SÁU TRANG REPORT VỀ TỘI TRẠNG CỦA ÔNG THÁI NHẬT LĨNH ,NGƯỜI ĐỨNG RA THÀNH LẬP CỘNG ĐỒNG Ở SEATTLE CỦA TRẦN TRUNG DŨNG VÀ QUANG ADAM NGUYỄN

  LTS :

 Chúng tôi gởi đến quý độc giả hồ sơ tội phạm của ông Thái Nhật Lĩnh ,người đứng ra thành lập cộng đồng Seattle , cộng đồng do ông Trần Trung Dũng làm chủ tịch và Quang Adam Nguyễn làm phó . Cộng đồng được sự hổ trợ rất mạnh mẻ của Hội HO Seattle/WA , trong buổi tiệc tất niên của Hội HO Seattle , Hội này đã trịnh trọng mời ông Trần Trung Dũng lên đọc diễn văn . 6 trang report này là bổ túc cho bài viết về bộ ồng phục HO/Seattle . Chúng tôi còn nhiều bằng chứng nữa ( sẽ lần lượt nêu lên về lập trường chính trị của những tổ chức mà Hội Ho Seattle liên kết)để cho quý anh em quân nhânQLVNCH và HO thấy rõ con đường của HO Seattle đang đi ,một số người trong ban chấp hành HO Seattle đã bán danh dự của người quân nhân VNCH cũng như danh dự của những người chịu tù đày của VC . Dưới đây là phần dịch ra tiếng Việt ,phần Anh Văn(nguyên bản) nếu quý vị nào muốn có xin liên lạc với chúng tôi )

Vụ an số 03-1-09119-3 Trang 1

Giấy chứng nhận để xác định có lý do

Rằng tôi, Thám tử Robert A. Schroeder, của Sở cảnh Sát Tiểu Bang Washington đã duyệt qua cuộc điều tra trong hồ sơ số 03-009365;

Có đủ lý do dể tin rằng Linh N. Thai đã phạm tội Cắp bằng cách Gian lận Trợ cấp, vi phạm luật luật cải cách số 9A.56.030 và 74.08.331:

Sự tin tưởng này được đặt trên những yếu tố và hoàn cảnh sau:

Vào ngày 2 tháng 9, 2003, khoảng 8:00 giờ sáng Thám tử Schroeder đã được chỉ định điều tra một vụ trộm/gian lận được ghi trong hồ sơ số 03-009365 của sở Cảnh Sát Tiểu Bang Washington. T/t Schroeder nhận được biên bản của Bộ Y tế Xã Hội bang Washington(DSHS) và điều tra thêm về một nhân viên của DSHS. Nhân viên này là một cán sự tài chính tùng sự tại Văn Phòng Dịch Vụ Cộng Đồng West Seattle, sau đây là sơ luợc những yếu tố Th/Tử Schroeder tin là có thật:

Vào ngày 15 thánt 8 năm 2003, giám thị Leslie Patten, thuộc Phòng Dịch Vụ Tài chánh của Bộ Xả Hội đã tiếp xúc với cơ quan công lực về việc có thể đã có một sự gian lận liên quan đến ông Linh N. Thai, nhân viên tài chánh của Văn-phòng Dịch vụ Cộng Đồng West Seattle. Theo như được biết, rằng vào ngày 4 tháng 6 năm 2003, cán sự tài chính bậc 3 Linh N. Thai đã mở một chương mục qua Hệ Thống tự động xác định đủ điều kiện cho thân chủ (Automated Client Eligibility System, ACES) để chấp thuận cấp tiền cho chính ông ta dưới tên Linh B. Thai. Hồ sơ của ACES cho thấy ông Linh chấp thuận quyền hưởng tiền mặt qua chương trình General Assistance Unemployable (GAU), có hiệu lực từ ngày 1 tháng 6 năm 03, với số tiền là 339.00/tháng. Theo hồ sơ, ông Thai mở chương mục này dưới tên giả là Linh B Thai, thân chủ số 004924082, là một phụ nữ. Hồ sơ cho thấy là người này là người vô gia cư có địa chỉ bưu tín tại 9640 16th Ave. SW, Seattle, WA. 98106.

Trong việc các định tiêu chuẩn hưởng trợ cấp qua chương trình GAU, Bộ Xả Hội yêu cầu người nộp đơn phải cung cấp chi tiết để xác định tiêu chuẩn hưởng trợ cấp. Các dữ kiện này được lưu trử trong Hệ Thống Quản lý Hồ Sơ(Document Management System, DMS) điện tử cùng rất nhiều chi tiết trong ACES. Hồ sơ DMS của chương mục do ông Linh mở không có bất cứ xác định nào như căn cước, số An Sinh Xả Hội, (ASXH) kết quả khám tổng quát để xác định khuyết tật, hay sự chấp thuận của một cán sự xả hội ấn định thời gian mất khả năng. Ngoài sự thiếu sót của phần xác định, chương mục này không có các ghi chú trong ô Lời khai hay Ghi chú của hệ thống ACES. Tin tức duy nhất trong chương mục là dữ kiện phải ghi vào những khoảng trống bắt buộc phải ghi để cho phép cấp tiền, và hai bức Thư Thông Báo trả tiền cho cô Linh, do ông Linh Thai gửi.

 Trang 2

Nhân viên Bộ Xả Hội được cho một số mật mã để vào hệ thống cho phép trả tiền trong ACES. Mỗi nhân viên có dữ liệu cá nhân riêng và họ tự đặt số mật mã mỗi khi họ muốn vào hệ thống. Hệ thống ACES dùng dữ liệu cá nhân khi vào máy để theo dõi các biện pháp đã thi hành đối với các chương mục thiết lập và lưu trử trong máy. Dữ liệu cá nhân khi vào máy ACES của ông Linh N. Thai cho thấy ông ta là người có tên trong hồ sơ đã mở chương mục này vào ngày 4 tháng 6, năm 2003 và đã cho quyền được thụ hưởng tính từ ngày 1 tháng 6, 2003. Hồ sơ cho thấy chương mục đã được đóng trong tháng 7/03 và được mở lại trong tháng 8/03 dưới tên xử dụng khi vào máy (log-in ID) ACES của ông Linh N. Thai.

Một khi hệ thống ACES cho phép trả tiền, CitiBank sẽ gửi thẻ nhận tiền cho người thừa hưởng và số mật mã trong vòng vài ngày sau, để người nhận có thể lấy tiền trong máy ATM đặt tại các chợ. Hệ thống Chuyễn Ngân Điện tử của chương Mục này cho thấy đa số các lần rút tiền được thực hiện từ máy phát tiền của KeyBank tọa lạc tại 9655 17th Ave SW, SEattle, WA. 98106.

Một nhân viên khác của Văn Phòng Dịch Vụ Cộng Đồng (Community Services Offic),khám phá ra vụ này khi hệ thống ACES đưa ra sự báo động. Sự báo động là một sự thông báo của máy tính điện tử cho biết đã có sự lầm lẩn trong những dữ kiện ghi trong chương mục. Sự báo động lần này cho biết là số An Sinh Xã Hội trong hồ sơ không giống với số nào trong hệ thống An Sinh Xã Hội Liên Bang, có nghiả là số ASXH đó không hợp lệ. Trưởng toán nhân viên cũng thấy là tên của người trong chương mục tương tự như tên của một nhân viên trong văn phòng. Kho cô ta thấy hồ sơ không đầy đủ, cô ta biết ngay là hồ sơ có vấn đề và trình cho Jim Micka, giám thị của sở.

Nhân viên trong phòng giám thị cho thấy là ông Thai đi Vietnam trong tháng 7, khi chương mục bị đóng. như đã nói trên, chương mục này được mở vào ngày 4 tháng 6,2003, đóng vào tháng 7/03 khi ông Thai đi Vietnam. Khi ông ta trở lại làm việc vào tháng 8, hồ sơ cho thấy là chương mục này đã được mở lại. Nhân viên cũng được biết rằng các hồ sơ này đã có truy lảnh từ đầu tháng, tính từ ngày mở, hành động ít khi thấy với loại chương mục này. Jim Micka, giám thị của ông Thái, lái xe đến địa chỉ ghi trong chương mục để điều tra xem thẻ lảnh tiền được gửi về đâu vì người thụ hưởng ghi là vô gia cư. Ông ta khám phá ra đó là Vovinam Martial Art (Vỏ Đường Vovinam) do ông Thái làm chủ.

Những lần rút tiền sau đã được Hệ Thồng EBT của Washington ghi nhận của số thẻ 507710000767182:

Ngày Giờ Hình thức thanh toán Số tiến Địa điễm

06/04/03 21:5 Ký quỷ 339.00 Cập nhật quyền lợi

06/16/03 11:12 Rút tiền 320.00 Keybank

07/01/03 3:30 Ký Quỷ 339.00 Cập nhật

07/31/03 18:50 Rút tiền 300.00 Keybank

Trang 3

 08/05/03 22:11 Ký Quỷ 339.00 Cập nhật

08/12/03 12:35 Rút tiền 300.00 Keybank

Việc điều tra chi tiết về sự chuyển ngân cho thấy các hoạt động ghi trên của chương mục này được thực hiện tại Keybank số hiệu KB4263, 9655 17th Ave SW, Seattle, WA. Chi nhánh KeyBank này là máy ATM nằm trong KeyBank cách địa chỉ của chương mục này khoảng 1 khu phố. Số tiền tổng cộng từ ngày chương mục này được mở ra vào này 4 tháng 6,2003 là $920.00

Vào ngày 2 tháng 9, 2003, nhân viên trong ban giám thị khám phá ra một chương mục gian lận thừ hai, dưới tên xử dụng khi vào máy ACES của ông Linh N. Thai. Hồ sơ ACES cho thấy là vào ngày 2 tháng 8,2003, ông Thai cho phép chương trình Trợ Cấp Tạm Thời Cho Gia Đình Nghèo Khó phát tiền tính từ ngày 1 tháng 8, 2003 số tiền $740.00/tháng. Chương mục này vẫn còn hiệu lực dưới tên giã là Allan L. Greener, số chương mục 004980781. Địa chỉ người nhận trong chương mục giống như địa chỉ trong chương mục đầu tiên là 9640 16th AVe SW Seattle, WA. 98106. Phần lời khai cho thấy là người thụ hưởng là người giám hộ của các trẻ từ Dayton, Ohio. Phấn lời khai cũng cho thấy rằng cha mẹ của các cháu này đã thiệt mạng trong một tai nạn xe và toà án đã giao hồ sơ cho ông Greener. Người thụ hưởng trình bản sao, các giấy khai sinh để minh xác là ông ta là cha của cha của các đứa trẻ. Trong chương mục này có 6 đứa trẻ. Không phối kiễm được số ASXH nào trong chương mục được cả. Hệ thống ACES đưa ra một báo động về chương mục này cho biết là không phối kiễm được số nào với hệ thống ASXH Liên Bang.

Những lần rút tiền sau đã được Hệ Thồng EBT của Washington ghi nhận của số thẻ 5077100007889475:

Ngày Giờ Hình thức thanh toán Số tiến Địa điễm

08/20/03 22:01 K ý Quỷ $740.00 Cập nhật

09/01/03 3:30 Ký quỷ $740.00 Cập nhật

09/07/03 1:48 Rút tiền $500.00 KeyBank

09/07/03 9:38 Rút tiền $600.00 KeyBank

09/07/03 9:39 Rút tiền $360.00 KeyBank

Việc điều tra chi tiết sự chuyển ngân cho thấy các hoạt động ghi trên của chương mục này được thực hiện tại Keybank số hiệu KB4263, 9655 17th Ave SW, Seattle, WA. Chi nhánh KeyBank này cũng là máy ATM dùng để rút tiền của chương mục đầu tiên. Số tiền tổng cộng người do xử dụng chương mục này rút ra là $1460.00

Trang 4

 Tồng số tiền rút từ hai chương mục này, tính từ ngày thiết lập, là $2,380.00

Vào ngày 18 tháng 9 năm 2003, Th/tử Schroeder thu băng lời khai của nhân viên Bộ Xả Hội

Michelle Vanden. Cô Vanden là nhân viên tài chánh bậc 4 tùng sự tại Văn Phòng
Dịch Vụ Cộng Đồng West Seattle.

Cô Vanden là trưởng toán nhóm Nhận đơn xin dịch vụ, cùng đơn vị nơi ông Thai làm việc. Nhiệm vụ của nhân viên trong bộ phận này là đút kết hồ sơ đơn xin của những Gia đình Khó Khăn Cần Trợ Giúp Tạm thời (TANF)và thụ lý các hồ sơ của những người đang thụ hưởng trợ cấp và phiếu thực phẫm. Nhân viên làm trong khâu của cô là những nhân viên bào quản và thụ lý hồ sơ, và chỉ thỉnh thoảng mở hồ sơ mới. Nhiệm vụ của cô trên mức bảo quản và gồm có việc giám thị các nhân viên khác và giúp họ quản lý hồ sơ và theo dõi những báo động của các chương mục.

Khoảng thời gian đầu tháng 8, Vanden thấy có vấn đề với một trong những chương mục. Cô đã tình cờ chọn một báo động của một chương mục. Sự báo động này phát ra từ chương mục do ông Thai thiết lập. Cô ta thấy là tên người thụ hưởng trùng với tên của một nhân viên làm việc cho cô, là Linh Thai. Cô nghỉ rằng chuyện này rất buồn cười, nhưng không phải là khác thường vì rất nhiều người thụ hưởng có tên trùng với nhân viên. Báo động cho thấy số ASXH và tên không trùng nhau, do đó, cô bắt đầu tìm hiễu sự việc. Cô bắt đầu vào hồ sơ để cập nhật hoá để bảo đãm rằng hồ sơ có những thông tin đúng. Nhưng cô ta khám phá rằng người thụ hưởng trong hồ sơ này không có tin tức nào cả, ngoài dữ kiện cần thiết để mở chương mục. Không có hồ sơ chứng minh, không có ghi chú trong phần lời khai nào trong hồ sơ cả. Cô Vanden biết rằng hồ sơ này có vấn đề nên đã thông báo cho cấp trên của cô ta.

Vào ngày 18 tháng 9 2003, Th/tử Schroeder lái xe đến địa chỉ ghi trong hai hồ sơ gian lận, 9640 17th Ave. SW, Seattle, WA. 98106. Địa chỉ nói trên là của một cơ sở thương mãi có bảng hiệu ghi ” Hoi Truong Hung Dao”. Có hai của vào tại co sở này. Một cái đề là “AA surplus”. Cửa hiệu kia có bảng hiệu đề tên ” A Family Fun”. Dưới bảng hiệu A A Family Fun có một giấy quảng cáo của Vỏ Đường Vovinam Viet Vo Dao. Trên giấy quảng cáo có một tấm ảnh đề chử “Master Linh”. Địa chỉ trên giấy quảng cáo giống với địa chỉ ghi trên.

Cuộc điều tra đã xác định được là những lần rút tiền đã được thực hiện tại chi nhánh KeyBank số KB4263, 9655 17th Ave. SW, Seattle, WA. 98106, cách cơ sở của ông Thai một khu phố, là địa chỉ 9640 16th Ave. SW,SEattle, WA. 98106 là địa chỉ ghi trên cả 2 chương mục gian. Mỗi chương mục nói trên chỉ được cấp một thẻ rút tiền. Phần thu hình trong hệ thống an ninh của KeyBank cho thấy những bằng chứng là ông Thai là người rút tiền những lần trên.

Vào ngày 30 tháng 9 năm 2003, Th/tử Schoeder và Th/tử Maịjala tiếp xúc văn phòng Bộ Xả Hội West Seattle để phỏng vấn ông Thai. Trước khi phỏng vấn ông Thai, cô Patten và ông

 Trang 5

K Micka được cho xem phim thu hình tại máy rút tiền. Cả hai người đều xác nhận là người trong hình là ông Linh N. Thai

Cuộc phỏng vấn được thực hiện trong phòng họp của Bộ Xả Hội. Sxhhroeder và Mijala  tự giớithiệu họ với ông Thai sau khi ông ta được người giám thị Jim Micka, đưa qua phòng họp. Th/tử Schroeder báo cho ông Thai biết là lý do có cuộc phỏng vấn là vì Bộ Xả Hội bị mất cắp vì có người tạo hồ sơ gian. Ông Thai tỏ vẻ ngạc nhiên và quan tâm. Th/tử Ki jala cũng có mặt trong việc, huấn luyện v.v… Ông ta cho biết là ông ta là Chuyên Viên dịch vụ Tài Chánhvà ông đã làm việc tại sở này khoảng 2-3 năm. Ông ta có xin nghỉ không lương một năm trong khoảng thời gian này và sau đó trở lại làm việc với chức vụ hiện nay. Nhiệm vụ của ông ta là bảo quản các chương mục đặt ra để giúp đở những người nghèo khó cần được trợ cấp xả hội. Thường thì ông ta không mở chương mục mới, tuy nhiên, việc đó cũng tùy từng trường hợp. Nếu cần ông ta cũng mở được chương mục nhưng thường thì do phòng nhận đơn. Ông ta khai rằng ông ta chua mở chương mục nào trong vòng một năm. Khi được hỏi rằng ông có biết ai đã mở những chương mục gian để hưởng lợi hay không thì ông ta nói là ông không biết. Ông Thai nói rằng ông không có khó khăn tài chánh và trên phương diện này ông ta rất thoải mái. Trong quá khứ, ông ta có thành tích tín dụng xấu, nhưng hiện nay tình hình tài chánh ổn định và mọi việc đều ổn thoả. Ông ta có lập ra một cơ quan phục vụ thiếu niên để ông ta dạy vỏ cho các cháu. Cơ quan của ông ta được lập ra tại địa chỉ trên đường 16 Ave. SW, Seattle, ông ta trả tiền cho chủ phố để xử dụng nơi đó. Ông ta cũng tiết lộ là ai cũng có vấn đề nhưng không đi vào chi tiết là ông muốn nói gì.

Th/tử Schroeder thông báo cho ông Thai biết là cuộc điều tra cho thấy rằng ông ta là người

lập ra những chương mục gian lận đó và đang hưởng các phúc lợi của các chương mục đó.

Ông Thai nói rằng đây là một sự kinh ngạc đối với ông ta và không biết nói gì thêm.

Lúc 11:45 sáng, Th/tử Schroeder cho ong Thai biết về những quyền Hiến Định của ông ta và

ông Thai nói là ông ta hiễu những quyền đó. Ông Thái nói tiếng Anh giỏi, tiếng mẹ đẻ là tiếng

Việt. Khi được hỏi về các chương mục gian lận, ông toa nói rằng ông không biết người ta nói

gì. Khi bắt đầu cuộc phỏng vấn, ông Thai khai rằng mỗi người được cho một tên hiệu để vào

máy, tên hiệu này gồmnhững mẫu tự đầu trong họ của người đó và chử tắt của tên người đó.

Khi được cho thấy hồ sơ có tin tức về chương mục gian thứ nhất, có tên hiệu vào máy và địa

chỉ thương mãi của ông ta, ông ta nói là ông không giải thích được. Khi được cho thấy bảo sao

thư gửi đến người thụ hưởng, với các thông tin liên lạc của ông ấy thì ông ta nói là ông không

biết và người nào đó trong văn phòng có thể đả ghi tên ông ta vào đó. Ông ta khai là ông

không thể giải thích tại sao địa chỉ cơ sở thương mãi của ông ta nằm trong chương mục. Ông

Thai nói rằng ông ta không có nghi vấn nào về những hồ sơ đưa cho ông ta xem, trong đó có

đầy đủ những tin tức của ông ta nhưng ông ta không thể giải thích tại sao.Ông ta nói lắp bắp

trong suốt buổi phỏng vấn khi bị chất vấn về những chương mục này. Ông ta khai là ông ta

điếng hồn khi và rất sửng sốt và không có câu trả lời nào cuôi tai cho bất cứ điều nào. Ông ta

khai rằng những tin tức trong hồ sơ là không gì thể chối cải được nhưng ông ta không giải

thích được và không biết nói gì hơn.Ông Thai không bao giờ nhận là người mở các chương

mục đó, ông ta luôn luôn nói là ông ta khôngcó lời giải thích nào tốt.

 Trang 6

 Ông Thai chối rằng ông không bao giờ có thẻ rút tiền EBT của những chương mục trên. Khi

được cho xem những tấm ảnh tại máy rút tiền, ông ta nói ngay rằng ông là người trong ảnh.

Lúc 12:05 p.pm, ông Tahi bị bắt giữ về tội Trộm bằng cách Gian lận Welfare. Sau khi bị

còng, Th/tử Majala tìm thầy 2 thẻ “Washington Quest” EBT trong bóp của ông Thai cùng vài

biên nhận của KeyBank. Hai thẻ EBT này trùng với thẻ cấp cho mỗi chương mục gian. Một

trong những biên nhận của KeyBank được mang ra so với một trong hai thẻ EBT dùng ngày

rút tiền và bốn số cuối trên thẻ. Th/tử Majala hỏi ông Thai lần cuối cùng ông lấy tiền là khi nào.

Ông Thai nói là cách đó một tháng. Trong thời gian thẫm vấn không có lúc nào ông Thai xin

được nói chuyện với một luật sư.

Ông Thai bị bắt lúc 12:05 và được Cảnh Sát Viên Moore, số hiệu 1215, giải giao đến

Nhà Giam Quận King và bị tống giam về tội Trộm bang cách Gian Lận Welfare.

KẾT LUẬN:

Cuộc điều tra này là do sự kiện ông Linh N. Thai dùng địa vị của ông ta trong việc làm tại Bộ Xả

Hội Tiểu Bang Washington, để tạo ra các chương mục giả tạo để lấy tiền. Ông ta mở những

chương mục này dùng tên và số An Sinh Xả Hội giả khhông thể phối kiễm được với hệ thống vi

tinh của Sở An Sinh Xả Hội Liên Bang. Sau khi mở các chương mục gian này, ông Thai đã rút

tổng cộng một số tiền là $2,380.00 từ hai chương mục đó, trong khoảng thời gian từ tháng 6

năm 2003, khi có chương mục đầu tiên, đến khi kết thúc cuộc điều tra này vào tháng 9 năm 03.

Do đó, căn cứ vào những sự kiện và hoàn cảnh ghi trên, xin nộp đơn truy tố ông Thai về 1

khoản tội Cắp bbàng cách Gian Lận Welfare.

 Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật Washington nếu có điều chi gian dối, tôi cam

đoan là những lời khai trên thực sự đúng. Ký tên ngày 30 tháng 9 năm 2003 tại King County

Washington

Thám Tử R.A. Schroeder

 

About these ads

Một phản hồi

  1. [...] SÁU TRANG REPORT VỀ TỘI TRẠNG CỦA ÔNG THÁI NHẬT LĨNH ,NGƯỜI ĐỨNG RA THÀNH LẬP… [...]

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: