trả lời đã có sẵn chỉ cần một chút nhận thức cũng có thể thấy ngay.” .Thú thật với Ông tôi không thể nào nín cười khi đọc câu nầy của Ông.Nó làm tôi nhớ lại sau năm 75 đồng bào miền Nam ngơ ngẩn với lối nói chuyện của bọn cán bộ CS. Tôi nhắc lại vài câu tiêu biểu để Ông có nín cười được không nhé:

          Ngày nay yêu nước phải gắn liền với yêu CNXH. Tại sao vậy? Chuyện đó đã rõ, chỉ cần có nhận thức đúng sẽ thấy ngay” hoặc là “ CNXH nhất định thắng, CNTB nhất định thua. Tại sao vậy? Chuyện đó đã rõ, chỉ cần có nhận thức đúng sẽ thấy ngay” v.v. và v.v.Ông có nhịn cười được không Ông Kiên?

          4.Thêm một câu của Ông nữa thôi nhé.” Nhắc lại Đám Tang Cụ Thân Sinh, nhớ lại những lời Cụ dạy cách làm người, những câu nói của Cụ như in trong tâm trí, nghĩ đến là như thấy Cụ đang ở trước mặt! một lần mình cãi nhau với một đứa trẻ nhỏ tuổi hơn, Cụ dạy “con cãi nhau với nó té ra con cũng như nó à!” lần khác mình cãi nhau nữa, lần này tệ hại hơn cãi cọ với 1 người ăn mày, cụ nghiêm khắc hơn dạy bảo “con cãi nhau với người ăn mày, té ra con cũng như người ăn mày sao!” Anh Ghi ơi, Anh Duy ơi, các Đồng Môn ơi, Bố tôi dạy vậy có đúng không các anh?”

          Đọc đoạn nầy của Ông, Trươc hết xin gởi lời chia buồn muộn màng đến Ông, Cầu chúc linh hồn cụ Ông được hưởng đầy ân phước. Sau nữa xin ca ngợi lòng hiếu thảo của Ông. Cuối cùng xin bội phục tinh thần nghĩa hiệp của Ông, vì cứu bạn mà Ông không nề đem cả thân sinh quá cố của mình vào việc. Khi Ông đem lời của CụThân Sinh ra hỏi đúng hay sai thì sẽ có người cho rằng đúng nhưng cũng có kẻ cho rằng sai. Tự nhiên Ông kéo Cụ vào vòng tục lụy rồi vậy. Nhưng xin thành thật vô phép được có ý kiến rằng cụ Thân sinh của Ông đã dạy Ông hoàn toàn sai. Tại sao vậy ? Nầy nhé, Đứa nhỏ và người ăn mày mà Ông cãi nhau đâu có phải là phường trộm cắp hay đá cá lăn dưa gì mà Cụ Ông lại khinh miệt họ như vậy. Họ chỉ ít tuôỉ hơn Ông hoặc bất hạnh hơn Ông thôi. Tôi kể Ông nghe vài câu chuyện nhé:

          • Ông Khổng phu Tử một hôm ngồi xe đi qua một đoạn đường, thấy có một đứa bé,( hình như là Hạng Thác, nếu tôi nhớ không lầm,)đang đắp đất thành một bức thành chắn ngang đường đi. Khổng Tử dừng xe bảo Hạng Thác tránh đường. Cậu bé Hạng Thác trả lời:

          _ Xưa nay xe tránh thành chứ làm gì có chuyện thành phải tránh xe. Khổng Tử thấy đứa bé ăn nói ngộ bèn hỏi tiếp:

          _ Cháu con ai, biết đánh cờ không? Đánh với ta một ván cờ. Hạng Thác trả lời:

          _ Vua mê cờ thì bỏ bê việc nước, Tướng mê cờ thì bỏ bê việc quân,Thần tử mê cờ thì bỏ bê việc triều chính, Đến như kẻ thất phu mê cờ thì bỏ bê việc đồng áng. Tôi tuy tuổi còn nhỏ nhưng còn kinh sử phải dồi mài để mai nầy giúp nước, còn mẹ già phải phụng dưỡng, thì giờ đâu mà đánh cờ với ông. Đến đây Khổng Tử không còn coi thường được nữa, xuống xe nói với Hạng Thác rằng:

          _ Ta là Khổng Khâu đây, Cháu có muốn theo ta học đạo không? Hạng Thác trả lời:

          _ Nếu tôi hỏi ông ba câu ông trả lời được thì tôi bái ông làm thầy:

          _ Hỏi đi.

          _ Trên trời có bao nhiêu vì sao?

          _ Đạo của ta là đạo của thiên hạ, Ta không nghĩ đến chuyện trên trời.

          _ Vậy thiên hạ nầy có bao nhiêu nóc nhà?

          _ Đạo của ta lấy tu thân làm trọng, chỉ lo chuyện trước mắt còn chuyện xa vời, sau khi tu thân xong tự khắc biết..

          _Vậy trước mắt ông có bao nhiêu lông mi? Nghe xong Khổng

          Tử than rằng:

          _ Ta quả không đáng làm thầy ngươi. Hậu Sanh Khả Úy.

          Tôi cho Ông một link để Ông mở xem, coi thử Ông có xứng cải với em bé 12 tuổi nầy không nhé:. Em bé người Canada nầy đã bằng một bài diễn văn dài 6 phút vạch trần những tội lỗi của thế hệ cha chú mà cả hội trường toàn tai to mặt lớn ngồi im phăn phắt, đực mặt ra mà nghe.. Chắc với Ông thì họ không thèm cải với em bé nầy chứ gì?

          http://pub.vn/forum/showthread.php/1605-Co-Be-12-Tuoi-Khien-Ca-The-Gioi-Phai-Im-Lang-Trong-6-Phut-

          Ông hold control và click vào link nhé.

          Đó là chuyện về Khổng Phu Tử và một đứa con nít. Còn về chuyện người ăn mày thì nhiều lắm. Đơn cử một thiên tài của nhân loại là Charlie Chaplin thuở nhỏ đã có lần phải đi ăn xin trên đường phố London đấy Ông ạ.

          Qua vài câu chuyện trên Ông thấy lời dạy cùa cụ thân sinh Ông thế nào? Tại sao cụ lại gieo vào đầu óc của Ông một tư tưởng hợm hỉnh ,khinh miêt kẻ nhỏ tuổi và người bất hạnh vậy Ông? Để đến nỗi tận bây giờ, già đầu rồi Ông vẫn còn lấy đó làm khuôn vàng thước ngọc. Khổ cho thân Ông !

          Nếu ai cũng như Ông, coi thế hệ đi trước là kim chỉ nam thì xã hội làm gì được văn minh như bây giờ.

          Để kết luận, Tôi cũng muốn như Ông, tìm một đầu đề cho bài viết nầy nhưng tìm hoài không thấy có đầu đề nào thích hợp hơn là đầu đề của Ông. Thôi thì “ của cesar hảy trả lại cho cesar” vậy.

          04-11-2011

          HOÀNG PHAN

          BA LÝ DO MỸ MUỐN TẤN CÔNG IRAN

          Ba lý do Mỹ muốn tấn công Iran

          Những khó khăn bộn bề trong nước khó lòng cản bước Washington tấn công Tehran, Foreign Policy nhận định.

          Những nhận định “đoán mò”

          Hiện Chính phủ Iran cũng như nhiều quốc gia khác tại Trung Đông tin rằng, chính quyền Obama đang nỗ lực sửa chữa những sai lầm của người tiền nhiệm Bush và cố gắng thoát khỏi vũng lầy chiến tranh tại Trung Đông. Do đó, giới chức Tehran dường như “chắc mẩm” rằng, Tổng thống Obama sẽ không tấn công nước này.

          Tương tự, Chính phủ Israel cũng đang hoang mang về việc, đồng minh số 1 của mình ngày càng mất nhuệ khí tại khu vực. Giới chức nước này cho rằng, bằng cách sử dụng quân bài Tehran, Tel Aviv có thể thôi thúc Washington hành động, theo đó, đưa quan hệ hai nước trở về thời kỳ khăng khít như xưa.

          Không chỉ Israel và Iran, ngay cả những quan chức hết sức thân thiết với Washington trong chính quyền Anh còn nhận định: “Tổng thống Obama không muốn có bất cứ hành động nào quân sự nào trong vài tháng tới bởi đó là thời điểm cận kề bầu cử”.

          Trong khi đó, tại Washington, giới phân tích cũng có những lập luận và suy đoán tương tự khi cho rằng, Tổng thống Obama sẽ không “kéo cò súng”, bất chấp căng thẳng leo thang trong bối cảnh Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) đưa ra những minh chứng cho thấy có yếu tố quân sự trong chương trình hạt nhân Iran.

          Khả năng Mỹ sử dụng biện pháp quân sự với Iran sẽ không xảy ra trong nhiệm kỳ Tổng thống của ông Obama. Nếu bạn là Tổng thống Mỹ và ưu tiên hàng đầu của bạn là phục hồi kinh tế và đưa đất nước thoát khỏi vũng lầy Trung Đông thì chắc chắn bạn sẽ không đánh bom Iran để rồi tự đạp đổ hai mục tiêu quan trọng của mình bởi khi đó, giá dầu sẽ tăng lên, tác động lớn đến nền kinh tế”, một nhà phân tích Mỹ nhận định.

          Hé lộ suy nghĩ của Tổng thống Obama

          Tuy nhiên, Foreign Policy dẫn nguồn tin thân cận trong chính quyền Mỹ khẳng định, khả năng tấn công Iran không phải không thể xảy ra và cách lập luận của ông Obama đối với trường hợp không hành động quân sự cũng không giống như suy đoán của giới phân tích.

          Theo tờ báo này, có ba yếu tố tác động đến quyết định tấn công của Tổng thống Mỹ. Thứ nhất, nếu như không “phủ đầu” Tehran thì có thể đến một ngày, quốc gia Hồi giáo sẽ chủ động tấn công khủng bố Washington, gây ra hậu quả khôn lường với nước Mỹ và chính uy tín của ông Obama. Tuy nhiên, theo Foreign Policy, dường như ông chủ Nhà Trắng quá lo xa khi tính đến trường hợp này.

          Ngoài ra, nếu ông nhất quyết cự tuyệt lời thúc giục hành động của Israel thì phe Cộng hòa chắc chắn sẽ lợi dụng cơ hội này để “bêu riếu”.

          Và nhân tố thứ 3 ảnh hưởng đến quyết định của ông Obama chính là khả năng Tehran kích hoạt một quả bom hạt nhân. Khi đó, ông Obama sẽ bị chỉ trích kịch liệt vì để lãng phí thời gian vào một chính sách can dự kém hiệu quả.

          Tuy nhiên, Foreign Policy khẳng định, nếu ông Obama tin rằng không còn biện pháp thay thế nào khác để ngăn chặn Iran làm giàu uranium ở cấp độ cao và sở hữu vũ khí hạt nhân thì chắc chắn ông sẽ nghiêm túc tính đến khả năng can thiệp quân sự. “Không ai có thể đảm bảo Tổng thống Mỹ sẽ không đưa ra quyết định tấn công Iran”, Foreign Policy quả quyết.

          Theo tờ báo này, Tổng thống Obama cũng như lãnh đạo các cơ quan an ninh Mỹ hết sức lo ngại về những hậu quả nghiệm trọng sau khi Iran đạt được bước ngoặt quan trọng trong chương trình hạt nhân của mình. Khi đó, một cuộc chạy đua vũ trang sẽ xảy ra trong bối cảnh khu vực này đang trải qua nhiều biến cố bất ổn.

          Ngoài ra, việc Tehran tiến gần hơn với vũ khí hạt nhân sẽ đẩy căng thẳng giữa Iran và Israel, cũng như giữa quốc gia Hồi giáo với một số kẻ thù truyền thống trong vùng Vịnh lên cấp độ mới.

          Không chỉ vậy, Foreign Policy nhận định, dù một cuộc tấn công quân sự vào các cơ sở hạt nhân của Iran có thể làm giá dầu tăng vọt nhưng mức giá cao đó sẽ đi vào ổn định nếu nỗ lực can thiệp quân sự thành công. Vả lại, với một nền kinh tế thế giới phục hồi yếu ớt như hiện nay thì giới quan sát cho rằng, giá dầu cũng khó có thể tăng cao.

          Nếu thực sự xảy ra một cuộc tấn công quân sự thì thời điểm hành động cũng là một vấn đề đáng lưu tâm. Theo Foreign Policy, giới chức Anh sai lầm khi cho rằng, ông Obama sẽ không tấn công ngay trước thời điểm bầu cử.

          Sau một thời gian nhún nhường để rồi Iran cứ lấn lướt, một quyết định cứng rắn nhằm ngăn chặn mối họa hiện hữu đối với Mỹ ngay trước thềm bầu cử có thể sẽ giúp ông Obama ghi điểm.

          Bên cạnh đó, Foreign Policy cho rằng, Israel cũng sai lầm không kém khi nghĩ rằng, một cuộc tấn công quân sự Iran có thể lôi kéo Mỹ trở lại với khu vực và cải thiện quan hệ giữa Tel Aviv và Washington.

          Sau một thời gian gắn bó, giờ quan hệ Mỹ-Israel nảy sinh nhiều vấn đề. Họ có thể hợp sức tấn công Iran để phục vụ lợi ích của mình nhưng những khác biệt giữa họ vẫn không thể khỏa lấp”, Foreign Policy nhấn mạnh.

          Những phân tích trên đây không thể giúp ai đó đưa ra kết luận rằng Mỹ sẽ tấn công Iran, song cũng sẽ là sai lầm nếu nhận định, Washington chỉ “giơ cao đánh khẽ” Tehran.

          Trà My (theo Foreign Policy)

          BÚT GÀ(CHẤP BÚT) ĐINH THẾ HUYNH GỞI CÁC CÔ CẬU NGHỊ

          Bút Gà (chấp bút) Đinh Thế Huynh gởi các cô cậu Nghị

          Tớ, Bút Gà, chấp bút cho (thủ) anh Đinh Thế Huynh của bộ hầu đồng (BCT) bình vôi[1] đảng CSVN, gởi lời phán của bà đến các cô/cậu Nghị. Phán đây là cho các cô/cậu Nghị (viên) Quốc Hội (quốc hủi) ấy, chứ không phải cậu Nghị cầu tự của Bà được sắp xếp đến nơi đến chốn, ghế mát bát vàng[2].

          Bà phán rằng các cô/cậu Nghị chỉ cần làm đúng một việc với chức năng “gật” là đủ rồi. Chứ đừng mồm miệng mắm tôm phát biểu linh tinh, lang tang thối hoăng làm ô uế phủ bà. Bà bảo cậu Phước có hung hăng con bọ xít tung hô vạn tuế bà thì cũng chả thêm miếng lộc nào đâu. Thóc bà chỉ có ngần ấy. Chia hết cho các cô, các cậu ở bao cơ chế trong ngoài Đảng nên chẳng còn thừa để cậu ta mót.

          Cậu Phước có to tiếng hơn cái phèng la (Đông La) chém gió vào lịch sử bôi nhọ cụ Phan Bội Châu thì cậu cũng giữ chân thủ nhang cho phủ bà thôi. Thế cũng là hơn cái phèng la (Đông La)[3] ngậm cứt phun (người) vào tay Cù Huy Hà Vũ chỉ súng sính cái chân lính anh, lính chị hầu bà. Cậu nói leo rằng thì là “Người Việt Nam yêu sự công bằng nên không ai chấp nhận đa đảng” làm gì? Anh Đinh Thế Huynh của bà đã nhắn cậu để độc quyền bảo kê, cầu chứng tại phủ bà câu “Việt Nam không có nhu cầu đa đảng”[4] rồi. Chớ có mà lẻo mép bị ăn tát sái quai hàm đấy nhá!

          Bà thì phán thế nhưng riêng cá nhân tớ, Bút Gà, thấy cậu Phước cũng được việc đấy. Quốc hội thì phải có phát biểu tranh luận qua lại chứ “gật” mãi thì chai mặt à. Phải có kẻ tung, người hứng thì mới gọi là sân khấu chứ lị. Ngay cả anh Tấn Dũng, Tấn Sang cũng đang lấn sân Tấn Tài, vị “Hoàng đế đĩa nhựa” cải lương để ca những bài mùi hết biết chứ lỵ. Anh Ba ca sáu câu vọng cổ trích đoạn “Luật biểu tình” trong tuồng “Dân chủ đầu mưng mủ” làm mủi lòng giới mộ điệu. Các fan Tấn Dũng tụ tập reo hò bị fan Công An với số đông áp đảo hốt trọn về trại phục hồi nhân phẩm[5]. (he he, ta tước hết nhân phẩm của chúng, rồi ta lại bắt chúng vào trại phục hồi. Chẳng phải là đôi ngã sang ngang, điếm đàng đểu cáng nhất đảng à!)

          Anh Ba tài thật, ca đếch chê đâu được. Ca ầu ơ ví dầu, cả trái lẫn phải đều mù tịt mà nội ngoại lại đề huề. Vừa vuốt ve xoa dịu bức xúc giới trí thức đòi hỏi quyền biểu tình khi tung chước giải trình trước quốc hội và đề nghị “gật” thông qua chương trình xây dựng “Luật biểu tình” mà anh Ba đã giao bộ Công An soạn thảo. Vừa trấn an anh cả là đàn em vẫn tùng phục “trên căn cứ thoả thuận mọi nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề mà ta và Trung Quốc ký mới đây trong chuyến thăm của TBT Nguyễn Phú Trọng.” Anh Ba ở tận trung ương thoải mái vận vai kép độc ca sáu câu vọng cổ, mặc tay chân đàn em địa phương chịu trách nhiệm “dân của mày thì mày về mà giải quyết”[6], mày hốt tùy tiện.

          Bút gà tớ thì được giao trách nhiệm soạn tuồng. Các cậu đừng tưởng tớ làm chấp bút là lề mề chỉ ngồi ngoáy hũ cáy đấy à. Tớ bận không kể xiết. Bà bảo tớ phải khảo cứu, điểm báo bọn “tư bản giãy chết” để điều nghiên, viết tuồng cho mấy anh không chệch hướng dân chủ, tự do. Các cậu không thấy khi mợ Doan ngẫu hứng tự biên tự diễn ca đoạn “dân chủ … khác hẳn về bản chất và cao hơn gấp vạn lần dân chủ tư sản …” nhưng cũng rất hơi bị cùng tuồng “Dân chủ đầu mưng mủ” của anh Ba mình.

          Rằng cao quả thật là cao, nhân dân cứ việc mơ phào tào lao.

          Đây này, để tớ kể chuyện buồn cười. Tớ vừa đọc được bài báo về chuyện ông Thống đốc Tiểu bang Kansas tận bên Mẽo xin lỗi cô học sinh trung học, quả là bọn chúng hâm thật:

          (Thống Đốc) Brownback xin lỗi vì phản ứng quá lố đi vi câu tweet ca mt cô hc sinh [7]

          Topekam, Kansas —Sau khi phải đối diện với những lời chế diễu chê bai khắp nước nên thứ Hai tuần này Thống đốc Sam Brownback phải chính thức gởi lời xin lỗi rằng các trợ lý của ông đã phản ứng quá lố đối với một câu tweet và làm ố danh một cô học sinh trung học.

          Tuần vừa qua, tham mưu của ông Brownback đã theo dõi mảng truyền thông xã hội như Facebook và Twitter và lên tiếng than phiền về một câu tweet của cô Emma Sullivan, 18 tuổi, học sinh lớp 12 trường Shawnee Mission East.

          Emma vì vậy bị văn phòng hiệu trưởng gọi lên trách mắng và buộc phải viết thư xin lỗi.

          Tiếp theo đó là một cơn bão táp phê phán nổi lên trên toàn quốc, đa số chỉ trích ông Brownback và hiệu trưởng Karl Krawitz. Ông Brownback bị tố là hăm dọa con nít, lũng giảm tự do ngôn luận, phung phí tiền thuế của dân trong việc giám sát, theo dõi các lời bình phẩm về ông và bị đánh giá là một kẻ lo sợ hoang tưởng.

          Thứ Hai tuần này, văn phòng Thống đốc Brownback ra một tuyên bố soạn sẵn. “Tôi xin lỗi là nhân viên của tôi phản ứng quá lố đối với một câu tweet. Tự do ngôn luận là một trong những tự do quý báu nhất của chúng ta.”

          Sự cố trên bắt đầu vào tuần vừa qua khi Emma cùng nhóm học sinh trong Chương trình Thiếu Niên trong Chính Quyền (Youth in Government program) có mặt tại Nghị Viện Tiểu Bang.

          Lúc đó, ông Brownback, thuộc đảng Cộng hoà, đang phát biểu với nhóm. Còn cô Sullivan, vừa mới ghi danh đi bầu và tự cho mình là theo đảng Dân chủ, gởi một tweet qua điện thoại di động “Vừa mới nói thẳng vào mặt ông Thống đốc Brownback là ông ta dỏm, #hắnxạohếtcỡ”[8]

          Đây là lần thứ hai trong vòng chưa đầy 3 tuần ông Thống đốc Brownback lại bị sự cố xấu hổ.

          Lần trước đó vào ngày 7 tháng 11 ông Brownback mở cuộc họp báo giới thiệu Jim Mann vào chức vụ trưởng phòng thông tin công nghệ. Ngay hôm sau, ông Mann bị buộc từ chức sau khi có người khám phá là ông Mann đã đưa vào lý lịch nghề nghiệp một bằng cấp (dỏm) ông nhận từ “xưởng bằng cấp” (diploma mill). Ông Brownback thú nhận là trợ lý của ông đã không kiểm chứng lý lịch học vấn của ông Mann.

          Các cậu thử tưởng tượng anh Ba nhà mình phải xin lỗi tay Cù Huy Hà Vũ xem . Có mà loạn. Anh Ba nổi cáu vì xỉn với cú đấm Vinashin (chơi đòn ma-phi-a) xin tí huyết thì có. Nhưng anh Ba chỉ nhẹ tay còng tay tên này cho đi an dưỡng thế thôi. Thế mà bọn chúng hoắng lên vụ 2 bao cao su cứ như một sự cố quan trọng. Tang chứng cài hay không thì toà án nhân dân ta cũng xử được thôi. Theo gương tự do, dân chủ của tư bản thì có ngày mà giãy chết. Ngay cả đứa oắt con như thế mà cũng phải tôn trọng quyền tự do ngôn luận của chúng. Đếch hiểu được. Thế thì làm sao trị dân được.

          Nguồn: Dân Làm Báo

          Mà này nhé, bà lại vừa nhắc phải nói cho các cô/cậu Nghị một lần chót là phải kiên định chước ngậm hạt thóc. Hỏi gì thì cứ ậm ừ, gật gừ cho xong, rồi thông qua ngay các luật Bà đề xướng để trị dân đấy. Đừng có mà rỗi mồm đề xuất “Luật nhà văn”[9], luật nhà thơ ngu ngơ như thế. May phước cho các cô/cậu là được cử vào ghế ngồi gật gù trong phủ bà. Chứ ở xứ dân chủ, tự do thì các cô/cậu chỉ đi ăn mày. Bà nuôi nhầm một vài thằng (vô) Phước chứ cả lũ như vậy thì bà cũng phải thăng thôi. Cứ kiểm chứng lý lịch học vấn, bằng cấp và xử lý theo nguyên tắc như chúng thì anh Ba, anh Tư, và các cô/cậu có mà về vườn vui thú điền viên còn ai mở phủ để cho bà thâu thóc.

          Bút Gà


          [5] “Ai là người cần phải vào trại “Phục hồi nhân phẩm”, Dân làm báo

          [8] “Just made mean comments at gov. brownback and told him he sucked, in person #heblowsalot.”

          HUỲNH THỤC VY Ở TAM KỲ VIỆT NAM

          HUỲNH THỤC VY: BÀN VỀ ĐẠO ĐỨC THAY LỜI CHÚC GIÁNG SINH

          Huỳnh Thục Vy

          Trước nay tôi thích nói về luật pháp hơn đạo đức. Không phải do tôi xem thường tầm quan trọng của nó trong mối các quan hệ nhân sinh mà bởi tôi cho rằng một chuẩn mực chỉ có thể được giữ gìn khi đi kèm theo nó là những biện pháp thúc ước hữu hiệu. Chúng ta thấy rõ luật pháp có được điều kiện tích cực đó — cái mà đạo đức không có được hoặc có, nhưng kém hiệu quả hơn.

          Thế nhưng cuộc đấu tranh hiện nay của chúng ta là vì một thể chế dân chủ tự do- một chế độ chính trị mà đặc trưng của nó là đạo đức, trong khi sự sợ hãi là đặc trưng của chế độ độc tài, như Montesquieu đã nói. Tuy nhắc đến những giá trị dân chủ tự do, chúng ta không trực tiếp đưa ra những tuyên ngôn cho tinh thần đạo đức nhưng kỳ thực chúng ta đang cổ vũ cho một xã hội nơi đạo đức được trọng vọng. Thật lạ đời rằng trong một chế độ dân chủ tự do, nơi người ta không chính thức đưa đạo đức lên như một giá trị của thể chế, nơi người ta chỉ dành nhiều thời gian và công sức để đề cao và bảo vệ nền pháp trị thì đạo đức lại được phát huy. Bởi xét cho cùng những giá trị như công bằng, tự do, tự thân chúng lại là một vấn đề đạo đức. Không có kẻ vô đạo đức nào yêu chuộng công bằng, tự do. Bởi vậy, không ngoa chút nào khi ta nói xã hội dân chủ được đặc trưng bởi đạo đức.

          Trong xã hội hiện đại, con người vướng mắc vào khá nhiều vấn đề khó tháo gỡ dù đã cố gắng không mệt mỏi theo đuổi việc hoàn thiện những định chế chính trị và xã hội hiện có của mình . Và khi các chuẩn mực luật pháp chẳng thể phát huy vai trò của mình trong nhiều lĩnh vực, chuẩn mực đạo đức sẽ làm tiếp phần việc ấy.

          Trong các chế độ độc tài, như một điều rất tự nhiên, con người thường sống, suy nghĩ và hành động trong nỗi sợ hãi; tất cả mọi tình cảm, ý chí và nguyện vọng hầu như chỉ để xoa dịu, khỏa lấp và thậm chí là để tự phù hợp với nỗi sợ hãi từ tâm thức đó. Nơi đó, đạo đức chỉ là thứ yếu, là thứ để ca ngợi chứ không phải để thực hiện. Vì thế sự băng hoại đạo đức là hậu quả trực tiếp của nền độc tài; đến lượt mình sự suy đồi đó lại củng cố cho sự vững mạnh của nền chuyên chính. Sự xói mòn nền tảng đạo đức là vấn đề đáng lo nhất trong tất cả những vấn đề đáng lo ở Việt Nam ta ngày nay. Đồng ý là thiện ác luôn song hành trong bất cứ xã hội nào. Nhưng nếu một xã hội dung túng cái ác và không có những biện pháp tích cực để chế tài cái ác và bảo vệ cái thiện, thì ắt xã hội đó có vấn đề từ gốc rễ. Trong những xã hội được vận hành bằng sự sợ hãi, đạo đức trở nên điều thứ yếu, và khi đạo đức đóng vai phụ trong nền văn hóa, cái ác sẽ lên ngôi. Bởi vậy, dù với một lực lượng công an hùng hậu, chính quyền Việt Nam chỉ có thể trấn áp những người dân lương thiện mà không thể ngăn cản nổi tội phạm tung hoành khắp nơi, cũng bởi chính nó là hiện thân vĩ đại của cái ác. Tư tưởng Hồ Chí Minh, những giáo trình giáo dục công dân… không thể ngăn nổi những vụ giết người man rợ, hàng ngàn vụ phá thai mỗi năm, những vụ tài xế xe tải đâm xe cho tới khi nạn nhân chết mới thôi để khỏi tốn phí tổn y tế, cùng những vụ bê bối học đường…

          Không nói những tưởng tất cả chúng ta đều nhận thức rõ đạo đức là nguồn mạch của nhân văn, là thứ thể hiện bản chất một xã hội. Nếu đạo đức là nhân tố chính hình thành nên cốt cách một con người thì cũng chính đạo đức tạo nên thần thái của một dân tộc. Theo tôi, một con người đáng tôn kính không phải vì tiền bạc và danh vọng mà chính vì đức hạnh của họ. Không khó hiểu khi Đức Đạt Lai Lạt Ma được ca ngợi là vị Thánh sống, một biểu tượng cho tình yêu và đạo hạnh dù Ngài chỉ là một Quốc vương vong quốc. Cũng như thế, một dân tộc mạnh không phải vì nó có vũ khí hạt nhân. Sức mạnh tinh thần và tiềm lực nội tại của nó phần chính đến từ đạo đức. Xây dựng kinh tế, thủ đắc vũ khí hạt nhân đã khó khăn, bảo vệ nền văn hóa, xây dựng một xã hội văn mình còn khó hơn gấp nhiều lần. Thật khó tưởng tượng một dân tộc có thể hội nhập nhân loại văn minh với nền đạo đức suy hoại của mình. Bạn sẽ coi quốc gia nào mạnh hơn, đáng kính phục hơn: Đan Mạch hay Bắc Triều Tiên? Nơi mà một người viết truyện cổ tích nhân văn được suy tôn là người Anh hùng dân tộc hay một quốc gia bất hảo thủ đắc vũ khí hạt nhân, được lãnh đạo bởi một tên độc tài bệnh hoạn? Thật vậy, giá trị tinh thần và nền văn minh của một dân tộc bắt nguồn từ những giá trị đạo đức.

          Trong cuộc đấu tranh cho dân chủ hiện nay, đạo đức phải được đề cao hơn nữa. Bởi trong những yếu tố cần thiết đóng vai trò động lực cho cuộc đấu tranh, nâng cao tinh thần người dân hướng về dân chủ tự do và đoàn kết người Việt khắp nơi , đạo đức đóng vài trò lớn. Bởi thứ nhất, không một người Việt nào có thể được gọi là người tốt mà cảm thấy an lòng, cảm thấy không phẫn nộ khi sống trong xã hội Việt Nam hôm nay; không một người có đầy đủ tư cách đạo đức nào ủng hộ những kẻ chà đạp con người. Không cần trí tuệ cao xa, bất cứ ai có lòng nhân ái, lòng yêu nước đều không sớm thì muộn sẽ nhận rằng rằng chế độ độc tài là vật chướng ngại cho an sinh và sự phồn thịnh của chúng ta. Chính đạo đức chứ không gì khác sẽ góp phần chính vạch ra chiến tuyến giữa một bên là những người yêu nước, yêu chuộng tự do dân chủ và bên kia là chế độ độc tài. Thứ nữa, đối với những người đang đấu tranh trong và ngoài nước, tinh thần đạo đức sẽ là chất keo kết dính họ với nhau dưới ngọn cờ dân chủ tự do bất chấp những khác biệt về quan điểm. Vì khi tinh thần dân chủ kết hợp với đạo đức, mọi toan tính chính trị, mọi đố kỵ ghen ghét, mọi mưu đồ trục lợi cá nhân sẽ nhường chỗ cho tình tự dân tộc, cho sự yêu chuộng công lý và tự do. Tôi thiết nghĩa rằng, không thể dễ dàng để có một chính thể tốt đẹp khi lãnh đạo nó là những kẻ vô đạo đức, mưu mô trục lợi. Vì thế, đạo đức là vũ khí của chúng ta chống độc tài và cũng chính nó mở ra khả năng xây dựng thành công nền dân chủ tự do sau này.

          Lâu nay với công việc dạy học ở nhà, tôi đã không ít lần nghĩ ngợi và thấy buồn khi từng lớp học sinh đi qua mỗi năm, tôi nhận thấy lòng nhân ái và tinh thần trách nhiệm của những em lớp mới chẳng bằng lớp cũ – một sự tụt hậu về đạo đức. Trong những câu chuyện của các em, các em nói về những việc đau lòng như thể nó là việc bình thường, với một thái độ rất thờ ơ. Các em đối xử với một người bạn nghèo như kẻ ngoài lề. Các em không giữ được sự lễ phép thường có của trẻ em thời tôi còn bé. Thật lòng, trong góc nhà bé nhỏ của mình, tôi lo lắng cho con đường đi lên của dân tộc.

          Nhưng những sự việc đã xảy ra với gia đình tôi hai tháng vừa qua cho tôi cơ hội có một cái nhìn khác. Hôm nay xin kể ra đây một vài câu chuyện mà chúng ngày càng trở nên thưa thớt trong xã hội này. Có một bác buôn bán ở chợ cóc, dành dụm những đồng tiền vất vả, lăn lộn cả ngày ngoài chợ để gởi cho tôi dù bác chỉ biết tôi qua mấy bài viết được in chui ra giấy. Những đồng tiền cũ, nhàu nát, nhưng được gấp phẳng phiu như mảnh đời khó nhọc của bác, như tấm lòng yêu thương chất phác mà bác dành cho tôi. Lại có một bạn gọi điện thoại cho bạn trai tôi phân trần vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn không thể giúp nhiều cho tôi và hỏi xem có thể tặng tôi ba chục ngàn bằng cách nạp tiền vào tài khoản di động của tôi được không? Một cụ già sống tận Houston, Mỹ quốc dành tặng tôi 30 đô la. Rồi một tăng sĩ ở Sài Gòn đã tám mươi tuổi, dành tặng tôi hơn một triệu. Rồi những em sinh viên, những nhà giáo nghèo, những cô chú bác tôi chưa từng gặp mặt khác…. Và còn nhiều tấm lòng Người Việt khác ưu ái dành cho gia đình tôi trên khắp thế giới.

          Mọi người thấy không? Đó chính là Đạo đức- Đạo đức dũng mãnh vạch ra lập trường đối lập với Nhà cầm quyền bằng hành động ủng hộ Dân chủ, Đạo đức lên án kẻ ác vì chứng kiến sự chà đạp nhân phẩm của họ, Đạo đức yêu thương chia sẻ vì nhìn thấy khổ đau của đồng loại. Tổ quốc sẽ vì có những con người này mà có thể vượt qua mọi kiềm tỏa để vươn lên. Đó là tình yêu thương mà những kẻ thấp cổ bé miệng dành cho nhau lúc hoạn nạn. Đó là hành động minh chứng dân tộc đứng về phía của lẽ phải và đỡ đầu cho Công lý. Đó chính là sức mạnh của chúng ta, là tia lửa hy vọng đang nhen nhóm một ngày nào đó sẽ thắp bừng lên ngọn đuốc canh tân. Đó là những lá phiếu trong cuộc trưng cầu dân ý ủng hộ xây dựng thể chế Dân chủ tự do. Tôi tin vào chiến thắng cuối cùng của chúng ta khi chúng ta là những kẻ biết thương yêu nhau, những kẻ có chính nghĩa! Chế độ độc tài! Các người sẽ thua không chỉ vì hoàn cảnh thế giới bất lợi cho các người, mà còn bởi đạo đức đang ở phía chúng tôi, những người dân có lương tri và trí tuệ của đất nước này ủng hộ chúng tôi.

          Trong những ngày mùa đông lạnh lẽo này, những ngày chờ đợi lệnh cưỡng chế từ Nhà Cầm quyền, gia đình tôi đã có được sự ấm áp trong tình yêu thương và ơn nghĩa của đồng bào. Tôi mừng vui nhưng không kém phần lo lắng vì nghĩ mình chưa làm được gì xứng đáng với tình yêu thương đó. Mùa Giáng sinh đã đến gần. Giáng sinh là mùa của yêu thương, là dịp để gởi đi thông điệp của tình yêu không kể tôn giáo, văn hóa; bởi vì cũng như đạo đức, tình yêu mang tính phổ quát. Xin nhân dịp này, kính chúc quý đồng bào trong nước cũng như hải ngoại một mùa Giáng sinh ấm áp và an lành. Xin cầu nguyện cho một Việt Nam sớm có dân chủ tự do, cho dân tộc Việt Nam thăng tiến cùng thế giới.

          Tôi biết rằng khi nói đến đạo đức là nói đến thứ khó nắm bắt và thúc ước. Thế nhưng không phải vì thế mà chúng ta không nhận thức được vai trò to lớn của nó. Nếu chúng ta có thể tốn giấy mực để lý luận về dân chủ, pháp trị, thì không lý nào không thể có những nỗ lực cần thiết để đề cao Đạo đức trong tình hình xã hội Việt Nam ngày nay. Vì thế xin mượn bài biết này như một thông điệp của tinh thần Đạo đức và Tình yêu trong mùa Giáng sinh. Đạo đức và Tình yêu sẽ xóa nhòa bao cuộc chia rẽ, ly tán và tổn thương của dân tộc, sẽ giúp những người yêu nòi giống Việt đoàn kết bên nhau trong cuộc đấu tranh cam go này.

          Tam Kỳ ngày 22 tháng 12 năm 2011

           Huỳnh Thục Vy

          December 22, 2011

          PHÓ THƯỜNG DÂN(14) MÈO-THỎ

          Phó thường dân (14): Mèo – thỏ

          Còn hai ngày nữa là tới Tết nhưng chẳng thấy hơi hướng mùa Xuân đâu ở cao nguyên tình xanh vùng Tây bắc Hoa-kỳ này. Dự báo thời tiết cho mùa đông lạnh cóng (hiệu ứng niña) năm nay làm ai cũng phải cười khỉnh vì qua lễ Tạ ơn và Noel nhưng chẳng thấy tuyết đâu. Đùng một cái. Trời đổ tuyết liên tục không dứt vào mấy ngày cận Tết. Trường học, công sở thì đóng cửa. Chẳng ma nào dám lái xe trên đường phố đang đóng băng dầy trơn trợt. Phó thường dân cũng đành ru rú ở trong nhà. Muốn phát sốt (cabin fever)!

          Thấy tuyết đổ nhiều chẳng ưa gì nhưng trong lòng phó thường dân tui cũng một phát thở phào mừng thầm. Chỉ gần hai tháng trước phó thường dân đã thay cái mái nhà lợp gỗ tuyết tùng (cedar shake) đã cũ kỷ, cong chênh và chớm mục bằng lớp mái loại tổng hợp (composite shake). Bây giờ thì yên tâm ăn Tết chẳng phải âu lo thấp thỏm nơm nớp sợ nhà bị dột.

          “Vô tư” nên phó thường dân tui ngô nghê ngoảnh lại năm mèo đang đỏng đảnh bước qua trước mặt. Chợt nhận ra con mèo (Việt Nam) thì khác xa với con thỏ (Trung Quốc) trong số 12 con giáp à nha.

          Theo sinh vật học và chủng loại thì mèo, cọp (tiger, cougar), beo, báo, sơn miêu (lynx) và cả sư tử cũng đều nằm trong họ nhà mèo (cat). Hóa ra chú mèo ta tuy nhỏ nhưng được lấy tên làm cả họ mèo. Tuy ở ta thì mèo được gọi là tiểu hổ (theo TQ?) nhưng ở Tây thì cọp, beo, và ngay cả sư tử lại được ví chung/gọn là mèo lớn (big cat).

          Thỏ thì chắc ai cũng biết rồi, nhát như thỏ. Thỏ được mỗi biệt tài là chạy nhanh nhưng vốn ỷ y, nhởn nhơ nên tới đích còn sau cả con rùa. Còn mèo thì có tính độc lập, tự chủ, không dễ bị sai khiến, không theo bầy đàn. Nói theo người Mỹ, trong thành ngữ “việc khó như chăn mèo” (It’s like herding cats) là đủ phô trương trích dụng bản tính độc lập của loài mèo.

          Những ngày cuối năm Mão này khi phó thường dân ngó lại cũng thấy y chang nhiều sự kiện biến chuyển dạng theo tính khí của con mèo hơn là con thỏ.

          Trước hết phải kể đến những biến động lịch sử trên thế giới vào đầu năm như Cách mạng hoa nhài, mùa Xuân Ả-rập ở Tunisia, Ai-cập, Libya, và láng giềng Miến Điện. Các diễn biến này hiện lộ mồn một đầy tính “mèo”: độc lập, tự chủ. Người dân ở các nước độc tài kể trên không còn chịu sống trong áp bức, thiếu tự do mãi. Họ quyết định vùng lên để giành sống đời tự chủ bất chấp hiểm nguy chưa đo lường trước được.

          Riêng tại Việt Nam ta thì người dân dù biết mình thấp cổ bé miệng chỉ là con giun, cái kiến trong một thể chế độc tài nhưng cũng đã mức mực thể hiện lòng dạ can đảm. Họ quá bức xúc trước các hành vi bá quyền Trung Quốc xâm lấm biển Đông, bách hại ngư dân đã xuống đường hàng loạt vào mùa hè để biểu tình phản đối chính quyền TQ. Khẩu hiệu Hoàng Sa-Trường Sa-Việt Nam đã được trương cao và tung hô công khai trên đường phố Sài Gòn và Hà Nội. Người biểu tình kiên quyết lên tiếng hơn 11 lần bất chấp đàn áp, cưỡng chế, hành hung, giam cầm của nhà cầm quyền đảng CSVN. Họ phản kháng dù biết mối đe dọa tù đày[1]. Vì chỉ có những con bò thì mới chịu bị “chăn dắt” chứ mèo cũng không chịu, nói chi là con người[2].

          Đảo mắt dần tới cái tháng cuối năm con mèo này thì có ai không biết tới biến cố sôi sục Đoàn văn Vươn[3] chống trả lực lượng cưỡng chế của quan/quân huyện Tiến Lãng. Những người dân lành chỉ biết cặm cụi lo làm lụng kiếm ăn một khi bị dồn vào chốn đường cùng cũng không thể làm gì khác hơn là vùng dậy dù rằng họ đã bị “tuyên huấn”, “định hướng”, “chỉ đạo” khá thuần (Đỗ Hữu Ca, Giám đốc Công an Hải Phòng trong khẩu khí khinh bôi “Từ sau hòa bình đến nay, người dân Tiên Lãng khá thuần nên huyện nghĩ rằng không có việc chống đối như thế”[4]). Họ vươn lên như “những con giun xéo mãi cũng quằn” kháng cự lại một thể chế với guồng máy và hệ thống đầy tính bạo động. Làm sao mà buông xuôi, không chống trả cái tập đoàn tội phạm cơ “cấu” trong đảng CSVN nối kết, giật dây xã hội đen cướp của, cướp đất mà họ đã gầy dựng bằng mồ hôi và máu thịt cho được? Những chuyện động trời ở Tiên Lãng[5] bị lộ hàng này phải chăng chỉ là mảng băng nổi của bao chuyện thường ngày ở huyện.

          À mà chút xíu nữa là quên vì bực giận. Phó thường dân nãy giờ chỉ nói về mèo mà hổng nhắc gì tới thỏ thì thiệt là không công bằng. Các chuyển động rần rần hàng ngày ở bộ sậu (BCT) đảng CSVN có khác gì hiện tượng “thỏ” với hành xử nhút nhát, luồn cúi, khiếp nhược với Trung Quốc. Những thỏ thò thụt, thin thít với “tàu lạ” mà người dân nhận rõ bản chất của họ là “Hèn với giặc ác với dân”[6]. Những kẻ mà Hoàng Sa-Trường Sa, bô-xít Tây nguyên, khoán hộ trăm năm rừng đầu nguồn, tham nhũng PMU, Vinashin, chứng khoán đứt phanh[7], doanh nghiệp phá sản cùng với lạm phát[8] và giá cả tăng phi mã tất tật đều là “chuyện nhỏ như con thỏ”.

          Phó thường dân nói đến đây chợt nhớ một chuyện nhỏ như con thỏ khác ở nước Mẽo này xin kể bà con nghe chơi nha. Đó là chuyện triệu hồi chức vụ (recall election) các viên chức nhà nước dù được dân cử trước đó nhưng nay cử tri không còn tín nhiệm mặc dù nhiệm kỳ chưa quá đát. Điều kiện thực hiện tiến trình triệu hồi này khác nhau tùy theo địa phương nhưng thể thức chung tương đối đơn giản. Chỉ cần thu thập đủ mức số chữ ký của cử tri trong địa hạt bầu cử (Thống đốc và dân biểu tiểu bang, Thị trưởng và Nghị viên thành phố, v.v…) là có được sự thay đổi. Nghĩa là chuyện nhỏ như con thỏ.

          Một ví dụ điển hình nhất là vụ triệu hồi chức vụ Thống đốc Tiểu bang Wisconsin, ông Scott Walker. Nguyên nhân chỉ vì ông ta thông qua đạo luật hủy bỏ quyền thương lượng tập thể (collective bargaining rights) của nhân viên nhà nước (public employees). Các hiệp hội lao động cùng với dân chúng, cử tri ở Wisconsin kết hợp tổ chức cuộc triệu hồi. Họ vận động qua truyền thanh, truyền hình, các trang mạng và facebook[9] với kết quả là đã thu thập trên 1 triệu chữ ký, gần gấp đôi con số đòi hỏi cần thiết. (Nghĩ tới đây lại nhớ và thương ba em Đỗ thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương, và Nguyễn Hoàng Quốc Hùng tranh đấu cho người lao động mà phải bị tù đày khổ sai đang bị hành hạ từng ngày.)

          Riêng trong năm 2011 đã có 150 cuộc triệu hồi chức vụ ở Hoa-kỳ, kết quả là một nửa số 75 dân cử bị truất chức và 9 vị khác từ chức (cho đỡ mất mặt) trước mối đe dọa bị triệu hồi[10]. Cơ chế bầu cử dân chủ và pháp luật ở xứ tự do thì như thế chứ còn ở đất nước độc tài, độc đảng của Đảng CSVN thì dù dân chúng có chán ngán, bất tín nhiệm muốn truất phế thì cũng đành bótay.com. Chỉ có những quả bom Đoàn Văn Vươn[11] đầu ngọn sóng nổ tung mới đổ sập được bức tường nhà tù nô lệ.

          Hồn thiêng ngàn năm Thăng Long vẫn còn trên đất Việt. Lòng dân Việt Nam đang trong vận hội mới muốn khai phóng vươn dậy tháo gỡ gông cùm độc tài chuyên chế.

          © 2012 Vietsoul:21

          [Loạt bài Phó Thường Dân: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu - (8) Gió mưa là chuyện của trời … – (9) Vô liêm sỉ - man rợ – (10) Phế-anh-hùng – (11) Luật Lệ(nh) … (12) Nhà em có nuôi một con két … (13) Cái nhà là nhà của ta …]

          [1] Việt Nam đưa bà Bùi Thị Minh Hằng vào cơ sở giáo dục Thanh Hà, Anh Ba Sàm

          [2] Không phải là bò nhưng “có còn là con người nữa không”? Dân Làm Báo

          [3] Biến cố Đoàn văn Vươn, X-cafe

          [4] Giải phẫu tuyên bố của Đỗ Hữu Ca – Giám đốc CA Hải Phòng, Dân Làm Báo

          [5] Chuyện động trời ở Tiên Lãng – thông tin lần đầu công bố, Dân Luận

          [6] Hèn với giặc ác với dân, RFA

          [7] Chứng khoán VN trễ lắm là giữa tháng 2 sẽ sập mạnh, Dự đoán kinh tế

          [8] Lạm phát Việt Nam cao nhất khu vực Đông Á, VNExpress & Lạm phát cả năm 2011 là 18,12%, Báo Mới

          [9] www.recallscottwalker.com, www.unitedwisconsin.com, www.scottwalkerwatch.com/sign-recall-petition, www.recallscottwalker.info, www.facebook.com/pages/Recall-Scott-Walker/140797569305051

          [10] Recall Election, wikipedia

          [11] Quả bom Đoàn Văn Vươn, Vanganh.info

          BÚT GÀ(CHẤP BÚT) ĐINH THẾ HUYNH GỞI BAN TUYÊN GIÁO HUYỆN TIÊN LÃNG

          Bút Gà (chấp bút) Đinh Thế Huynh gởi ban tuyên giáo Huyện Tiên Lãng

          Tớ, Bút Gà, chấp bút cho (thủ) anh Đinh Thế Huynh của bộ hầu đồng (BCT) bình vôii đảng CSVN, gởi lời phán của bà đến ban tuyên giáo Huyện ủy Tiên Lãng và TP Hải Phòng. Những tưởng lời bà phán trước Tết đã đủ cho các cậu hiểu nhưng sao các cậu đần thế. Các cậu chắc hẳn là lũ đần ông nên bà lại phải cho uống nước “thánh” (vật) vậy.

          Trước nhất bà hỏi có phải thằng Đại (tá) Ca này ăn phải ka ka hay vui vẻ úp mặt vào cái lá đa nên phát ngôn ô uế thối um cả đền bà. Bà nói là phải để cái thằng này thánh vật mới chừa tật. Vừa chưa hết cái họa mồmii hôm nọ nay lại văng miệng (miểng). Thế này thì đến chết thôi.

          Ối giời ơi, cái thằng thánh vật mà không chết này thì bà phải vời cô hồn các đảng làm thịt mày mới được! Mày hại bà rồi! Làm sao mày lại nói nhà của Vươn là chòi. Thế thì chết bà rồi! Bao nhiêu năm qua các anh mày thu hồi đất đai, lấy đất, lấy ruộng, đào mồ xới mả nhân dân bị kiện cáo đầy trước cửa phủ bà. Giờ nếu nhỡ bọn mất đất, mất ruộng, mồ mả ông bà ấy chúng chỉ xin bồi thường theo tiêu chuẩn lượng giá “cái chòi anh Vươn” thì các anh mày phải chết giở thôi!

          Bà đã cảnh báo anh Huynh nhà mình chớ khinh suất để mất chủ động. Cần phải biến hóa mọi việc từ thủ sang công, đổi công thành tội, bóc tách đổ lên đầu anh em nhà Lê văn Hiền, Lê văn Liêm. Đứa nào dại đỡ đòn bao che thì ta đem làm dê tế thần luôn thể. Tuyệt đối cô lập ranh đe “thuần hóa” anh em nhà họ Đoàn với con ngáo ộp “thế lực thù địch” là chúng tịt ngòi ngay thôi nhé.

          Bà nói thế đấy. Nghe thấu chửa? Đã qua Tết, xong chuyện khánh tiết đón tiếp lính anh, lính chị địa phương về thăm viếng gởi phong bì chúc Tết anh Huynh, nên Bút Gà tớ đây mới có tí thì giờ ngoáy hũ cáy chấm bút (mút) chút đỉnh. Các cậu biết là anh Huynh đã giao ban báo chí đầu nămiii vào cuộc định hướng đỡ đòn. Anh giao cho 6 nhiệm vụ, tất cả tập trung vào “tuyên truyền” cho cái bình vôi (BCT) của bà. Anh gởi lời của bà trước nhất là tập trung tuyên truyền kỷ niệm ngày mở phủ (3/2), học tập và làm theo gương đạo đức/đ. (tên đệ tử con cầu tự) Hồ Chí Minh.

          Đồng thời anh Huynh đã gài khung “Hành vi chống người thi hành công vụ” rồi đấy. Anh Ba Dũng (a hèm, đại biểu quốc hội của tỉnh cảng Hải Phòng) cũng đồng điệu góp lời trong công điện số 57 yêu cầu “Xử lý nghiêm trường hợp chống đối người thi hành công vụ”. Cứ quán triệt, nhất trí như thế mà làm. “Việc báo chí đưa tin, phân tích đa chiều vụ cưỡng chế” cũng chỉ là đánh bùn sang ao trong hệ thống luật lệ (lệnh)iv nhà nước đảng ta.

          Anh Huynh nhà mình cũng đã điện về cậu Vũ Hồng Chuân, Trưởng ban Tuyên giáo huyện ủy, triệu cuộc mít tinh quán triệt thời sự tại Đảng bộ thị trấn Tiên Lãng. Toàn thể đảng viên Huyện Tiên Lãng “thống nhất về mặt tư tưởng”, “giữ vững lập trường” là “ông Vươn … đã chọn giải pháp chống người thi hành công vụ là vi phạm cực kỳ nghiêm trọng về luật pháp”. Việc cưỡng chế, thu hồi đất về cho bà là chuyện thường ngày ở huyện, như chuyện cái đêm hôm ấy đêm gìv. Bà khoán đất cho chúng thì bà đòi lại thế thôi. Không thể để vụ tay Vươn này trở thành một tiền lệ trong “nhà nước pháp quyền” chuyên chính đảng ta.

          Anh Huynh cũng từng nhắc đi nhắc lời phán của bà để các cậu thấu triệt thế này. Cái câm lặng cần thiết cho việc trị dân. Đừng để cho “cây tỏi nổi giận”vi và chước sách hữu hiệu là bịt miệng nạn nhân. Thế chứ lị. Ta đã bịt miệng nạn nhân tập thể rồi đấy. Bằng cách cho chúng tự do tha hồ gởi khiếu kiện tới đủ cơ quan ban ngành và địa phương, cho báo chí lề phải tha hồ báo cáo tường thuật, cho cụ Lê Đức Anh ngay lập tức ra mặt la làng la xóm là các cậu Tiên Lãng làm quấy. Từ Huyện tới Tỉnh, từ Thành phố đến Trung ương, từ Mặt Trận đến Quốc hội theo kiểu đèn cù hội chứng Lục Vân Tiênvii. Cụ Hiền Đức với núi hồ sơ dân oan khiếu kiện cầm đèn chạy trước nhưng ô tô Thanh tra nhà nước cứ phanh trước nhà hàng Long Đình nhận tí trà nước thì đã sao nào. Ta đã bịt (miệng) nòng súng hoa cải trao (tráo) anh Vươn cái loe đài “Em sẽ khai thành khẩn, em nhận thức việc đó là sai” và “Đảng và nhà nước khoan hồng cho em và người thân của em.” thế là xong.

          Bà cảnh cáo rằng thì là dù tiếng súng hoa cải lẹt đẹt nhưng âm vang và đồng hưởng rất to vì số dân oan vô vàn khắp nơi trên toàn cõi đất nướcviii. Khi ấy ta phải cần những phèng la, trống ếch, chuông mõ ồn ào nhiễu động để át tai và đánh lạc hướng.

          Phương pháp đánh lạc hướng một cách chủ động là tổ chức “tuyên truyền về các lễ hội” nhất một. Đây là một trong 6 nhiệm vụ hàng đầu của báo chí. Đấy là việc có lợi vô vàn. Tất cả những gì về truyền thống, dân tộc sẽ được gán ép, gắn liền với đảng và nhà nước ta. Cùng lúc ta tạo dựng được cái bình phong xã hội hạnh phúc, vui chơi trong chốc lát để chẳng ma nào để ý đến những khổ đau, xấu xa, bất cập diễn ra trước mắt ngày ngày. Và hơn hết ta lôi kéo, mê hoặc, mị dân hao mòn năng lực vào cái đình đám, vô hình (ăn mày dĩ vãng theo Bà) và quên nhãng đấu tranh cho công bằng xã hội trong hiện thực.

          Phương pháp đánh lạc hướng khác cũng không kém phần rôm rả, có vẻ như “ngẫu hứng qua cầu” là (phản) phản biệnix của giới trí thức/trí ngu/trí ngủ, trùm chăn/bó chiếu/giăng mùng. Ta kích cho chúng thỏa thê gây sóng gió với cơn bão trong tách tràx (he he he, cái nàyphải cần Bổ đề toán mới giải ra hết) cho đến khi chén nước nguội dần thì ta nốc cạn.

          Ta mặc cho chúng trăn (chăn) trở để lương tâm lâu lâu được giũ bụi, phơi nắng khỏi bị mốc meo mắc bệnh hắc lào. Đám “nói và làm” như Điếu Cày, Phạm Thanh Nghiên, anh Ba SG, Cù Huy Hà Vũ, Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Trần Huỳnh Huy Thức, Tạ Phong Tần, Bùi Thị Minh Hằng, Đoàn Văn Vươn dám thách thức bà thì đã được giải quyết nhanh chóng rồi. Còn các cụ/cựu, nguyên/ngơ, nghị/nghễnh xôi oản một (nhất) thời, phát ngôn (ngông) nhiễu động cũng rất cần thiết cho cái “dân chủ đầu mưng mủ” đảng ta.

          Ta để cho các cậu (chậu) kiểng Mặt Trận vờ vịt (mờ mịt) hoắng lên “Nếu mà xử lý không đúng mực thì chúng tôi sẽ có tiếng nói, sẽ có hành động để phản ứng lại.xi Những đảng viên la toáng “xấu hổ” vẫn ôm bình bát (bình vôi) khất thực cửa đền. Bà đẻ đứa con hoang Mặt Trận để ôm tráp cho bà thì đố (bố) nó bảo vệ cho ai đấy! Các cậu ấy biết tỏng tòng tong rằng-thì-là các anh nhà mình đã be bờ thì ngọn đầu sóng vũ bão lẻ loi cũng là chuyện nhỏ như con thỏ. Có mà cả ngàn con sóng nhỏ cùng dồn dập không ngừng thì các anh mày mới kệch. Ối dào, anh Ba phù phép “quả đấm thép” Vinashin tái cấu trúc thành “bột bánh bao” tha hồ rút/đút ống mà có thấy thằng nào ló mặt “hành động để phản ứng lại” đâu.

          Bà sai tớ phải luôn nhắc nhở nhân dân quán triệt “chân lý” bà là chủ đất (nước) từ cái thời cướp chính quyền. Đó là một “khách quan lịch sử” và “ơn đảng, ơn chính phủ” đời đời phải tạc ghi chứ lị. Sở hữu toàn dân có nghĩa là dân chỉ toàn có tiếng còn bà thì được trọn nguyên miếng. Đứa nào nói bà cướp đấtxii là mắc tội phỉ báng và đáng đi nằm nhà đá. “Sở hữu toàn dân” là đỉnh cao trí tuệ của đảng (cướp) ta nằm ở đuôi của cái gọi là kinh tế thị trường “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Chừng nào mà nông dân vẫn tự nguyện làm “nhân dân” khoán hộ đất bà và khối công nhân, người dân thành thị luôn xin xỏ cầm sổ đỏ thì vận của bà vẫn thông hanh.

          Năm nay là năm con rồng. Rồng đất/nước cỡi đầu ngọn sóng (Tiên Lãng) khó mà thuần hóa được. Bà thuộc cõi âm, lại khắc tinh con rồng nên mệnh yểu và cần lính anh, lính chị các cậu hết lòng bảo vệ. Các cậu sểnh vụ này bể bình vôi thì mất lộc, hết thóc đi ăn mày đấy.

          Bút Gà

           

          vCái đêm hôm ấy … đêm gì?, Phùng Gia Lộc

           

          viCây Tỏi Nổi Giận, tiểu thuyết của Mạc Ngôn

           

          viiVân Tiên cõng mẹ chạy vô, đụng phải Thanh tra cõng mẹ chạy ra.

          Vân Tiên cõng mẹ chạy ra, gặp ma Ba Đình cõng mẹ chạy vô.”

           

          ix(Phản) Phản biện, Vietsoul:21

           

          Follow

          Get every new post delivered to your Inbox.