Viêt Nam! Việt Nam!tài liệu được giải mã

[7rel=o]

Bà Ngô Đình Nhu trả lời báo chí phương Tây năm 1882

ÂM MƯU BIẾN NGÀY QUỐC HẬN THÀNH NGÀY THUYỀN NHÂN?

                             

            QUỐC HẬN

ÂM MƯU BIẾN NGÀY QUỐC HẬN THÀNH NGÀY THUYỀN NHÂN?

Trần Gia Phụng

Sau bài “Ngày Quốc hận là ngày Quốc hận”, có nhiều e-mail hỏi người viết rằng tại sao lại có âm mưu biến ngày Quốc hận thành ngày Thuyền nhân? Câu hỏi nầy đáng lẽ phải hỏi thẳng những người âm mưu. Ở đây chúng tôi chỉ phỏng đoán lý do mà thôi. Sự phỏng đoán có thể thiếu sót, xin các bậc cao minh bổ túc thêm.

1. LÀM PHAI LẠT Ý NGHĨA NGÀY QUỐC HẬN

Ngày 30-4-1975 là ngày Cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam, áp đặt chế độ độc tài đảng trị trên toàn thể lãnh thổ Việt Nam. Chế độ cộng sản chà đạp tự do dân chủ, giết hại dân lành, gây nhiều tội ác, trong đó quan trọng nhất là tội phản quốc, nhượng đất, nhượng biển cho Trung Cộng để duy trì quyền lực. Vì vậy dân chúng tự động đặt tên ngày 30-4 là NGÀY QUỐC HẬN.

Sau ngày Quốc hận 30-4-1975, hàng triệu người Việt Nam đã bỏ nước ra đi tìm tự do. Khoảng nửa triệu người bỏ mình trên biển cả. Cộng sản chận bắt, bắn giết những người tìm cách vượt biên. Lúc đầu, cộng sản gọi người Việt vượt biên là tay sai Mỹ ngụy, chạy theo bơ sữa tư bản.

Dần dần, người Việt hải ngoại tập họp thành những cộng đồng lớn mạnh ở khắp nơi trên thế giới, nhất là ở Bắc Mỹ, Âu Châu và Úc Châu. Hàng năm cộng đồng người Việt hải ngoại gởi về hàng tỷ Mỹ kim để giúp đỡ thân nhân ở trong nước. Cộng sản liền uốn lưỡi, đổi giọng, gọi người Việt hải ngoại thành “khúc ruột ngàn dặm”. Tuy nhiên CSVN rất e ngại “khúc ruột ngàn dặm”, vì nhờ khoa học kỹ thuật tiến bộ, phương tiện truyền thông nhanh chóng, tất cả những tin tức ở trong nước được đưa ra nước ngoài dễ dàng. “Khúc ruột ngàn dặm” sẵn sàn tranh đấu, bảo vệ người Việt trong nước, gây trở ngại không ít cho cuộc đàn áp của độc tài cộng sản.

Đối phó với “khúc ruột ngàn dăm”, Bộ chính trị đảng CSVN đưa ra nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 26-3-2004 về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, để bằng tất cả các cách thu hút và nếu thu hút không được thì đánh phá các tổ chức, hội đoàn, cộng đồng người Việt hải ngoại, nhằm hóa giải, chận đứng tất cả các cuộc chống đối của người Việt hải ngoại.

Để thực hiện nghị quyết 36, CSVN đưa ra nhiều thủ đoạn thâm độc mà chúng ta không lường trước được. Có khi có người vô tình lạc vào những thủ đoạn của CSVN mà không biết. Âm mưu biến ngày Quốc hận làm ngày Thuyền nhân là một trong những âm mưu thâm độc của CSVN. Âm mưu nhằm hai mục đích: 1) Làm phai lạt dần dần ý nghĩa Ngày Quốc hận trong lòng người Việt hải ngoại, giảm nhẹ tội ác cho CSVN. 2) Tạo một đề tài gây tranh cãi và làm chia rẽ cộng đồng người Việt hải ngoại.

2.- VÔ HIỆU HÓA HỘI CỰU QUÂN NHÂN 

Ở hải ngoại có nhiều hội đoàn. Hội đoàn có tinh thần quốc gia, dân tộc, chống cộng mạnh mẽ, lại có quy củ, có tổ chức, hoạt động mạnh nhất ở bất cứ nước nào, địa phương nào, là hội Cựu Quân Nhân (CQN). Hằng năm, nếu nơi nào không có ban chấp hành cộng đồng, như ở Toronto (Canada) chẳng hạn, thì hầu như hội CQN được giao tổ chức ngày Quốc hận 30-4. Hoặc hội CQN phối hợp với các hội đoàn khác để cùng tổ chức. Luôn luôn hội CQN làm nòng cốt, thường có lễ chào cờ, rước quốc quân kỳ…

Hội Cựu Quân Nhân là hội giữ lửa cho Cộng đồng, hội mũi nhọn trong các cuộc biểu tình chống cộng. Mỗi năm hội CQN có hai hoạt động chính là tổ chức “Ngày Quốc hận” (30-4) và “Ngày Quân lực” (19-6). Nếu vận động được các địa phương biến ngày 30-4 thành ngày Thuyền nhân, thì lúc đó hội Cưu Quân Nhân không còn cần thiết, vì đối tượng chính trong buổi lẽ sẽ là thuyền nhân, thì thuyền nhân sẽ đứng ra phụ trách. Một Uỷ ban của các thuyền nhân sẽ đứng ra tổ chức Ngày Thuyền nhân 30-4 hằng năm, thay cho hội CQN.

Khi đó, hội CQN chỉ còn buổi lễ chính là mừng Ngày Quân lực. Là ngày vui thì chỉ có ăn uống, vui chơi, nhảy đầm. Từ vai trò giữ lửa chống cộng, hội CQN trở thành một món trang sức cho cộng đồng. Như thế là một cách vô hiệu hóa hội CQN, làm giảm bớt hoạt động của hội CQN, giảm bớt ngọn lửa đấu tranh chống cộng,. Cái thâm độc của cuộc vận động biến ngày Quốc hận 30-4 thành ngày Thuyền nhân nằm ở chỗ đó. Tuy nhiên vẫn chưa hết…

3.- TIÊU DIỆT TIỀM LỰC CHỐNG CỘNG 

Ngày Quốc hận 30-4 là ngày của toàn dân Việt, ở trong cũng như ngoài nước, trừ một thiểu số đảng viên. Vì vậy, hằng năm, vào ngày 30-4 ở hải ngoại, khắp nơi trên thế giới đều tổ chức lễ Kỷ niệm Ngày Quốc hận. Rất đông người đến tham dự, có thể nói là đông đảo nhất trong năm. Kỷ niệm Quốc hận hằng năm nhằm nhắc nhở ngày tang thương của dân tộc, tưởng niệm những anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì chính nghĩa quốc gia, những đồng bào đã bỏ mình trên đường tìm tự do, và những tù nhân chính trị đã và đang bị đày đọa đến chết trong các trại tù cộng sản. Kỷ niệm Quốc hận 30-4 cũng là dịp cho Cộng đồng Người Việt hải ngoại lên tiếng đòi hỏi dân chủ tự do cho đồng bào ở trong nước. Nói cách khác, ngày 30-4 là ngày tưởng niệm và cũng là ngày tranh đấu.

Trong khi đó, số người thực sự là thuyền nhân hiện nay, một mặt so với dân số toàn quốc thì quá ít vì ở trong nước không có thuyền nhân, và một mặt khác so với tổng số người Việt ở hải ngoại, số thuyền nhân hiện nay chỉ bằng khoảng một phần tư (1/4) hay một phần năm (1/5) mà thôi.

Nếu ngày 30-4 hằng năm là Ngày Thuyền nhân, thì những người không phải là thuyền nhân có thể không đến dự các buổi lễ ngày 30-4, vì không liên quan đến họ. Số người tham dự các buổi lễ kỷ niệm sẽ giảm đi và có thể giảm đi rất nhiều. Như thế, dần dần ngày 30-4 sẽ phai lạt dần. Từ đó, tinh thần đấu tranh chống cộng sản bạo tàn, đòi hỏi tự do dân chủ cho Việt Nam của cộng đồng người Việt hải ngoại sẽ càng ngày càng xuống giốc.

Hơn nữa, một ngày kia, những thuyền nhân sẽ lần lượt qua đời, sẽ không còn thuyền nhân trên thế giới, thì Ngày Thuyền nhân cũng tàn lụi theo. Lúc đó chắc chắn Ngày Thuyền nhân sẽ chẳng còn ai chú ý, chẳng còn ai cử hành, nghĩa là ngày 30-4 cũng sẽ mất tích luôn.

Tóm lại, âm mưu biến đổi Ngày Quốc hận 30-4 thành Ngày Thuyền nhân phát xuất từ ý đồ của CSVN, nhằm làm giảm nhẹ tội ác của cộng sản, triệt tiêu hoạt động của Hội CQN và dần dần làm biến mất ngày Quốc hận, tiêu diệt tiềm lực chống cộng của cộng đồng người Việt hải ngoại. Âm mưu nầy được tay chân của cộng sản, cùng một số tên thân cộng ở hải ngoại tìm cách thực hiện để mưu lợi, trao đổi buôn bán với cộng sản. Tuy nhiên, dầu cố gắng cách nào đi nữa, âm mưu nầy cũng không thể thành công được, vì lịch sử là những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ, không ai có thể sửa đổi được lịch sử, nhất là một khi đã được khắc ghi vào bia miệng thế gian. “Trăm năm bia đá thì mòn,/ Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.”

Ở trong nước, CSVN tham nhũng, bóc lột, cướp đất dân lành, nhượng đất nhượng biển cho Trung cộng, đàn áp dân quyền và nhân quyền, bắt bớ, giam cầm những nhà tranh đấu dân chủ bất bạo động, những người yêu nước biểu tình chống Trung cộng xâm lược. Ở hải ngoại, đời sống đầy đủ, tự do dân chủ, lại có những kẻ không nghĩ đến tương lai dân tộc, không nghĩ đến đồng bào đang đau khổ vì CS ở trong nước, mà chỉ vì một chút danh lợi nhỏ nhoi, tiếp tay tuyên truyền cho CSVN, tiếp tục duy trì nạn độc tài toàn trị trên quê hương Việt Nam, thì tội lỗi nầy cũng không kém gì tội lỗi của CSVN.

SLEEPING WITH THE ENEMY

Xin mời quí vị đọc một bài viết của một cựu Sĩ Quan Hoa Kỳ đã tửng chiến đấu trên chiến trường Việt Nam, cựu Bộ Trưởng Hải Quân Hoa Kỳ và hiện là Thượng Nghị Sĩ Liên Bang của Hoa Kỳ. Quan điểm về cuộc chiến Việt Nam . Thú thật, cho đến bây giờ mới thấy một người Mỹ trí thức có đầy đủ hiểu biết về cuộc chiến Việt Nam đã viết một bài chân thật, rất đáng kính trọng và rất đáng đưa vào lịch sử của Hoa Kỳ để cho con cháu Hoa Kỳ được hiểu rõ hơn cuộc chiến Việt Nam mà trước đây những kẻ viết lịch sử Hoa Kỳ đã thiếu dữ kiện sống để viết. THG

Sleeping With the Enemy
By James Webb

Biết giải thích như thế nào với những đứa con của tôi rằng khi tôi mười mấy, đôi mươi, những tiếng nói ồn ào nhất của những người cùng tuổi, cùng thời với tôi lại nhắm mục đích phá nát những nền tảng của xã hội Hoa Kỳ, để xây dựng lại một xã hội dựa theo quan điểm đầy tự mãn của họ. Giờ đây nhìn lại, ngay cả chúng ta, những người đã trải qua giai đoạn này, cũng không hiểu được tại sao lại có những kẻ với trình độ học vấn cao, đa số sinh ra từ gia đình thượng lưu, lại có thể gieo rắc những tư tưởng phá hoại làm nhiễm độc bầu không khí của thập niên 1960 và những năm đầu của thập niên 1970. Ngay cả Quốc Hội cũng bị nhiễm những con vi khuẩn nầy.

Sau khi Tổng Thống Nixon từ chức vào tháng Tám 1974, cuộc bầu cử mùa Thu năm ấy mang lại 76 tân Dân Biểu thuộc đảng Dân Chủ và 8 Thượng Nghị Sĩ. Đại đa số những dân cử chân ướt, chân ráo này đã tranh cử dựa trên cương lãnh của Mc Govern. Nhiều người trong số họ được xem như những ứng viên yếu kém trước khi Nixon từ chức, vài người không xứng đáng thấy rõ, chẳng hạn như Tom Downey, 26 tuổi, thuộc New York, người chưa từng có một nghề ngỗng gì và vẫn còn ở nhà với mẹ.

Cái gọi là Quốc Hội hậu Watergate này diễu hành vào thành phố với một sứ mệnh vô cùng quan trọng mà sau này trở thành điểm tập hợp cho cánh Tả của Hoa Kỳ: Chấm dứt sự giúp đỡ của nước Mỹ dưới bất kỳ hình thức nào cho chính quyền đang bị vây khốn Nam Việt Nam. Không nên lầm lẫn ở chỗ này – đây không phải là sự kêu gào thanh niên Mỹ đừng đi vào cõi chết của những năm trước đây. Những người lính Mỹ cuối cùng đã rời khỏi Việt Nam hai năm trước rồi, và đã tròn bốn năm không có một người Mỹ nào bị tử trận.

Bởi những lý do mà không một viện dẫn lịch sử nào có thể bào chữa được, ngay cả sau khi quân đội Mỹ triệt thoái, cánh Tả vẫn tiếp tục những cố gắng để đánh gục nền Dân Chủ còn phôi thai của Nam Việt Nam. Phụ tá sau này của Nhà Trắng Harold Ickes và nhiều người khác trong “Chiến Dịch Kiểm Soát Tài Chánh” – có một lúc được giúp đỡ bởi một người tuổi trẻ nhiều tham vọng: Bill Clinton – làm việc để cắt toàn bộ những khoản tài trợ của Quốc Hội nhằm giúp miền Nam Việt Nam tự bảo vệ. Liên Hiệp Hoà Bình Đông Dương, điều hành bởi David Dellinger và được quảng bá bởi Jane Fonda và Tom Hayden, phối hợp chặt chẽ với Hà Nội suốt năm 1973 và 1974, đi khắp các khuôn viên đại học Mỹ, tập hợp sinh viên để chống lại điều được cho là những con ác quỷ trong chánh quyền Nam Việt Nam. Những đồng minh của họ trong Quốc Hội liên tục thêm vào những tu chính án để chấm dứt sự viện trợ của Hoa Kỳ cho những người Việt Nam chống Cộng Sản, ngăn cấm cả đến việc sử dụng không lực để giúp những chiến binh Nam Việt Nam đang bị tấn công bởi các đơn vị bộ đội chánh quy Bắc Việt được khối Sô Viết và Trung Cộng yểm trợ.

Rồi đến đầu năm 1975 Quốc Hội Watergate giáng một đơn chí tử xuống các nước Đông Dương không Cộng Sản. Tân Quốc Hội lạnh như băng từ chối lời yêu cầu gia tăng quân viện cho miền Nam Việt Nam và Cam Bốt của Tổng Thống Gerald Ford. Ngân khoản dành riêng này sẽ cung cấp cho quân đội Cam Bốt và Nam Việt Nam đạn dược, phụ tùng thay thế, và vũ khí chiến thuật cần thiết để tiếp tục cuộc chiến tự vệ. Bất chấp sự kiện là Hiệp Định Paris 1973 đặc biệt đòi hỏi phải cung cấp “viện trợ để thay thế trang thiết bị quân sự vô giới hạn” cho Nam Việt Nam, đến tháng Ba phe Dân Chủ trong Quốc Hội biểu quyết với tỷ số áp đảo, 189-49, chống lại bất kỳ viện trợ quân sự bổ sung cho Nam Việt Nam và Cam Bốt.

Trong các cuộc tranh luận, luận điệu của phe Tả phản chiến gồm toàn những lời lên án các đồng minh đang bị chiến tranh tàn phá của Hoa Kỳ. Và đầy những hứa hẹn về một tương lai tốt đẹp cho các quốc gia này dưới sự cai trị của chế độ Cộng Sản. Rồi dân biểu Christopher Dodd, tiêu biểu cho sự ngây thơ hết thuốc chữa của các đồng viện, lên giọng đầy điệu bộ “gọi chế độ Lon Nol là đồng minh là làm nhục chữ nghĩa… Tặng vật lớn nhất mà đất nước chúng ta có thể trao cho nhân dân Cam Bốt là hòa bình, không phải súng. Và cách tốt nhất để đạt được mục đích này là chấm dứt viện trợ quân sự ngay lập tức.”

Sau khi trở thành chuyên gia đối ngoại trong vòng chỉ có hai tháng kể từ lúc thôi bú mẹ, Tom Downey chế diễu những cảnh cáo về tội ác diệt chủng sắp sửa xảy ra ở Cam Bốt, cái tội ác đã giết hơn một phần ba dân số của quốc gia này, như sau: “Chính phủ cảnh cáo rằng nếu chúng ta rời bỏ các quốc gia ấy thì sẽ có tắm máu. Nhưng những cảnh cáo cho việc tắm máu trong tương lai không thể biện minh cho việc kéo dài việc tắm máu hiện nay.”

Trên chiến trường Việt Nam việc chấm dứt viện trợ quân trang, quân cụ là một tin làm kinh ngạc và bất ngờ. Các cấp chỉ huy quân đội của miền Nam Việt Nam đã được đảm bảo về việc viện trợ trang thiết bị khi người Mỹ rút quân – tương tự như những viện trợ Hoa Kỳ vẫn dành cho Nam Hàn và Tây Đức – và đảm bảo rằng Hoa Kỳ sẽ tái oanh tạc Bắc Việt, nếu Bắc Việt tấn công miền Nam, vi phạm hiệp định Paris 1973. Bây giờ thì họ đang mở mắt trừng trừng nhìn vào một tương lai bất định khủng khiếp, trong lúc khối Sô Viết và Trung Cộng vẫn tiếp tục yểm trợ cho Cộng Sản Bắc Việt.

Trong lúc quân đội Nam Việt Nam, vừa choáng váng vừa mất tinh thần, tìm cách điều chỉnh lại lực lượng để đối phó với những sự thiếu thốn trang thiết bị cần thiết, quân đội chính quy miền Bắc được tái trang bị đầy đủ lập tức phát động cuộc tổng tấn công. Bắt giữ được nhiều đơn vị bị cô lập, quân Bắc Việt tràn xuống vùng đồng bằng trong vòng có 55 ngày.

Những năm về sau, tôi đã phỏng vấn những người lính miền Nam Việt Nam còn sống sót trong những cuộc giao tranh, nhiều người đã bị trải qua hơn chục năm trong các trại tù tập trung của Cộng Sản sau khi cuộc chiến chấm dứt. Những điệp khúc này không bao giờ chấm dứt:

“Tôi không còn đạn dược.”

“Tôi chỉ còn 3 quả đạn pháo cho mỗi khẩu một ngày.”

“Tôi không còn gì để phát cho binh sĩ của tôi.”

“Tôi phải tắt máy truyền tin, bởi vì tôi không thể nào chịu đựng được nữa khi phải nghe những lời kêu gọi xin tiếp viện.”

Phản ứng của Hoa Kỳ trước sự xụp đổ này cho thấy có hai nhóm khác nhau, và điều này vẫn còn tiếp tục được thấy rõ trong nhiều vấn để mà chúng ta đang phải đương đầu ngày nay. Đối với những người đã từng chiến đấu ở Việt Nam, và đối với gia đình, bạn bè, và những người cùng quan điểm chánh trị với họ, đây là là một tháng đen tối và tuyệt vọng.

Những khuôn mặt mà chúng ta thấy đang chạy trốn sự tấn công của Bắc Việt là những khuôn mặt rất thật và quen thuộc, không phải đơn thuần là những hình ảnh truyền hình. Những thân người xoay trong không gian như những bông tuyết, rơi xuống chết thảm khốc sau khi họ đeo và bám vào thân trực thăng hay phi cơ một cách tuyệt vọng, có thể là những người chúng ta quen biết hoặc đã từng giúp đỡ. Ngay cả đối với những kẻ không còn niềm tin vào khả năng đánh bại Cộng Sản, đây không phải là cách để chấm dứt cuộc chiến.

Đối với những kẻ từng trốn tránh cuộc chiến và lớn lên tin rằng đất nước chúng ta là quỷ dữ, và ngay cả khi họ thơ mộng hoá những ý định của người Cộng Sản, những tuần lễ sau cùng này đã chối bỏ trách nhiệm của mình trong sự xụp đổ này bằng những phê phán quân đội Nam Việt Nam đầy tính sa lông, hay là công khai reo mừng.

Ở trung tâm Luật Khoa của đại học Georgetown nơi tôi đang theo học, việc Bắc Việt trắng trợn ném bỏ các điều cam kết về hòa bình và bầu cử trong hiệp định Paris 1973, và tiếng xe tăng của Bắc Việt trên đường phố Sài Gòn được xem như là một cái cớ để thực sự ăn mừng.

Sự chối bỏ trách nhiệm vẫn còn tràn lan trong năm 1997. Thực ra cái kết cuộc này chính là mục tiêu của phong trào phản chiến đã cố gắng không ngừng nghỉ trong những năm theo sau sự rút quân của Mỹ. George McGovern, thẳng thắn hơn nhiều người, công khai tuyên bố với người viết trong lúc nghỉ khi thâu hình cho chương trình “Crossfire” của CNN vào năm 1995. Sau khi tôi đã lý luận rằng cuộc chiến rõ ràng là có thể thắng được ngay cả vào giai đoạn cuối nếu chúng ta thay đổi chiến lược của mình, ứng cử viên Tổng Thống năm 1972, người tình nguyện đi Hà Nội bằng đầu gối, đã bình luận rằng: “Anh không hiểu là tôi KHÔNG MUỐN chúng ta chiến thắng cuộc chiến đó sao?” Ông McGovern không chỉ có một mình. Ông ta là phần tử của một nhóm nhỏ, nhưng vô cùng có ảnh hưởng lớn trong chính trường. Sau cùng họ đã đạt được điều họ muốn.

Có lẽ không còn minh chứng nào lớn hơn cho không khí hân hoan chung quanh chiến thắng của Cộng Sản là giải thưởng điện ảnh năm 1975, được tổ chức vào ngày 8 tháng 4, ba tuần trước khi miền Nam xụp đổ.

Giải phim tài liệu hay nhất được trao cho phim Hearts and Minds, một phim tuyên truyền độc ác tấn công những giá trị văn hóa Hoa Kỳ cũng như những cố gắng của chúng ta để hỗ trợ cho sự chiến đấu cho nền Dân Chủ của miền Nam Việt Nam. Các nhà sản xuất Peter Davis và Bert Schneider (người thủ diễn một vai trong câu chuyện của David Horowitz) cùng nhau nhận giải Oscar.Schneider thẳng thừng trong việc công nhận sự ủng hộ những người Cộng Sản của mình.

Đứng trước máy vi âm ông ta nói:

“Thật là ngược đời khi chúng ta đang ở đây, vào thời điểm mà Việt Nam sắp được giải phóng.”

Rồi giây phút đáng kinh ngạc nhất của Hollywood xảy ra – dù giờ đây đã được họ cố tình quên đi. Trong lúc quốc gia Việt Nam, mà nhiều người Mỹ đã đổ máu và nước mắt để bảo vệ, đang tan biến dưới bánh xích của xe tăng, Schneider lôi ra một điện tín được gởi từ kẻ thù của chúng ta, đoàn đại biểu Cộng Sản Việt Nam ở Paris, và đọc to lên lời chúc mừng cho phim của mình. Không một phút giây do dự, những kẻ nhiều quyền lực nhất của Hollywood đứng dậy hoan nghênh việc Schneider đọc bức điện tín này.

Chúng ta, những người đã từng chiến đấu ở Việt Nam hoặc là những người ủng hộ những cố gắng ở đó, nhìn lại cái khoảnh khắc này của năm 1975 với sự sửng sốt không nguôi và không bao giờ quên được. Họ là ai mà cuồng nhiệt đến thế để đầu độc cái nhìn của thế giới về chúng ta? Sao họ lại có thể chống lại chính những người đồng hương của mình một cách dữ tợn đến thế? Sao họ có thể đứng dậy để hoan nghênh chiến thắng của kẻ thù Cộng Sản, kẻ đã làm thiệt mạng 58,000 người Mỹ và đè bẹp một đồng minh chủ trương ủng hộ Dân Chủ? Làm sao có thể nói rằng chúng ta và họ đang sống trong cùng một đất nước?

Từ lúc ấy đến nay, không một lời nào của Hollywood nói về số phận của những con người biến mất sau bức màn tre của Việt Nam . Không ai đề cập đến những trại tù tập trung cải tạo mà hàng triệu chiến binh miền Nam Việt Nam đã bị giam giữ, 56,000 người đã thiệt mạng, 250,000 bị giam hơn 6 năm, nhiều người bị giam đến 18 năm. Không người nào chỉ trích việc cưỡng bách di dân, tham nhũng, đàn áp những người bất đồng chính kiến, cướp đất, cướp nhà của dân hay là chế độ Công An trị mà hiện vẫn còn đang tiếp diễn. Thêm vào đó, ngoại trừ phim Hamburger Hill có ý tốt nhưng kém về nghệ thuật, người ta chỉ hoài công nếu muốn tìm một phim thuộc loại có tầm vóc diễn tả các chiến binh Hoa Kỳ ở Việt Nam với đầy đủ danh dự và trong những khung cảnh có thật.

Tại sao? Bởi vì cộng đồng làm phim, cũng như những kẻ thuộc loại đỉnh cao trí tuệ trong xã hội, chưa bao giờ yêu thương, kính phục, hay ngay cả thông cảm với những con người đã nghe theo tiếng gọi của đất nước, lên đường phục vụ. Và vào lúc mà một cuộc chiến âm thầm nhưng không ngừng nghỉ đang diễn ra về việc lịch sử sẽ ghi nhớ đất nước chúng ta tham dự ở Việt Nam như thế nào? Những kẻ chế diễu chính sách của chính quyền, trốn lính, và tích cực ủng hộ kẻ thù, cái kẻ thù mà sau cùng trở nên tàn độc và thối nát, không muốn được nhớ đến như là những kẻ quá đỗi ngây thơ và lầm lẫn.

Giữa những người dân Mỹ bình thường, thái độ của họ trong khoảng thời gian rối ren này lành mạnh hơn nhiều. Đằng sau những tin tức bị thanh lọc và những bóp méo về Việt Nam, thực tế là những công dân của chúng ta đồng ý với chúng ta, những người đang chiến đấu, hơn là với những kẻ làm suy yếu cuộc chiến đấu này. Khá thú vị là điều nầy đặc biệt đúng với tuổi trẻ Mỹ, mà giờ đây vẫn còn được mô tả như là thành phần nổi loạn chống chiến tranh.

Như được tường trình lại trong bài: “Ý Kiến Quần Chúng”, những kết quả thăm dò của Gallup từ năm 1966 cho đến khi Hoa Kỳ chấm dứt sự tham dự chiến tranh ỏ Việt Nam cho thấy tuổi trẻ Mỹ thực ra ủng hộ cuộc chiến Việt Nam lâu bền hơn bất cứ lứa tuổi khác. Ngay cả cho đến tháng 1 năm 1973, khi 68 phần trăm dân Mỹ trên 50 tuổi tin rằng chuyện gởi quân sang Việt Nam là một sai lầm, chỉ có 49 phần trăm những người tuổi từ 25 đến 29 đồng ý. Những phát hiện này cho thấy giới trẻ nói chung rõ ràng là không cực đoan, điều này đã được củng cố thêm bằng kết quả bầu cử năm 1972 – trong đó lứa tuổi từ 18 đến 29 ưa thích Richard Nixon hơn là George McGovern bằng tỷ lệ 52% so với 46 phần trăm.

Tương tự như vậy, mặc dù trong quá khứ những người chống đối này, mà ngày nay đang thống lãnh giới báo chí và giới khoa bảng, đã khăng khăng nói ngược với thực tế, sự xâm nhập vào Cam Bốt năm 1970 đã được ủng hộ quần chúng mạnh mẽ. Sự xâm nhập này đã gây ra sự phản đối rộng khắp ở các sân trường đại học, kể cả một vụ xung đột làm cho bốn người chết ở Kent State University . Theo những kết quả thăm dò dư luận của Harris gần 6 phần 10 dân Mỹ tin rằng sự xâm nhập vào Cam Bốt là đúng đắn. Đa số được hỏi ý kiến, trong cùng bản thăm dò này vào tháng 5 năm 1970, ủng hộ tái oanh tạc Bắc Việt, một thái độ cho thấy sự bác bỏ hoàn toàn phong trào phản chiến.

Các cựu chiến binh Việt Nam, dù bị bôi bẩn thường xuyên trên phim ảnh, trong các bản tin, và trong các lớp học, như là những chiến binh miễn cưỡng và thất bại, vẫn được những người dân Mỹ bình thường tôn trọng. Trong một nghiên cứu toàn diện nhất từ trước đến giờ về những cựu chiến binh Việt Nam (Harris Survey, 1980, ủy quyền bởi Veterans Administration) , 73 phần trăm công chúng và 89 phần trăm cựu chiến binh Việt Nam đồng ý với câu phát biểu: “Vấn đề rắc rối ở Việt Nam là QUÂN ĐỘI CHÚNG TA ĐƯỢC YÊU CẦU CHIẾN ĐẤU TRONG MỘT CUỘC CHIẾN MÀ CÁC LÃNH TỤ CHÍNH TRỊ Ở WASHINGTON KHÔNG CHO HỌ ĐƯỢC PHÉP CHIẾN THẮNG”, 70 phần trăm những người từng chiến đấu ở Việt Nam không đồng ý với câu phát biểu: “Những gì chúng ta gây ra cho nhân dân Việt Nam thật đáng xấu hổ.” Trọn 91 phần trăm những người đã từng phục vụ chiến đấu ở Việt Nam nói rằng họ hãnh diện đã phục vụ đất nước, và 74 phần trăm nói rằng họ thấy thoải mái với thời gian ở trong quân đội. Hơn nữa, 71 phần trăm những người phát biểu ý kiến cho thấy họ sẵn sàng chiến đấu ở Việt Nam một lần nữa, ngay cả nếu biết rằng cái kết quả chung cuộc vẫn như thế và sự giễu cợt sẽ đổ lên đầu họ khi họ trở về.

Bản thăm dò này còn có cái gọi là “nhiệt kế đo cảm giác,” để đo lường thái độ của công chúng đối với những nhóm người khác nhau, với thang điếm từ 1 đến 10. Cựu chiến binh từng phục vụ ở Việt Nam được chấm điểm 9.8 trên thang điểm này. Bác sĩ được 7.9, phóng viên truyền hình 6.1, chánh trị gia 5.2, những người biểu tình chống chiến tranh 5.0, kẻ trốn quân dịch và chạy sang Canada được cho 3.3.

Trái ngược với những câu chuyện huyền thoại được dai dẳng phổ biến, hai phần ba những người phục vụ ở Việt Nam là quân tình nguyện chứ không phải bị động viên, và 77 phần trăm những người tử trận là quân tình nguyện. Trong số những người tử trận: 86 phần trăm là da trắng, 12.5 phần trăm người Mỹ gốc Phi Châu và 1.2 phần trăm thuộc các chủng tộc khác. Những cáo buộc rất phổ biến như là chỉ có dân thuộc các nhóm thiểu số và người nghèo được giao cho những công tác khó khăn trong quân đội khi ở Việt Nam là điều sai lạc. Sự bất quân bình trong cuộc chiến, thực ra chỉ đơn giản là do những thành phần đặc quyền đặc lợi trốn tránh trách nhiệm của mình, và chính những người này kể từ thời gian ấy đã kiên trì bôi bẩn những kinh nghiệm về cuộc chiến để nhằm tự bào chữa cho chính mình, phòng khi sau này sẽ bị lịch sử phán xét.

Thế còn những kẻ không những đã hiểu sai ý nghĩa một cuộc chiến, mà còn không hiểu nổi dân tộc của mình, những kẻ thuộc thành phần tinh hoa của xã hội đó bây giờ ra sao? Bây giờ họ đang ở đâu nếu không phải ở trong tòa Bạch Ốc? Trên vấn đề lịch sử quan yếu này, cái vấn đề đã xác định thế hệ của chúng ta, họ dấu mình thật kín. Họ nên dấu mình như thế.

Đối với những kẻ đã đem cuộc hành trình tuổi trẻ đánh bạc trên cái ý tưởng rằng tổ quốc mình là một lực lượng ác quỷ, sau khi nhận ra sự ngây thơ của mình trong những năm sau năm 1975, chắc họ phải có một cảm giác rất kinh khủng. Thật là sáng mắt, sáng lòng cho những kẻ đã tỉnh thức, đã tự vượt qua được phản ứng chối tội, để chứng kiến cảnh tượng hàng trăm ngàn người dân miền Nam Việt Nam chạy trốn “ngọn lửa tinh nguyên của cách mạng” trên những con tàu ọp ẹp, sự chạy trốn mà chắc chắn 50 phần trăm đã vùi thây dưới đáy biển, hoặc là nhìn thấy những hình ảnh truyền hình của hàng ngàn chiếc sọ người Cam Bốt nằm lăn lóc trên những cánh đồng hoang, một phần nhỏ của hàng triệu người bị giết bởi những người Cộng Sản “giải phóng quân.”

Thực vậy, chúng ta hãy thẳng thắn nhìn nhận. Thật đáng tủi nhục biết bao khi nhìn vào khuôn mặt của một thương binh, hay là nghe diễn từ tốt nghiệp của một học sinh thủ khoa người Mỹ gốc Việt Nam, mà người cha quá cố của em đã chiến đấu bên cạnh những người Mỹ, cho một lý tưởng mà bọn họ công khai mỉa mai, chế diễu, và xem thường. Và thật là một điều đáng xấu hổ khi chúng ta có một hệ thống chínhquyền đã để cho em học sinh đó thành công nhanh chóng ở đây, mà lại không thực hiện được một hệ thống như vậy ở quê hương của em.

THG chuyển ngữ

TUYÊN BỐ CỦA CHÍNH PHỦ VNCH NGÀY 26 THÁNG 4 NĂM 1958……

Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ngày 26 Tháng 4 năm 1958 về thắc mắc trong vấn đề tái thống nhất đất nước

Nguyen Hoi

October 20, 20110 Bình Luận

Kính thưa Quí Vị,

Từ hai năm qua, vào cuối tháng 10 hoặc đầu tháng 11 tôi đều đóng góp một bài viết về nền Đệ Nhất Cộng Hoà. Với hai bài „Thời nào Dân Việt sướng nhất“ chúng ta đã cùng so sánh đời sống đại đa số dân chúng trong ba thời kỳ Đệ Nhất, Đệ Nhị Cộng hoà và XHCN. Kết quả cho thấy, mặc dù dưới thời Đê Nhất Cộng hoà số tiền viện trợ ngoại quốc vào Việt Nam thấp nhất nhưng tiền lương người dân laođộng, là thành phần chiếm đa số trong xã hội Việt Nam, cao trội hơn một cách rõ ràng với Đệ Nhị Cộng hoà và đặc biệt là với thời XHCN, mặc dù khoảng cách đã gần 50 năm.

Nhân tìm được trong thư viện một trường Đại học Đức “Bản Tuyên Bố của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà ngày 26.04.1958 về thắc mắc trong vấn đề tái thống nhất đất nước” bằng tiếng Đức, tôi “ngấu nghiến” đọc và nhận thấy Bản Tuyên Bố có lập luận chặt chẽ, lời lẽ nhẹ nhàng nhưng diễn được suy nghĩ đanh thép của những người lãnh đạo thời đó. Những lập luận luôn được kèm theo thí dụ các sự kiện đã xảy ra làm người đọc, cho dù chưa sống dưới chế độ cộng sản, cũng có thể hiểu được thực trạng của chế độ cộng sản và lý do nào khiến người cộng sản miền Bắc đã chia đôi đất nước và sau đó đòi hỏi một cuộc tổng tuyển cử để tái thống nhất đất nườc với một Việt Nam Cộng Hoà tự do và trù phú chỉ sau gần 4 năm tái kiến thiết sau ngày Hiệp định Genève được ký kết.

Một điều đáng chú ý là năm 1958 Việt Nam Cộng hoà chưa có Đại sứ, mới chỉ có Sứ Thần tại CHLB Đức, nhưng các Vị Tiền bối cũng đã cho dịch dịch Bản Tuyên bố của Chính phủ ra tiếng Đức và cho phổ biến đến các trường đại học. Qua đó cho thấy, Bản Tuyên bố này đã được phổ biến ở nhiều quốc gia khác nơi VNCH có cơ sở ngoại giao.

Do tầm quan trọng của Bản Tuyên bố, tôi dịch bản Tuyên bố trên ra tiếng Việt để mọi người chúng ta cùng tham khảo và hãnh diện rằng, nước Việt Nam đã một thời có những người lãnh đạo đất nước không những chỉ thực sự vì nước vì dân mà còn rất khôn ngoan. Với đường lối chính trị và phương thức đấu tranh của Chính phủ Đệ nhất VNCH, chắc chắn miền Nam đã không rơi vào tay người cộng sản mà ngược lại có lẽ cả nước Việt Nam ngày nay đã được thống nhất theo mô hình của Đức và người dân Việt không phải lam lũ làm tôi mọi cho giai cấp thống trị mại bản đỏ, người con gái Việt không phải vong thân cho ngoại bang dày vò thể xác để mong được sống qua ngày, mà chúng ta đã là những con người tự tin, hiên ngang như các dân tộc Nhật bản, Đại hàn, Đài loan, Singapore vv….

Công việc dịch ra tiếng Việt từ ngoại ngữ chắc chắn không thể diễn tả hoàn toàn hết được ý tưởng của bản văn tiếng Việt. Xin Quí Vị niệm tình tha thứ nếu có sơ xót.

Kính mến

Nguyễn Hội

 Vietnamese refugees left the newly created communist North Vietnam during Operation Passage to Freedom (October 1954).

 Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ngày 26 Tháng 4 năm 1958 về thắc mắc trong vấn đề tái thống nhất đất nước

  Trong bức thư đề ngày 7 tháng ba năm1958, được sử dụng với mục đích tuyên truyền – bởi vì văn bản được phát đi ngay lập tức bởi Đài phát thanh Hà Nội và Đài phát thanh Bắc Kinh – Nhà chức trách Hà Nội đưa đề nghị „thiết lập quan hệ bình thường“, đề nghị xem xét vấn đề tái thống nhất đất nước, hạn chế quân sự và giao thương giữa hai vùng.

Mặc dù đồng bào chúng tôi ở miền Nam và miền Trung Việt Nam đã được thông báo về tính chất lừa đảo của tuyền truyền cộng sản, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cũng phải có trách nhiệm giải thích cho đồng bào ở miền Bắc, những người đang bị cô lập với mọi thông tin xác thực và dư luận thế giới, các mâu thuẫn giữa tuyên bố và hành động của nhà chức trách Hà Nội cùng thực trạng bất lương về những cáo buộc của họ.

 Vấn đề thống nhất đất nước và cuộc bầu cử chung

  Xin nhớ rằng, Chính phủ chúng tôi đã luôn luôn bảo vệ sự thống nhất của đất nước. Trong Hội nghị Genève năm 1954, phái đoàn Việt Nam đã phản đối mạnh mẽ chống lại ý định của cộng sản Việt Nam. Phái đoàn chúng tôi đã chống việc chia ly tạm thời của đất nước. Chúng tôi đã đề xuất việc thu các đơn vị quân sự của cả hai bên vào một số khu vực hạn chế và sau đó tổ chức cuộc bầu cử tự do dưới sự kiểm soát của Liên Hiệp Quốc. Phái đoàn Cộng sản đã bác bỏ đề nghị trên, họ đòi hỏi chia đất nước từ vĩ tuyến 17 nhằm đạt dân số trội hơn miền Nam. Sau cuộc trốn chạy của hơn một triệu người tị nạn về miền Nam, tại miền Bắc vẫn còn hơn 13 triệu người so với 11 triệu người dân sinh sống trong miền Nam.

Nhờ vào chế độ công an trị và quân đội lớn hơn so với Việt Nam Cộng hòa, cộng sản tin rằng họ có thể ép dân chúng miền Bắc, dân số cao hơn, bỏ phiếu bầu cho họ ngõ hầu chế độ cộng sản có thể thống trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam và như thế, nền hoà bình trong vùng Đông Nam Á sẽ bị đe doạ.

Từ ý tưởng này người cộng sản đòi hỏi thực hiện một cuộc Phổ thông đầu phiếu tại Việt Nam, trong khi họ luôn từ chối các cuộc bầu cử tự do tại Đức và Đại Hàn, bởi vì trong hai quốc gia này dân số trong vùng họ kiểm soát ít hơn so với các khu vực tự do; do đó họ không có cơ hội để thực hiện ý đồ đen tối của mình.

Thái độ mâu thuẫn của cộng sản về vấn đề thống nhất đất nước ở các quốc gia bị phân chia cho thấy động cơ thầm kín của họ nhằm thực hiện những cuộc bầu cử không tự do và không thành thật.

Mặc dù nhà chức trách Hà Nội đòi hỏi cuộc bầu cử chung, nhưng họ lại không tổ chức một cuộc bầu cử tự do trong vùng tạm kiểm soát của mình để canh tân cái gọi là Quốc hội của họ. Quốc hội này bao gồm một số thành viên được chỉ định và một số thành viên được bầu trong sự hỗn loạn của năm 1946, hiện nay phải đối mặt với thực tế là một số thành viên đã bỏ chạy về miền Nam. Theo quyđịnh trong Hiến pháp của họ, một bản Hiến pháp được hoàn thành không có sự tranh luận, trong một phiên họp chỉ kéo dài có một ngày, thì nhiệm vụ những đại biểu của Quốc hội này đã được chấm dứt từ hơn 8 năm nay rồi. Cộng sản Việt Nam dođó đã không tôn trọng hiến pháp của chính họ. Đồng thời họ đã thiết lập chế độ Cộng sản ở miền Bắc, mà không trưng cầu ý dân. Và họ không bao giờ trưng cầu dân ý vì họ biết rằng dân chúng sẽ không bao giờ chấp nhận cái chế độ này.

Chính phủ chúng tôi đã tiến hành một cuộc trưng cầu dân ý vào ngày 23 Tháng 10 năm 1955́, dựa theo đó chế độ cũ được bãi bỏ và chế độ Cộng hòa đã được thành lập. Sau đó chính phủ chúng tôi đã tổ chức cuộc bầu cử Quốc hội vào tháng 3 năm 1956 ở miền Trung và miền Nam Việt Nam. Quốc hội này đã soạn thảo và thông qua một bản Hiến pháp. Hiến Pháp này đã được công bố sau đó.

Những tổ chức dân chủ và các tiến bộ mà chính phủ chúng tôi đã đạt được trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội, đã được cảm thông của cả thế giới. Đến ngày hôm nay đã có 56 quốc gia công nhận chính phủ chúng tôi, duy trì quan hệ ngoại giao với chúng tôi, hoặc đã đề nghị chúng tôi được gia nhập Liên Hiệp Quốc. Nhà cầm quyền cộng sản ở miền Bắc chỉ được sự công nhận của khoảng 10 chính phủ cộng sản. Trong những năm gần đây, ảnh hưởng của Việt Nam Tự Do đã được tăng đáng kể: Nước chúng tôi hiện nay là thành viên của 33 tổ chức quốc tế và Sài Gòn được chọn là trụ sở của nhiều hội nghị quốc tế.

Do đó, rất kỳ lạ khi thấy những người có trách nhiệm phân chia đất nước, không dám tiến hành bầu cử trong vùng tạm kiểm soát của họ và sau đó lại đổ lỗi cho chính phủ chúng tôi từ chối thống nhất đất nước và từ chối bầu cử chung.

Vấn đề về giao thông đi lại giữa liên khu vực tự do

Nhà chức trách Hà Nội đã dấu không thông tin cho người dân miền Bắc biết, rằng người dân có quyền chọn lựa khu vực để sinh sống. Với chế độ khủng bố, họ đã ngăn cản các chuyến di tản của dân chúng miền Bắc; họ đã dùng bạo lực bắt giữ thân nhân những người đã di cư về miền Nam. Tại Ba-Làng và Lưu-Mỹ họ đã nổ súng đàn áp những người đã cố gắng đi đến khu vực tự do.

Họ cũng đã rút ngắn thời gian cho tự do giao thông liên vùng và tự do lựa chọn vùng sinh sống, qua việc qui định thời hạn vào ngày 19 Tháng 5 năm 1955. Sau thời gian này, chính phủ chúng tôi đã đề nghị gia hạn thời gian giao thông liên vùng tự do. Nhưng nhà chức trách Hà Nội muốn hủy bỏ càng nhanh càng tốt sự liên kết giữa hai khu vực, nhằm ngăn chặn các chuyến tỵ nạn về miền Nam và luôn bày tỏ ý đồ xấu xa này của họ. Do đó nhà chức trách Hà Nội đã chỉ gia hạn thời gian di tản thêm hai tháng, tức là đến ngày 20 Tháng 7 năm 1955, và trong hai tháng đó họ đã chỉ cung cấp một chiếc thuyền cho những người muốn về miền Nam.

Bất chấp mọi nỗ lực để ngăn cản việc di tản, bất chấp bị khủng bố và trù dập bằng bạo lực và cho dù thời hạn được di tản rất ngắn ngủi, nhưng gần một triệu đồng bào từ miền Bắc đã di cư về miền Nam thành công. Mặc dù đồng bào của chúng tôi ở phía bên kia vĩ tuyến 17 bị mất quyền tự do di chuyển ngay cả trong khu vực sinh sống của mình, ngày nay họ vẫn còn chạy trốn về miền Nam bằng cách vượt dẫy núi Trường Sơn[1], hoặc trong các chiếc thuyền mỏng manh dọc bờ biển. Một số người không may mắn bị rơi vào tay cộng sản và bị giết, hoặc đã bị tra tấn tàn nhẫn. Những người khác đã chết vì kiệt sức trong rừng sâu hoặc là nạn nhân của các cơn bão biển.

Hiện nay có 81 123 người và 1955 gia đình đã tự, hoặc qua đại diện của họ, làm đơn yêu cầu được di tản vào miền Nam. Yêu cầu của họ đã được giao cho Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến. Nhưng nhà chức trách Hà Nội phản đối những yêu cầu này.

Ngoài ra, còn có một số gia đình từ miền Trung và miền Nam Việt Nam đã đòi hỏi cho anh em, chồng con họ, những người đã bị cộng sản dùng bạo lực bắt cóc đưa về miền Bắc, phải được hồi hương. Tổng số đơn yêu cầu về việc này là 11.196, đã được chuyển tiếp đến Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến. Ngoài các đơn kiện này, còn có rất nhiều trường hợp khác được gửi trực tiếp đến Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến, và số lượng đơn của những trường hợp này không bao giờ được công bố. Qua sự phản đối, chống lại những yêu cầu của người dân được nêu trên, nhà chức trách Hà Nội phải gánh trách nhiệm về tình trạng đau đớn vì chia ly của các gia đình này. Sau khi cộng sản cấm đoán người dân tự do đi lại ngay cả trong khu vực miền Bắc Việt Nam và ngăn chặn những người muốn di tản đi xa, bây giờ thì họ lại rêu rao, tuyên truyền là „tự do đi lại“ và „khôi phục lại mối quan hệ bình thường“.

Vấn đề cắt giảm lực lượng quân sự

Từ 3 năm qua nhà chức trách Hà Nội luôn luôn cổ võ cho hòa bình. Nhưng hành động của họ luôn tương phản lớn với chủ đề tuyên truyền của họ.

Họ đã không dừng lại mà luôn tăng cường lực lượng quân sự và nâng cấp trang bị vũ khí kể từ sau khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực và như vậy là vi phạm Hiệp định Genève do chính họ đã ký kết.

Cần quan tâm đến một giác thư của chính phủ Vương quốc Anh gửi cho Liên Xô ngày 9 Tháng 4 năm 1956. Là đồng chủ tịch của Hội nghị Genève, chính phủ Anh đã cáo buộc chính quyền Hà Nội, kể từ khi ngừng chiến đến nay họ đã tăng cường lực lượng quân sự từ 7 lên 20 sư đoàn.

Ngoại trưởng Pháp tháng 3 năm 1958 cho biết, rằng nhà chức trách Hà Nội đã gia tăng quân đội lên đến 350.000 quân và công an, cảnh sát lên tới 200.000 người.

Họ cũng đã nhập cảng vũ khí từ các nước cộng sản để tăng cường lực lượng quân sự của họ. Trong ba năm qua họ đã không tôn trọng Hiệp định Genève, bởi vì họ chưa bao giờ thông báo cho Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến về việc nhập cảng vũ khí vào Việt Nam.

Mâu thuẫn với thực tế, nhà chức trách Hà Nội tuyên bố rằng họ đã giảm lực lượng quân sự của họ xuống còn 80.000 người. Nhưng cho đến nay họ chưa bao giờ nói bất cứ điều gì về con số thực sự quân đội của họ, trước khi hoặc sau khi cái họ gọi là giảm quân. Họ không đưa ra bằng chứng về những lời tuyên bố của mình và không chấp nhận mọi cuộc điều tra.

Họ không có lý do duy trì một quân đội mạnh mẽ hơn Việt Nam Cộng Hòa. Đây là mối đe dọa cho nền hòa bình không những chỉ cho Việt Nam mà còn cho các nước ở trong vùng Đông Nam Á. Để có khả năng duy trì một quân đội to lớn như vậy, nhà chức trách BắcViệt áp đặt mức thuế cao và hệ thống „đấu tố“, với hệ thống này họ đã ép buộc những người vợ, những người con phải tố cáo cha mẹ và chồng mình đã „dấu vàng của nhân dân“. Những người này thậm chí đã phải tự đánh mình và cuối cùng họ bị xử tử ngay tai chỗ mà không thông qua một cuộc xét xử của toà án. Có thể nói rằng dân tộc chúng tôi phải chịu nhiều đau khổ với chính quyền miền Bắc hơn bất kỳ dân tộc nào khác trên thế giới này.

Ngược lại, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã luôn luôn phục vụ cho nền hòa bình kể từ hiệp định Genève. Để đảm bảo lực lượng laođộng cần thiết cho việc tái thiết đất nước bị tàn phá bởi chiến tranh, chúng tôi đã giảm quân đội từ 242.000 xuống còn 150.000, đồng thời chúng tôi đã không bổ xung thay thế 180.000 binh lính của „Đội quân Viễn chinh“ Pháp. Cộng sản mong muốn duy trì Đội quân này lại ở Việt Nam. Vấn đề giảm lực lượng quân sự được phổ biến rộng rãi, điều này rất dễ kiểm chứng.

Nhân đây cũng xin nhắc lại lời tuyên bố long trọng của Chính phủ Quốc gia vào ngày 6 Tháng 4 năm 1956 là không tham gia bất kỳ liên minh quân sự nào và không cho phép cài đặt căn cứ quân sự ngoại quốc trên lãnh thổ của mình.

Vấn đề trao đổi thương mại

Trong thư đề ngày 7 Tháng Ba nhà chức trách Hà Nội đã đề xuất việc trao đổi thương mại với miền Nam. Qua đánh giá đề nghị này và qua tin tức nhận được cho thấy rằng đồng bào miền Bắc mong muốn, cầu xin sự giúp đỡ của thân nhân hoặc bạn bè ở miền Nam, có thể một vài mét vải hoặc vài viên thuốc aspirin. Nền kinh tế miền Bắc do sự thống trị của Đảng Cộng sản đang ở dưới đáy vực sâu. Đề nghị của cộng sản không nhằm mục đích nâng cao đời sống của dân chúng miền Bắc. Do hệ thống độc quyền với chính sách nội thương và ngoại thương mà họ đã đề ra là mua sản phẩm nông nghiệp của dân chúng với giá rẻ mạt và bán lại những sản phẩm này với giá cao hơn đáng kể. Mục tiêu của họ chỉ là, thu thập sự phong phú của miền Nam vào ngân sách đảng của họ. Nếu nhà chức trách miền Bắc muốn đề nghị của họ được duyệt xét thì điều kiện đầu tiên là họ phải đặt quyền lợi người dân lên trên lợi ích của đảng. Đồng thời họ phải để cho dân chúng miền Bắc toàn quyền tự do thương mại và từ bỏ sự độc quyền kinh tế mà đảng cộng sản đã chiếm đoạt từ trước đến giờ.

Vấn đề trao đổi thư từ và bưu thiếp

Mặc dù cộng sản không đề cập đến đề tài này trong thư của họ đề ngày 7 tháng ba năm 58, nhưng họ đã nhiều lần đề nghị nối lại dịch vụ bưu chính giữa hai khu vực. Cho đến hôm nay, cộng sản đã sử dụng các bưu thiếp như một phương tiện tuyên truyền nhiều hơn so với những phong thư được đóng kín. Yêu cầu trao đổi thư từ của họ không ngoài mục đích nào khác là tăng cường chiến dịch đe dọa và ăn xin người dân miền Nam. Vì quyền lợi của dân chúng, Chính phủ Quốc gia không thể thực hiện đề nghị này, nhưng Chính phủ yêu cầu cộng sản khai triển trao đổi bưu thiếp một cách đơn giản để nhân dân của hai Miền có thể liên lạc được với nhau.

Sự thật được mô tả trên đây cho thấy bản chất lừa đảo của các đề nghị của cộng sản, chẳng hạn như tăng cường củng cố lực lượng quân sự của mình, lệnh cấm di chuyển giữa hai khu vực, các vụ giết người muốn di tản về miền Nam, họ đã gây ra những trở ngại để các thân nhân của các gia đình sống tản mác không tìm được nhau và lợi dụng việc trao đổi bưu thiếp nhằm vào mục đích tuyên truyền.

Mâu thuẫn giữa tuyên truyền và hành động của nhà chức trách Hà Nội thật đã rõ ràng. Từ nhiều năm qua thái độ của họ vẫn luôn như một. Để chứng minh thái độ của họ đã thay đổi, họ hãy thực hiện một số hành động cụ thể như sau:

 1. Họ hãy để cho 92 319 người và 1955 gia đình thực hiện ý nguyện của mình là được di cư về miền Nam, đơn của những người và gia đình này đã nộp cho Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến, để những người này được đoàn tụ với gia đình của họ.

2. Họ nên giảm lực lượng quân sự của họ tương đương với miền Nam Việt Nam. Việc giảm bớt phải được xác nhận là đúng bởi một Ủy ban quốc tế hữu trách. Sau đó vấn đề giới hạn lực lượng quân đội của hai vùng mới được bàn thảo.

3. Họ cần phải xóa bỏ cái gọi là „Ủy ban Giải phóng miền Nam“, bằng cách từ bỏ khủng bố, giết dân cư của những làng mạc xa xôi hẻo lánh, phá hoại cơ sở Chính phủ nhằm cải thiện đời sống của người dân, đặc biệt trong lĩnh vực cải cách ruộng đất và nông nghiệp.

4. Họ phải từ bỏ sự độc quyền kinh tế của đảng Cộng sản, để nhân dân miền Bắc Việt Nam được làm việc trong hoàn toàn tự do và qua đó, có thể tăng mức sống của họ hiện đã bị giảm xuống đến mức chưa từng có từ xưa đến nay.

5. Họ không được buộc dân chúng phải cất tiếng ca ngợi họ[2] trong các bưu thiếp. Họ nên giải tán ban biên tập công tác tuyên truyền phục vụ bưu thiếp. Họ không được trả thù những người nhận hoặc gửi bưu thiếp.

6. Họ phải tôn trọng các quyền tự do dân chủ trong khu vực của họ như ở miền Nam và nâng cao mức sống của dân chúng miền Bắc, ít nhất được tương đương với dân chúng miền Nam; họ không được dùng chế độ vô nhân đạo của họ để làm cho khoảng cách giữa hai vùng lớn hơn nữa.

Nếu khảo sát các sự kiện kỹ càng, ta sẽ nhận thấy bức thư ngày 7 Tháng Ba năm 58 của nhà chức trách Hà Nội có mục đích chủ yếu nhằm tuyên truyền và phá hoại, chống lại sự giúp đỡ của các quốc gia bạn. Cộng sản đã hành động theo đơn đặt hàng của Liên Xô và cộng sản Trung Quốc, trong lá thư trên đã chỉ trích gay gắt Mỹ và cáo buộc người Mỹ can thiệp vào nội bộ của miền Nam Việt Nam.

Thực tế hoàn toàn ngược lại với những cáo buộc của cộng sản: mối quan hệ Việt-Mỹ hoàn toàn bình đẳng dựa trên luật pháp quốc tế giữa hai nước, cùng tôn trọng chủ quyền của nhau. Tương tự sự liên kết giữa Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và các nước trong thế giới Tự do. Mục đích mối quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Hoa Kỳ chỉ nhằm bảo đảm nền hòa bình và tự do.

Mối quan hệ giữa nhà chức trách Hà Nội cùng giới thống trị Nga và Trung Quốc, thuộc một thể loại khác. Họ là một vệ tinh đối với giới cai trị. Họ là hạ cấp so với thượng cấp trong hệ thống phân cấp của một đảng: đảng Cộng sản Quốc tế. Sự phụ thuộc này không chỉ được thể hiện qua sự đồng nhất của các tổ chức chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội theo kiểu mẫu của cộng sản Liên Xô và Trung Quốc, mà sự lệ thuộc này còn thâm nhập ngay cả vào lĩnh vực tư tưởng: trong các nghị định và các quyđịnh của họ nhà chức trách Hà Nội bắt buộc dân chúng miền Bắc phải học các hệ tư tưởng cộng sản và sống theo đường lối chính trị của Nga và Trung Quốc.

Ở miền Nam, không ai bị bắt buộc phải tôn thờ các nhà lãnh đạo ngoại quốc và treo hình ảnh họ trong nhà, ở đây không ai có thể tưởng tượng rằng họ có thể hành xử điều kỳ lạ nêu trên.

Ở miền Bắc, nhà chức trách ép buộc dân chúng phải sùng bái các các nhà lãnh đạo Nga và Trung Quốc, treo hình ảnh của họ ở nhà và trong những ngày lễ của Liên Xô. Đồng thời họ cấm đoán dân chúng không được phê bình ý thức hệ cộng sản, không được phê bình chính phủ và giới lãnh đạo các nước cộng sản.

Thái độ hèn hạ của nhà chức trách Hà Nội đối với cộng sản ngoại quốc đã hủy hoại đời sống của dân tộc Việt, và là trở ngại lớn nhất cho công cuộc thống nhất đất nước.

Hệ tư tưởng cộng sản hoàn toàn phản nghịch với truyền thống tâm linh của châu Á và tính chất quốc gia của dân tộc Việt Nam.

Để tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc bầu cử tự do, nhà chức trách Hà Nội phải hủy bỏ chế độ cộng sản mà họ đã áp đặt lên người dân miền Bắc.

Họ không nên nhắm mắt và tự bịt tai. Họ phải học hỏi để hiểu cho ra rằng, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và Dân tộc Việt Nam không bao giờ chấp nhận cuộc bầu cử không có sự tự do và chân thành.

Nguyễn Hội

sưu tầm và dịch từ văn bản tiếng Đức “Erklärung der Regierung der Republik Vietnam von 26. April 1958 über die Frage der Wiedervereinigung” do văn phòng Sứ Thần VNCH tại CHLB Đức xuất bản năm 1958.

[1] bản tiếng Đức ghi là dẫy núi An Nam

[2] nguyên văn tiếng Đức là: Họ không được buộc dân chúng phải cất tiếng hát những bài ca tụng họ trong các bưu thiếp“

CHẾ ĐỘ TRUNG QUỐC CHẮC CHẮN SẼ SỤP ĐỔ

Hillary Clinton:

Chế độ của Trung Quốc chắc chắn sẽ sụp đổ

*Jeffrey Goldberg, The Atlantic

Ngày 10 tháng 5 năm 2011 – Trong một cuộc trả lời phỏng vấn dành riêng cho tờ TheAtlantic, ngoại trưởng Mỹ Hilary Rodham Clinton đã nói rằng hồ sơ nhân quyền của Bắc Kinh đang “rất tồi tệ” và Bắc Kinh đang “ra sức ngăn chặn lịch sử” bằng cách chống lại sự tiến bộ của dân chủ.

***

Lời dẫn của Jeffrey Goldberg: Trong bài viết gần đây nhất của tôi trên tờ Atlantic vừa ra mắt (bài viết được giới thiệu trên trang bìa) tôi có bài phỏng vấn Ngoại trưởng Mỹ Hillary Rodham Clinton về phản ứng của Mỹ trước Mùa xuân Ả-rập. Khi chúng tôi có cuộc gặp vào tháng trước tại văn phòng của bà ở Bộ Ngoại giao, bà như mọi lần vẫn trả lời một cách dễ dàng uyển chuyển bằng tinh thần bao quát và hoàn toàn làm chủ được những chi tiết. Bà cũng nhấn mạnh nhiều lần rằng cách tiếp cận của Chính quyền Obama ở Trung Đông đã không cho thấy bất kỳ sự thiếu nhất quán hay đạo đức giả nào (bà nói nhiều tới chủ đề này trong cuộc trả lời phỏng vấn được ghi lại dưới đây). Chúng tôi đã không dành nhiều thời gian cho vấn đề tiến trình hòa bình ở Trung Đông (mặc dù tôi tin rằng bà là người có đủ khả năng nhất ở Mỹ để đưa Israel và các nước Ả-rập đi đến một sự giải quyết bằng đàm phán); thay vì vậy, chúng tôi đã bàn về sự nổi lên của tổ chức Huynh đệ Hồi giáo [Muslim Brotherhood – một tổ chức Hồi giáo cực đoan lâu đời và có ảnh hưởng rất lớn, do asan ai-Banna thành lập tại Ai Cập năm 1928] và tổ chức này có ý nghĩa gì đối với phụ nữ Hồi giáo, đồng thời chúng tôi còn dành thời gian để bàn tới sự tranh luận hiện nay giữa chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa lý tưởng trong chính sách đối ngoại.

Trong suốt cuộc trò chuyện chỉ khi tôi bất ngờ nêu vấn đề Trung Quốc và phản ứng hoảng sợ của Trung Quốc trước Mùa Xuân Ả-rập thì bà mới chuyển sang thái độ thiếu chút nữa thì có thể gọi là giống Reagan, ấy là bà đã đặt thành vấn đề nghi ngờ không chỉ hồ sơ nhân quyền ảm đạm của Bắc Kinh mà còn cả tương lai của bản thân chế độ Trung Quốc nữa. Gần đây chính quyền của Obama ngày càng gây sức ép trong cách nói hoa mỹ tới Trung Quốc về hồ sơ nhân quyền, nhất là kể từ sau vụ bắt giam nhà bất đồng chính kiến Ngải Vị Vị, song Ngoại Trưởng Clinton trong cuộc phỏng vấn của chúng tôi còn đi xa hơn nữa: bà đã nghi ngờ khả năng sống sót của chế độ độc đảng. Sau khi bà nhắc tới hồ sơ nhân quyền của Trung Quốc là “rất tồi tệ” (bản thân đây cũng là một sự gây sức ép bằng cách nói hoa mỹ), tôi nhận xét rằng chính quyền Trung Quốc dường như đang hoảng sợ trước cuộc Nổi dậy Ả-rập. Bà đã trả lời: “Ồ, đúng vậy. Họ đang lo lắng và họ đang định ngăn chặn lịch sử, đó là việc làm vô ích chỉ tổ làm trò cười. Họ không thể làm được điều đó. Nhưng họ đang cản trở lịch sử càng lâu càng tốt”

Lời khẳng định của bà Clinton rằng chế độ đàn áp của Trung Quốc sớm muộn sẽ sụp đổ làm tôi nhớ lại lời phát biểu có thể nói là giống hệt của Reagan khi trả lời Richard V. Allen hồi năm 1977 về mục tiêu của nước Mỹ trong Chiến tranh Lạnh: “Quan điểm của tôi về chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Liên Xô là đơn giản, thậm chí có người còn cho là quá đơn giản,” Reagan nói. “Nó là thế này: Chúng ta nhất định thắng còn họ nhất định thua.”

Tôi đã đi cùng bà Clinton trong chuyến đi mới đây nhất của bà tới Ai Cập và Tuy-ni-di hồi tháng 3 và trong chuyến đi đó bà đã rất nhiều lần phát biểu rằng những người dân tự đứng lên đòi dân chủ bằng các cuộc biểu tình ôn hòa đã khiến bà xúc động. Những nhận xét của bà về Trung Quốc khiến tôi hoàn toàn tin rằng bà đã coi Mùa Xuân Ả-rập là dấu hiệu báo trước một thế giới đang tiến tới nền dân chủ.

Dưới đây là bản chép lại cuộc phỏng vấn do chúng tôi thực hiện. Bản chép lại này đã được rút ngắn lại một chút cho súc tích và được biên tập cho sáng sủa.

***

JEFFREY GOLDBERG: Tôi đã tiếp tục lưu lại Tuy-ni-di sau khi bà rời khỏi đó và ngày hôm sau lúc tôi ở trung tâm thành phố thì có một đám đông đang tụ tập để chuẩn bị biểu tình. Lúc đó tôi nghĩ, “Tuyệt vời, những người trẻ tuổi đang kêu gào đòi điều gì đó.” Tôi không thể đoán được ngay lập tức đang có chuyện gì. Họ đang đứng trước cổng Bộ Nội vụ và tôi hòa vào đám đông đó và đã hiểu ra rằng họ chuẩn bị biểu tình phản đối một quyết định của Bộ Nội vụ cấm phụ nữ choàng khăn “hijab” [loại khăn truyền thống của phụ nữ Hồi Giáo] khi chụp ảnh làm chứng minh thư và đây là một cuộc biểu tình vì “hijab”. Tôi bèn hỏi chuyện, “Các anh muốn phụ nữ bắt buộc phải choàng chiếc khăn đó hay sao” Họ đáp, “Không phải vậy, nhưng theo quan điểm của chúng tôi về xã hội thì người dân phải hiểu được vai trò của nam giới và vai trò của phụ nữ.” Lúc ấy tôi tự nhủ, “Trời, ước gì bà Hillary Clinton có mặt ở đây để tôi hỏi bà ấy xem bà ấy suy nghĩ gì.” Những cuộc cách mạng NÀY đang diễn biến theo những chiều hướng phù hợp với cách nghĩ của người Mỹ và chúng cũng đồng thời diễn ra theo một số cách không phù hợp với cách nghĩ của người Mỹ.

CLINTON: Tôi đã nói tới điều này vào nhiều dịp khác, bởi vì điều tôi muốn thấy là phụ nữ và nam giới được tự do lựa chọn theo những cách thức có trách nhiệm được pháp luật của nước họ bảo vệ – còn mô hình của tôi, dĩ nhiên đó sẽ là mô hình của đất nước chúng ta, đó là phụ nữ có thể ăn mặc theo cách họ chọn tùy theo mong muốn cá nhân của họ. Và tôi muốn được thấy phụ nữ ở khắp nơi trên thế giới có được sự tự do này để cho không có sự ép buộc, không có sự ép buộc của chính phủ. Đó là một sự lựa chọn, và –

JG: Như vậy thì cái vạch đỏ không nên vượt qua ấy là sự ép buộc hoặc đại loại vậy –

HRC: Hoàn toàn đúng.

JG: — bất cứ điều gì nằm trong sự được gọi là ép buộc.

HRC: Hoàn toàn đúng như vậy, bất cứ điều gì thuộc về sự ép buộc. Tôi nghĩ rằng hiện nay đang có những vấn đề an ninh liên quan đến, chẳng hạn, áo burka [áo của phụ nữ Hồi giáo che cả người và mặt], nhưng nếu chúng ta nói tới “hijab”, đó là chiếc khăn choàng đầu, thì đối với tôi đó không phải là một vạch đỏ không nên vượt qua. Như vậy, khi người ta bắt đầu nói, “Ồ, nhưng có những điều nào đó mà phụ nữ không nên được phép làm và cách duy nhất để chúng ta có thể ngăn họ làm những điều đó là bằng cách thông qua những quy định luật pháp phản đối những điều đó, “chẳng hạn như phụ nữ không được lái xe ở Ả-rập Saudi hoặc phụ nữ không được bỏ phiếu. Mới đây đã có một cuộc bạo loạn ở Bangladesh bởi vì chính phủ muốn phụ nữ được hưởng quyền thừa kế bình đẳng [như nam giới]. Đó là một vạch đỏ không nên vượt qua, làm thế tức là xâm phạm các quyền của phụ nữ và do đó tôi phản đối và tôi nghĩ rằng bất cứ xã hội nào ở thế kỷ 21 đang hướng tới hiện đại hóa và chắc chắn là nếu như họ đang tự cho họ là dân chủ thì đều phải bảo vệ quyền được có những lựa chọn nói trên.

JG: Chúng ta có nên sợ hãi tổ chức Huynh đệ Hồi giáo?

HRC: Ồ, tôi nghĩ chúng ta chưa biết đầy đủ để có thể hiểu chính xác hiện nay tổ chức này đang biến hóa thành một thứ tổ chức như thế nào. Theo tôi, chúng ta chưa có đầy đủ thông tin để đưa ra đánh giá cuối cùng. Có một số phần tử Hồi giáo đột nhiên xuất hiện ở Ai Cập và tôi nghĩ cứ theo bề ngoài mà xét thì những người đó chỉ là –

JG: Thực ra chỉ như là vừa được xổ lồng mà thôi.

HRC: Được xổ lồng, được ra khỏi bóng tối và họ thù địch với một nền dân chủ, thù địch với tự do bày tỏ ý kiến, tự do hội họp, tự do tín ngưỡng lúc ấy đang là khát vọng trên Quảng trường Tahrir [ở thủ đô Cairo của Ai Cập].

JG: Liệu có xảy ra một tình huống trong đó một phụ nữ sống trong một đất nước ở đó theo luật thì người phụ nữ đó không nhất thiết phải choàng “hijab” nhưng theo văn hóa do chính phủ đặt ra thì người phụ nữ đó thấy mình có nghĩa vụ phải tuân thủ các quy định treo cờ của đất nước?

HRC: Dĩ nhiên là có chứ, điều đó đúng với bất kỳ xã hội nào. Chúng ta đến các vùng khác nhau ở trong nước Mỹ và chúng ta có thể thấy mọi người ăn mặc theo một cách nhất định nào đó bởi vì không ai muốn mình là người lạc hậu, tụi con trai mặc quần ngố, chẳng ai bắt họ phải ăn mặc như thế cả nhưng họ học những chuẩn mực văn hóa lúc nào đó không hay biết hoặc giả các cô gái ăn mặc theo mắt tôi thì như thế là không thích hợp nhưng đó là những gì họ học ở các phương tiện thông tin đại chúng.

Như vậy dĩ nhiên là bên cạnh những chuẩn mực văn hóa còn có những sự mong đợi từ gia đình và thậm chí còn có những lời răn tôn giáo. Song, miễn là không có sự cưỡng ép từ phía nhà nước, khi ấy tôi sẽ không chỉ tay ra lệnh cho những người đang có những sự lựa chọn nào đó mà tôi không muốn nhưng trong khuôn khổ một nền dân chủ thì những sự lựa chọn đó phải được bảo vệ. Nhưng liên quan đến việc đề ra quyết định chính trị thì tôi nghĩ chúng ta phải rất thận trọng ở chỗ những người ở trong lập trường nói trên phải hiểu được rằng họ có nghĩa vụ bảo vệ những quyết định mà họ không nhất thiết phải tán thành.

Khó lòng tưởng tượng nổi trong thế giới ngày hôm nay lại có một gia đình không muốn con cái họ học lái xe bởi vì họ nghĩ điều đó đi ngược lại tôn giáo của họ. Cứ cho là có chuyện đó đi, nhưng điều đó rất khác với việc gia đình đó nói rằng chúng tôi không muốn con cái có bảo hiểm y tế. Tòa án của chúng ta sẽ can thiệp và nói, “Như thế là vượt quá xa quyền hạn cha mẹ.” Trên bình diện xã hội cũng vậy, chúng ta không muốn cái gọi là những người đưa ra các quyết định chính trị, các đảng phái hoặc các lãnh tụ chính trị đề ra những quyết định xâm phạm những cơ hội dành cho phụ nữ và nam giới.

JG: Nếu nước Mỹ dùng vị thế chính trị nổi bật của mình [bully pulpit, chữ được dùng lần đầu tiên bởi Tổng thống thứ 26 Theodore Roosevelt để chỉ Nhà Trắng, “bully” ở đây hoàn toàn không mang nghĩa “bắt nạt người khác”] để nói với các nước, “Này, chúng tôi có một hệ thống dân chủ tự do, hệ thống đó đang hoạt động thực sự tốt, và bởi vì các anh đang ở trong một giai đoạn thay đổi rất nhanh cho nên các anh nên cân nhắc kỹ hệ thống này.” Nói cách khác tức là nước Mỹ nói với các nước là: hãy tham gia vào cuộc chiến của những tư tưởng –

HRC: Hoàn toàn đúng.

JG: — Cuộc chiến với các bên Hồi giáo.

HRC: Ồ, không chỉ riêng các bên Hồi giáo. Dĩ nhiên các bên Hồi giáo là những nơi mà chúng ta nhìn vào với nhiều lo lắng nhất. Nhưng còn có tàn dư của những chế độ lỗi thời đang định ngăn cản sự tiến bộ và vẫn đang tiếp tục không cho nhân dân của họ được hưởng cơ hội trong kinh tế và các quyền trong chính trị.

Vậy là ở những chế độ đang trong thời kỳ quá độ kiểu như vậy thì có những ý thức hệ thù địch với nền dân chủ, có những nền kinh tế và thương mại thù địch với nền dân chủ, có những hệ thống chính trị thù địch với nền dân chủ. Do đó tôi nghĩ chúng ta cần cạnh tranh trên đấu trường tư tưởng và thông tin.

JG: Nghe như có một chút chiến lược tân-bảo thủ cực đoan [neoconish]?

HRC: Không. Tôi không cho là vậy. Tôi cho là đó là điều chúng ta đang tin tưởng vào. Chúng ta đang tin rằng càng nhiều ngôn luận thì tốt hơn là bớt đi ngôn luận. Chúng ta lấy làm tiếc về gã ở Florida đã đốt kinh Koran, những người khác ở khắp nơi trên thế giới đều thấy điều này là quá khó hiểu, bởi vì họ nói, “Hay thật, nếu nước Mỹ nghĩ rằng điều này là khủng khiếp vậy thì nước Mỹ lẽ ra đã phải ngăn chặn không cho điều này xảy ra rồi chứ” Và chúng ta trả lời, “Không, chúng tôi trấn áp việc làm đó bằng ngôn luận, ngôn luận bày tỏ sự ân hận về điều đó và ngôn luận kêu gọi lòng khoan dung và tôn trọng.”

Cách đây vài tuần tôi đã phát biểu trước Quốc Hội. Tôi nói rằng chúng ta đang bị thua trong cuộc chiến tư tưởng bởi vì chúng ta không ở trên vũ đài theo cách chúng ta đã từng làm trong Chiến tranh Lạnh. Tôi không nghĩ điều này có nguyên nhân ở một đảng phái chính trị hay một triết lý chính trị ở đất nước chúng ta. Tôi muốn thấy chúng ta bước ra vũ đài để bày tỏ những tư tưởng của chúng ta. Bởi vậy chúng ta cần làm điều đó theo cách sao cho tư tưởng của chúng ta dễ dàng được hiểu và tiếp nhận chứ không chỉ đơn thuần khẳng định tư tưởng của chúng ta theo cách đưa ra kết luận có sẵn, không, chúng ta cần tham gia nhiều hơn nữa. Thẳng thắn mà nói, ngay chính tại thời điểm này khi mà sự vận động vì dân chủ như chất men ấp ủ nay bất ngờ nở bung ra – hơn 20 sau khi Bức tường Berlin sụp đổ – vậy mà chúng ta đã đầu tư biết bao nhiêu là tiền của và cố gắng trong nhiều thập niên để rồi bị tụt lại đằng sau so với thời kỳ Bức màn Sắt, vậy mà chúng ta đang diễn giải về thế nào là dân chủ, vẫn không ngừng duy trì lá cờ tự do luôn giương cao trong trái tim con người, tìm mọi cách để đưa thông điệp tới khắp nơi nơi, thông qua phương tiện phát thanh sóng ngắn và Kinh thánh lén đưa vào các nước, và chúng ta đã làm tất cả những điều này chỉ để làm cho mọi người hiểu được rằng họ không đơn độc và có thể những quan niệm của họ về lòng can đảm của con người đã không đủ sức lật đổ chế độ — thế đấy, chúng ta đã cắt giảm mọi thứ [so với thời kỳ

Chiến tranh Lạnh]. Chúng ta không phát ra được những thông điệp.

Trung Quốc đang bắt đầu phát một chương trình truyền hình bằng tiếng Anh có thể xem ở khắp thế giới, Nga cũng vậy, rồi đài truyền hình Al Jazeera. Còn BBC thì đang cắt giảm rất nhiều chương trình bằng tiếng nước ngoài phát đi khắp thế giới. Nước Mỹ đang tỏ ra không cạnh tranh. Tôi có cảm tưởng chúng ta đang bỏ lỡ một cơ hội. Tôi hiểu rõ là chúng ta đang chịu sức ép ngân sách và đủ những khó khăn mà chúng ta đang phải đối mặt, nhưng thời điểm giờ đây đang đến – tôi nói điều này không phải theo cách nói ngạo mạn mà theo cách dựa vào những gì đã xảy ra trong thực tế.

Chúng ta đã hiểu được một điều rằng (ở nước Mỹ) con người từ khắp nơi trên thế giới, bất kể là loại người nào, đều có thể chung sống với nhau, đều có thể làm việc cùng nhau. Có được điều này đâu phải dễ. Phải mất một thời gian dài, nhưng tôi cho là chúng ta mới chỉ biết được chút ít cách làm thế nào để có được điều đó, và nước Mỹ mong muốn đem tới bất cứ sự giúp đỡ nào mà nước Mỹ có thể làm được.

JG: Mặt trái của vấn đề nói trên là: Có phải thời điểm hiện nay đang cho chúng ta thấy rằng chủ nghĩa thực dụng trong chính sách đối ngoại, trường phái thực dụng, đã không dùng được nữa? Ý tôi muốn nói là có vẻ như chúng ta quá ư lý tưởng chủ nghĩa –

HRC: Không, không. Tôi nghĩ tôi là người cứng đầu. Tôi chưa bao giờ hiểu được sự chia cắt giữa cái gọi là những người thực dụng và những người lý tưởng chủ nghĩa. Tôi không biết cách nào mà chúng ta thức dậy mỗi ngày trên đời này, làm công việc của mình, nếu như chúng ta không có một ý thức nào đó về lý tưởng chủ nghĩa, bởi vì chúng ta phải tin rằng bất chấp khó khăn đến mấy chúng ta nhất định sẽ ngăn chặn được kẻ độc tài đang áp bức người dân của y, chúng ta nhất định sẽ góp phần ngăn chặn chiến tranh, chúng ta nhất định sẽ tìm ra cách để đưa nước sạch tới những người đang khát và chữa bệnh cho những đứa trẻ. Và đồng thời tôi cũng không biết được cách nào mà chúng ta vượt qua được khó khăn mỗi ngày và hi vọng sẽ thành công mà không cần phải có cái đầu rất cứng và rất thực dụng. Bởi thế đối với tôi thì vấn đề không phải là một sự lựa chọn hoặc cái này/hoặc cái kia.

Khi tôi nhậm chức ngoại trưởng, tôi đã nói, nghe này, tôi cho là có ba khuynh hướng mà chúng ta phải lưu ý và ba khuynh hướng đó tách rời nhau và chẳng có liên hệ gì với việc đối xử với các nước khác, với các khu vực, với các ý thức hệ. [Thứ nhất], quyền lực bị phân tán. Quyền lực không còn là lĩnh vực của riêng chính phủ. Có quá nhiều điều đang diễn ra trên thế giới ngày hôm nay. Người dân đang được biết quá nhiều. Bởi vậy chúng ta phải bắt đầu đối xử với người dân trên một cơ sở trực tiếp hơn.

JG: Phe thực dụng đã tồn tại liên tục trong 50 năm qua – những kiểu người như Scowcroft/Kissinger – họ cho rằng các nhà độc tài dù là độc tài thương dân hay độc tài theo kiểu khác nào đó đi nữa thì họ là những địa chỉ duy nhất mà nước Mỹ phải lưu ý: nước Mỹ nên làm việc với các nhà lãnh đạo và để họ tự giải quyết những vấn đề ở cấp dưới họ.

HRC: Tôi hiểu.

JG: Tôi hiểu rằng bà có ý kiến tranh luận phản đối quan niệm cho rằng có những dòng tư tưởng thận trọng khôn ngoan trong chính sách đối ngoại, nhưng –

HRC: Tôi không tranh luận —

JG: — nhưng bà phát biểu –

HRC: Nghe này, tôi không có lý lẽ chống lại quan niệm nói trên. Tôi chỉ nói rằng đây không phải là vấn đề lựa chọn hoặc này/hoặc kia. Theo tôi thì ngày nay lập trường thực dụng thật khó lòng mà tồn tại. Chủ nghĩa thực dụng cũng đã thay đổi. Chúng ta đâu có đang sống ở nước Đức thời Bismarck [chính khách nổi tiếng thực dụng ở thời Vương quốc Phổ và Đế chế Đức ở thế kỷ 19]. Và ông có thể tưởng tượng nổi ngày nay một ngoại trưởng như Henry Kissinger có thể bí mật đi tới bất cứ nơi nào không? Tôi không cho là vậy.

JG: Ý bà định nói tới việc Henry Kissinger được cho là bị ốm ở Pakistan trong một tuần lễ rồi sau đó vọt sang Trung Quốc? Ở địa vị của bà có thể bà cũng muốn làm như thế.

HRC: Ồ, dĩ nhiên là tôi muốn. Nhưng vấn đề là không thể. Vấn đề thứ hai là sự phân tán quyền lực nhờ có thông tin, điều không thể tưởng tượng nổi cách đây mươi năm chứ đừng nói là 50 năm. Như vậy là ngay cả khi chúng ta tưởng là có thể làm việc với một người duy nhất nào đó của một đất nước và chúng ta có thể yên tâm không phải lo lắng gì cả, thì giờ đây điều này là không thể. Cái cách mà công nghệ bùng nổ giờ đây có nghĩa là tất cả chúng ta đang sống trong một môi trường hoàn toàn khác. Công nghệ đã làm thay đổi mọi thứ. Và giờ đây bất cứ ai giả đò theo một cách khác, tức là giả đò rằng có một học thuyết vĩ đại nào đó ở trên trời chỉ việc lấy xuống rồi đem áp đặt cho người dân của một đất nước ở trên trái đất này, thì cái thứ giả đò ấy giờ đây cũng không còn là thái độ thực dụng nữa rồi.

JG: Tôi không phải là một người say mê sự nhất quán. Chúng ta có khuynh hướng thiên vị sự nhất quán. Mọi thứ đều phải được liên kết với nhau một cách ngăn nắp.

HRC: Tất cả mọi người đều mong muốn điều đó.

JG: Tất cả mọi người đều cần sự nhất quán. Nhưng liệu có một kiểu loại tình tiết nhất quán nào mà bà thấy đã xảy ra kể từ khi người bán hoa quả tội nghiệp đã tự thiêu [ám chỉ sự kiện một người bán hàng rong ở Tuy-ni-di đã tự thiêu và từ đó đã bùng nổ cuộc nổi dậy của người dân đòi lật đổ chế độ]

HRC: Ý tôi muốn nói là một số nước Ả-rập đang đổ lỗi cho tôi vì đã gây ra chuyện này từ bài diễn văn của tôi tại Doha. Ý tôi định nói là bởi vì điều tôi thấy đang xảy ra là quá rõ ràng, ấy là điều đang xảy ra chỉ là sự vận động ở bên dưới bề mặt, rằng bất chấp việc các nhà lãnh đạo hoặc phủ nhận hoặc cố tình không nhìn thấy điều gì đang diễn ra thì điều đó vẫn cứ đang diễn ra. Chỉ đơn giản là trong suốt nhiều năm vừa qua nước Mỹ đã hụt hơi nên đã không thể hiểu được rằng người dân ở các nước đã đi trước thời đại. Bởi vậy nên tôi đã có bài diễn văn đó tại Doha, và bài diễn văn của tôi đã lôi cuốn được sự chú ý, tôi đã nhận ra điều đó vào ngay lúc ấy. Rất nhiều nguyên thủ quốc gia đã nói chẳng hạn, “Không, tôi không muốn nghe điều đó.” Các lãnh đạo doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, đều tỏ vẻ bồn chồn ngay tại chỗ ngồi của họ. Họ gật đầu ra hiệu với nhau. Họ huých tay ra hiệu cho nhau. Tôi nhìn thấy hết. Từ chỗ tôi ngồi đọc bài diễn văn tôi hầu như có thể nhìn thấy hết những điều đó, rồi trong buổi thảo luận sau đó cũng vậy.

Như vậy là các nguyên thủ quốc gia có thể lựa chọn cách cố tình giả vờ phớt lờ, song người dân trong xã hội, không chỉ những người trẻ tuổi mà tất cả mọi người thuộc đủ mọi tầng lớp đều hiểu rằng đang có một sự khởi đầu của thay đổi.

JG: Một trong những điều mâu thuẫn rành rành ấy là trong khi một mặt thì nước Mỹ thúc giục cải cách dân chủ ở những nơi như Ai Cập và Tuy-ni-di thì mặt khác nước Mỹ lại tham gia làm ăn với chế độ quân chủ. Chúng ta có rất nhiều đồng minh – nổi bật nhất là Jordani và Ả-rập Saudi – hiện nay các nước này đang cảm thấy một sức ép đặt lên mặt trận dân chủ và mối quan tâm trực tiếp của chúng ta là ủng hộ và duy trì những gã này ở nguyên trên ngai vàng của họ. Bà có bận tậm tới sự mâu thuẫn này hay không?

HRC: Tôi không chấp nhận tiền đề nói trên. Tôi cho là chúng ta tin vào cùng những giá trị và nguyên tắc như nhau, chấm hết. Chúng ta tin rằng các nước đó nên trao thêm quyền cho người dân của họ. Chúng ta tin rằng người dân phải được hưởng những quyền phổ quát nhất định nào đó. Chúng ta tin rằng có những hệ thống kinh tế nhất định nào đó đem lại kết quả tốt hơn cho tuyệt đại đa số người dân, so với những hệ thống con khác [subsystem]. Vì thế tôi nghĩ là nước Mỹ rất nhất quán. Tôi cho là sự nhất quán đã là một nền tảng của chính sách đối ngoại của Mỹ ít nhất trong suốt thế kỷ qua.

Chúng ta cũng đồng thời đang sống trong thế giới thực. Chúng ta làm việc với rất nhiều nước bởi chúng ta và họ có những lợi ích chung. Chúng ta và họ có những vấn đề an ninh nào đó mà cả hai đều đang quan tâm. Hiển nhiên Iran ở Trung Đông đang là một thách thức chính đối với tất cả chúng ta. Nước Mỹ làm ăn với rất nhiều nước có hệ thống kinh tế và chính trị không phải là mục đích của chúng ta hoặc chúng ta sẽ không bao giờ lựa chọn những hệ thống đó. Và nước Mỹ đã khuyến khích một cách nhất quán, cả công khai lẫn kín đáo, sự cải cách và sự công nhận và bảo vệ các quyền của con người. Song chung ta không từ bỏ làm việc với Trung Quốc chỉ bởi vì chúng ta cho là họ có một hồ sơ nhân quyền rất tồi tệ. Chúng ta không từ bỏ làm việc với Ả-rập Saudi —

JG: Và trên thực tế thì (người Trung Quốc) hiện nay đang tỏ ra rất sợ hãi.

HRC: Đúng thế. Họ đang lo lắng và họ đang định ngăn chặn lịch sủ, đó là việc làm vô ích chỉ tổ làm trò cười. Họ không thể làm được điều đó. Nhưng họ đang cố duy trì kìm hãm càng lâu chừng nào có thể.

JG: Nhưng bà làm gì để hiểu được những ông vua – chẳng hạn như Vua Abdullah II của Jordani? Hiện nay ông ấy đang chịu sức ép nhiều hơn bất cứ lúc nào. Ông ấy là một đồng minh lớn của Mỹ, ông ấy chắc chắn không phải là một gã du côn sát nhân như Qaddafi. Nhưng ông ấy là một ông vua và ông ấy có những vấn đề về quản lý chính phủ. Làm thế nào để nước Mỹ giúp đỡ một cách cụ thể một người như vậy để ông ta biết cách hành động để giải quyết vấn đề kịp thời chứ không đợi cho tới khi những vấn đề trở nên trầm trọng và không thể giải quyết được nữa?

HRC: Chúng ta hỗ trợ và cho họ những lời khuyên trong khả năng của chúng ta.

JG: Chúng ta đã không thành công với Mubarak.

HRC: Đúng, chúng ta đã không thành công với Mubarak, và điều đó không phải bởi vì thiếu sự cố gắng. Hết tổng thống này đến tổng thống khác, hết ngoại trưởng này đến ngoại trưởng khác – tất cả đều đã cố gắng. Ở những nước như Jordani thì chúng ta đều đang cố gắng giúp đỡ họ một cách thực dụng. Chẳng hạn, vua của Jordani không chỉ gặp phải những vấn đề chính trị và kinh tế cần giải quyết mà nước này còn là một trong những quốc gia thiếu nước nhất trên thế giới. Vì thế cách đây vài tháng tôi đã công bố một khoản tiền viện trợ không hoàn lại Thách thức Thiên niên kỷ trị giá 250 triệu đôla để giúp họ giải quyết vấn đề thiếu nước bởi vì tôi tin là chúng ta không chỉ đến đó, ngồi bàn bạc rồi nói ”các ông nên làm điều này, các ông nên làm điều kia, nói thì dễ lắm, nhưng chúng ta và họ là chỗ bạn bè, đối tác và đồng minh thực sự. Cho nên chúng ta nói với họ, “Này, đây là một sự tiến bộ xác thực hiển nhiên mà chúng tôi có thể giúp các ông thực hiện được.” Và điều này thì ở nước nào cũng vậy thôi, chúng ta đối xử với những người đang trong trải qua những cơn đau của thời kỳ quá độ và chúng ta nghĩ là chúng ta có thiện ý tốt nhưng chúng ta lại đang đối mặt với những vấn đề khó khăn nào đó.

JG: Có một điều tôi không hiểu đó là Bashar al-Assad lúc này [Tổng thống hiện nay của Syria], khi bà gọi ông ta là một nhà cải cách hoặc bà nói rằng ông ta được những người khác gọi là một nhà cải cách. Bao giờ cũng có sự có thể uốn thế này thế kia hoặc sự đạo đức giả về chiến lược trong cách chúng ta phải đối xử với thế giới. Nhưng phải chăng chúng ta không nên thổi những luồng gió đổi thay tới hướng Damascus [thủ đô của Syria] và cả Tehran [thủ đô của Iran] nữa ?

HRC: Chúng ta không cần phải thổi gì hết. Những luồng gió đang tự thổi. Không gì có thể ngăn chặn được những luồng gió ấy. Và điều chúng ta đang cố gắng làm với ông ta là cung cấp cho ông ta một tầm nhìn lựa chọn khác về bản thân ông ta và tương lai của Syria. Vì thế khi một số dân biểu Mỹ đã tới Syria rồi quay về và nói công khai hoặc nói ở chỗ riêng tư rằng “Chúng tôi nghĩ là ông ta đang thực sự mong muốn cải cách, song ông ta đang định cải cách theo lối vá víu những mẩu vụn chính trị của ông ta lại với,” thì tôi nghĩ đáng để nhắc nhở ông ta về điều đó. Và bởi vì tôi sẽ không nói chuyện với ông ta qua điện thoại, và tôi cũng không bay tới Damascus, cho nên tôi nghĩ đó là cách duy nhất để giao thiệp với ông ta. Ông ta phải đưa ra những quyết định và cho tới lúc đó thì có vẻ như mọi chuyện đang không đi đúng hướng. Nhưng chắc chắn là có rất nhiều hi vọng rằng ông ta sẽ bắt đầu đưa ra những cải cách giúp cho Syria tiến lên trước khi những vấn đề trở nên trầm trọng không thể giải quyết được nữa.

JG: Bà sẽ buồn nếu như chế độ đó biến mất?

HRC: Điều đó còn tùy thuộc vào chế độ nào sẽ thay thế.

JG: Hãy nói về Tehran một chút, bởi lẽ Iran là cái bóng tối đang hiện ra lù lù trên toàn bộ vùng Trung Đông. Mọi vấn đề dù trên bất kỳ phương diện nào mà chúng ta đang giải quyết thì đều có thành phần “Iran”. Iran đang sợ hãi và hiển nhiên họ cũng đang nhìn thấy một số cơ hội. Để cho họ chứng kiến sự nổi dậy ở các nước Hổi Giáo là điều chẳng có gì tệ hại cả. Nhưng làm cách nào để chúng ta tách riêng họ ra, thúc giục họ đi tới cải cách thực sự và khuyến khích người dân đứng lên như họ đã làm hồi năm 2009?

HRC: Chà, tôi rất lấy làm tiếc cho cái cách mà chế độ ở Iran đang đối xử với chính nhân dân của họ, cái mức độ đạo đức giả mà họ đang bộc lộ khi họ phản ứng trước sự nổi dậy ở khắp vùng này. Họ đã bộc lộ quả là một tài năng về chủ nghĩa toàn trị khi họ đã áp đặt một cơ chế kiểm soát tư tưởng tàn nhẫn tới mức thậm chí cơ chế ấy đã bắt đầu đi vào sách giáo khoa của nước họ, trở thành điều mà người dân có thể học, có thể thảo luận. Điều này trái ngược với tất cả những gì chúng ta biết về tâm lý của người Iran hiện đại, Iran đúng là một nơi kinh hãi nếu phải sống ở đó.

JG: Chúng ta có thể làm gì?

HRC: Ồ, tôi nghĩ chúng ta vẫn đang làm đấy chứ. Đầu tiên là vào năm 2009 có rất nhiều người Iran nắm rõ tình hình hiện đang sống ở trong hoặc ngoài đất nước này đã nói “Đừng cường điệu chuyện nổi dậy, đừng đề cao thái quá chuyện nổi dậy, chuyện đó phải được xuất phát từ trong nước, đừng biến nó thành điều gì đó mà nước Mỹ đang làm, chúng tôi cần đứng lên bằng đôi chân của chính mình.” Phần nào giống với cái cách của Quảng trường Tahrir, đó là thế này: “Đây là cuộc cách mạng của chúng tôi; bất cứ ai khác hãy tránh ra đừng làm cản đường chúng tôi.” Và việc chế độ ở Iran dùng vũ lực để dập tắt sự nổi dậy của người dân và sự dùng vũ lực vẫn đang tiếp tục biến thành một thứ chế độ độc tài quân sự, với Vệ binh Cách mạng về căn bản là lực lượng đảm nhận nhiệm vụ chính, đã khiến chúng ta thấy ngày càng rõ điều cấp thiết là chúng ta phải làm tất cả để ủng hộ những người đang đứng lên vì nhân quyền và vì nền dân chủ thực sự ở Iran.

JG: Tôi nghĩ đây là cách đặt câu hỏi: Chúng ta có thể đầu tư vào Mùa Xuân Ả-Rập?

HRC: Tôi cho là có thể, và tôi nghĩ là chúng ta có thể làm như vậy. Tôi nghĩ chúng ta đang nói rất rành mạch rằng người Iran đang cố gắng để được hưởng công trạng vì điều gì đó mà họ không chỉ chẳng có gì liên quan tới mà không những thế họ còn chống lại chính điều đó và họ không đáng để có được bất kỳ lòng tin nào của người khác.

JG: Giả sử như bà phải trở đi trở lại với những câu hỏi nói trên, bà – và cả tôi nữa chỉ muốn đi tới hai điều chung cuộc về tiến trình hòa bình ở Trung Đông – nhưng giả sử có ai đó ở Ai Cập nghĩ về bà như là người bạn tốt nhất của Mubarak và một người nào đó ở vùng Vịnh nghĩ về bà kiểu như một Wolfowitz mắt hiếng [Wolfowitz là thứ trưởng quốc phòng dưới thời Tổng thống George Bush (con) và là người kiến tạo cuộc chiến đánh I-rắc sau vụ ngày 11 tháng 9. Ông được bổ nhiệm là giám đốc Ngân hàng thế giới nhưng đã phải từ chức sau mấy tháng vì vụ rắc rối liên quan đến việc ông tăng lương cho cô bạn gái người Trung Đông] hoặc đại loại vậy —

HRC: Ông có thể gọi tôi là mắt hiếng nhưng đừng so sánh tôi với chuyện đó. (Cười.)

JG: Nhưng tôi thấy điều này đáng lưu ý bởi vì bà nghe thấy, không chỉ ở đây [Bộ ngoại giao] mà còn ở Nhà Trắng nữa, người ta nói rằng, “Ồ, các anh tỏ ra quá chậm chạp trong chuyện Yemen hoặc quá chậm chạp trong chuyện này” —

HRC: Ý tôi muốn nói là học thuyết của tôi là Học thuyết Goldilocks [Goldilocks là tên cô bé trong câu chuyện dành cho trẻ em có tên “Câu chuyện về cô bé Goldilocks và ba con gấu”, cốt truyện hơi giống như Nàng Bạch tuyết và 7 Chú lùn] – không nóng quá, không nguội quá, nhiệt độ chỉ vừa vặn thích hợp.

JG: Tôi hiểu ý bà định nói gì. Nhưng hãy cho phép tôi nhắc lại câu hỏi này: Bà giải quyết cách nào với sự đạo đức giả, tức là bà đối xử với một một nước theo một cách và đối xử với một nước khác theo một cách khác?

HRC: Tôi không làm thế. Tôi thành thật tin rằng không nơi nào giống nơi nào. Có những khuynh hướng, song tôi suy nghĩ là sau khi Bức tường Berlin sụp đổ thì nước Đức đã phản ứng như thế nào và Ba Lan đã phản ứng như thế nào, chúng ta không thể nói rằng có một cái mẫu chung vừa vặn cho tất cả.

JG: Nhưng như thế sẽ dễ dàng hơn.

HRC: Tôi không biết có dễ dàng hơn không. Ý tôi định nói là tất cả chúng ta đều là tù binh của trải nghiệm của chính chúng ta. Chúng ta có thể nhìn vào thời kỳ quá độ đi tới dân chủ ở các nước Mỹ La Tinh và ở châu Âu – hãy nhìn vào Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Không có hai nước nào giống hệt nhau. Có thể có những khuynh hướng chung, và chúng ta hi vọng các nước cùng đi tới được điểm đến giống nhau ở cuối hành trình, nhưng Yemen hoàn toàn khác với Libya, trên mọi phương diện mà chúng ta có thể nghĩ tới.

JG: Hãy dành một chút thời gian để bàn về tiến trình hòa bình ở Trung Đông. Người Israel và rất nhiều người ủng hộ họ ở Mỹ sẽ nói “Xem kìa, cuộc nổi loạn của người Ả-rập đang chứng minh rằng người ta không lo ngại về những người Palestin; người ta đang lo ngại về một sự thiếu trách nhiệm giải trình của các chính phủ v.v. cơ hội kinh tế –”

HRC: Các nước đang lo ngại về cả hai.

JG: Mùa Xuân Ả-rập có liên hệ thế nào với tiến trình hòa bình ở Trung Đông? Và Mùa Xuân À-rập có tác động thế nào, tác động bất lợi hoặc tác động tích cực?

HRC: Điều tôi suy nghĩ tới nhiều là sự sắp xếp thành trình tự, Jeff ạ. Ngay lúc này đây, người dân ở Ai Cập, chẳng hạn, đang tập trung nhiều vào tương lai của chính họ. Điều này không có nghĩa là sự xung đột giữa Ả-rập và Israel không được đặt ra, bởi vì vấn đề này đã được đặt ra khi tôi tới đó, nhưng nó không xuất hiện như là vấn đề duy nhất mà mọi người muốn nói với tôi, điều này trong quá khứ đôi khi cũng đã xảy ra. Đã từng xảy ra, chẳng hạn, “Thôi được, tạm thời chúng ta phải tôn trọng hòa ước ký ở Trại David, nhưng các ông biết là chúng ta sẽ phải nghiên cứu vấn đề này khi chúng ta có một chính phủ mới, sau khi chúng ta đã ổn định hơn, chúng ta sẽ tìm hiểu xem mối quan hệ của chúng ta thực sự là gì. Nước Mỹ không phải là một người tự động ủng hộ cho tiến trình hòa bình ở Trung Đông, nhưng hiện tại thì chúng ta buộc phải để cho nền kinh tế tiếp tục hoạt động, chúng ta phải để cho giai đoạn chính trị quá độ được hoàn thành cái đã.”

Như vậy, vấn đề không giống như là gạt nó ra khỏi chương trình nghị sự. Nó chỉ đơn giản là đang kẹt ở trong một góc nào đó cho tới khi các vấn đề khác đã được giải quyết xong. Nhưng nếu chúng ta tiếp xúc với Vua Abdullah của Jordani thì sẽ thấy là tiến trình hòa bình ở Trung Đông vẫn là vấn đề rất lớn trong suy nghĩ của người Jordani, bởi vì họ sống với điều đó mỗi ngày.

JG: Như vậy là sự không tiến bộ có thể gây tác động bất lợi tới –

HRC: Chẳng có điều gì mà tôi lại không nhắc đi nhắc lại nhiều lần và tôi đã nói với các bạn bè Israeli là bởi vì tôi yêu Israel và tôi có quan điểm rất chắc chắn về tương lai. Tạm thời lúc này chúng ta có một chính phủ thế tục ở bờ Tây sông Jordan đã đem lại sự tiến bộ về kinh tế và đã có những tiến bộ về an ninh. Nhưng hiện nay Israel đang phải đối phó với một môi trường rất dễ thay đổi, và tôi dù thế nào đi nữa cũng không coi nhẹ mức độ khó khăn. Điều này đã xảy ra ở Ai Cập [thí dụ đầu tiên] và chúng ta đã thấy là người Israel bình luận là họ không chắc sự thay đổi ở Syria có đem lại lợi ích cho Israel.

JG: Tôi đang tự hỏi có phải điều này đã gây ra một sự ảnh hưởng nào đó tới cái cách chính phủ Israel đang bàn về [Syria] —

HRC: Chắc chắn tôi không thể không nhận ra điều đó. Tình hình ở Lybia hiện nay cũng không chắc chắn. Như vậy giờ đây Israel đang có những vấn đề thực sự và họ bắt buộc phải giải quyết theo những cách mới, trong khi đó những thay đổi vẫn tiếp tục diễn ra. Tôi vẫn tin rằng sẽ là vì rất nhiều lợi ích và an ninh của Israel nếu họ thực sự chuyển hướng sự chú ý tới tiến trình hòa bình và đề ra được một thỏa thuận thích hợp với Chính quyền Palestin vì sự giữ gìn an ninh cho Israel.

JG: Một câu hỏi cuối cùng về chủ đề này: cách đây khoảng bốn năm tại văn phòng Thượng nghị sĩ của bà chúng ta đã bàn về Isreal và làm thế nào để Israel chấp nhận những nhượng bộ cần thiết vì nền hòa bình. Một trong những điều bà nói hôm đó đã khiến tôi chú ý ấy là, theo sự hiểu biết của bà về tâm lý của người Israel thì người Israel sẽ tiếp tục bàn đến những vấn đề này khi nào mà họ cảm thấy an toàn trong vòng tay ôm ấm áp của Hoa Kỳ –

HRC: Đúng.

JG: — khi họ biết rằng có người đứng đằng sau họ. Và khi họ cảm thấy bị Hoa Kỳ xa lánh, như họ đã từng cảm thấy như vậy trong hai năm đầu tiên của chính quyền hiện nay, thì họ trở nên ít có khả năng vận động. Điều này vẫn tiếp tục đúng hay chỉ đơn giản là Thủ tướng Netanyahu đang chứng tỏ không muốn vận động dù là có một vòng tay ôm ấm áp hay không?

HRC: Tôi nghĩ ông ấy có những mối bận tâm rất nghiêm túc cần phải giải quyết.

JG: Những mối bận tâm về an ninh quốc gia hay những mối bận tâm về quan hệ đồng minh?

HRC: An ninh quốc gia là mối bận tâm đầu tiên và quan trọng nhất của ông ấy. Nhưng điều hiển nhiên là ông ấy đang ở trong địa hạt chính trị. Tôi đã từng ở trong địa hạt chính trị. Ông ấy còn phải lo lắng đến lập trường chính trị của mình. Nhưng so với bất kỳ chính quyền nào khác trong quá khứ thì chính quyền này, chính quyền của Obama chắc chắn đã làm được nhiều điều hơn cho an ninh của Israel chỉ trong một thời gian ngắn. Sự hỗ trợ và ủng hộ của Mỹ dành cho Israel để giảm nhẹ mối lo ngại chính đáng về an ninh của Israel, công việc chúng tôi đang làm nhằm ngăn chặn Iran, các biện pháp trừng phạt mà chúng ta đã dàn xếp được trước sự ngạc nhiên của tất cả mọi người, sức ép của chúng ta đối với Iran – chúng ta đã thực sự phối hợp chặt chẽ với Israel trong những vấn đề quan trọng có ý nghĩa cơ bản đối với an ninh của Israel. Như vậy tôi cho là chúng ta phải đánh giá theo cách đó, bởi vì chúng ta chắc chắn sẽ thực hiện những điều đã cam kết.

***

(Jeffrey Goldberg là phóng viên của tờ The Atlantic. Ông là tác giả cùa cuốn sách viết về Trung Đông và châu Phi có đầu đề Những người tù: một câu chuyện về tình bạn và sự khủng bố[Prisoners: A Story of Friendship and Terror]. Cuốn sách này đã được các báo Los Angeles Times,New York Times, Washington Post, Slate Magazine, Progressive, Washingtonian MagazinePlayboy ca ngợi là cuốn sách hay nhất của năm 2006.

Trước khi là phóng viên của tờ The Atlantic vào năm 2007, Jeffrey Goldberg là phóng viên của tờNew Yorker chuyên viết về Trung Đông và Washington. Trước đó ông là phóng viên của tạp chíNew York Times Magazine, và New York Magazine. Ngoài ra ông còn viết cho tờ Forward và phụ trách một chuyên mục của tờ The Jerusalem Post.

Năm 2003 Goldberg nhận giải thưởng National Magazine Award vì thành tích đưa tin về khủng bố Hồi giáo. Ông còn được giải của Tổ chức Quốc tế Phóng viên Điều tra [International Consortium of Investigative Journalists]; giải thưởng của Overseas Press Club vì những bài báo xuất sắc viết về nhân quyền và giải thưởng Abraham Cahan Prize về nghề làm báo. Năm 2005 ông nhận giải thưởng Daniel Pearl của Liên minh chống phỉ báng người Do Thái [Anti-Defamation League Daniel Pearl Prize].

Người dịch: Hiền Ba

NHỮNG CON BÒ SỬA VIỆT NAM

LTS: Chúng tôi trang trọng gởi đến quý độc giả bài viết dưới đây ,có tựa “những con bò sửa Việt Nam” ,một bài viết có cái nhìn chính xác về tình trạng những người tỵ nạn Cộng sản giờ đây về lại xứ sở nơi mà cách đây 35 năm ,kẻ cầm quyền đã khinh bỉ,coi họ như rác rưởi…. Trong bài viết này chúng ta cũng nhìn thấy được quan điểm của chính phủ Mỹ đối với những người Quốc gia,những người được họ gọi là đồng minh…Thật chua xót,đọc để chất vấn lương tâm mình,một con người tỵ nạn đúng nghĩa có nên trở về Việt Nam làm tay sai cho quân thù để quân thù rảnh tay đàn áp đồng bào( có nhiều hình thức làm tay sai về nhiều lảnh vực: kinh tế,xã hội….).

Không ai thấm thía cảnh nước mất nhà tan như dân tộc Việt,một tết Mậu Thân,một mùa hè đỏ lửa…. Hàng tiệu người cùng màu da với mình đã chết…không ai thấm thía và oán hận như người dân Mỹ trong sự kiện ngày 11 tháng 9,hai tòa nhà thương mại ở Nữu Ước bị thiêu rụi,hàng ngàn người chết.

Kính thưa quý độc giả !

Thế mà có những kẻ làm chính trị xôi thịt ,những kẻ bán rẻ lương tâm vì danh ảo và một ít tiền lẻ…Bám đuôi những tài phiệt tay sai và, những kẻ lớp già thiếu ý thức ủng hộ cho lớp kế thừa làm những con rối,cung nghinh giới lảnh đạo của Mỹ,những tế bào nô lệ đã phát triễn trong những bộ óc nô dịch hóa đang hoành hành ở trong cộng đồng người Việt tỵ nạn. O bế ,mặc cả để trao đổi ,ngay cả lá cờ Việt Nam Cộng Hòa ,một tài sản duy nhất được mang theo của người tỵ nạn cũng được đem ra đổi chác . Những đầu óc nô dịch không làm được gì lợi ích cho công cuộc tranh đấu chống Cộng,ngược lại không những cản trở mà còn làm ô nhục giống nòi Lạc Việt . Một sự kiện xảy ra hồi năm 2009,một sự kiện làm nhục người Việt tỵ nạn,mạt sát người Quốc Gia ,sự kiện này là ông Thống Đốc tiểu bang California Arnold Schwarzenegger thuộc đảng Cộng Hòa,thị trưởng San Francisco Gavin Newsom thuộc đảng dân chủ (ông này vừa đắc cử phó thống đốc tiểu bang California vào tháng 11 năm 20010 vừa qua),và phó chủ tịch Thượng Viện California Leland Y.Yee(dân chủ)đã gởi thư và tuyên cáo cho tòa Tổng lảnh sự VC Lê Quốc Hùng để công nhận ngày 2 tháng 9 là ngày Quốc khánh Việt nam và cũng là ngày truyền thống của cộng đồng người Mỹ gốc việt. Tưởng cũng nên nhắc lại là các ông này đã từng vinh danh cờ Việt nam Cộng Hòa . Chúng ta đã học được bài học ở chính quyền Mỹ khi “Đồng Minh tháo chạy”. Thật đớn đau nhất là sự đớn đau khi những tế bào nô dịch đã phát triễn trong tầng lớp kế tiếp của cha ông thuộc VNCH,tiểu bang Washington đã lộ rỏ nhất ( BM đã đưa ra). Vinh danh cờ vàng ba sọc đỏ hay hạ nhục??? Chúng mời quý độc giả đọc bài viết dưới đây,có lẻ những thấm thía còn mãi .Sau bài viết này 1 tuần chúng tôi sẽ post những youtube cuộc nói chuyện của hai ông Ngô Kỷ và Đỗ Vinh để quý độc giả tường tận vấn đề CÁC NGÀI DÂN CỬ MỸ HẠ NHỤC CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN. Hãy gột rửa óc nô dịch thì may đâu công cuộc tranh đấu cho Việt nam có Tự Do,Dân Chủ mới thành công.

NHÓM CHỦ TRƯƠNG BIA MIỆNG LÊN ÁN VIỆC LÀM CỦA CÁC ÔNG DÂN CỬ :THỐNG ĐỐC CALIFORNIA,THỊ TRƯỞNG SANFRANCISCO VÀ PHÓ CHỦ TỊCH THƯỢNG VIỆN CALIFORNIA VỀ VIỆC GỞI THƯ VÀ TUYÊN CÁO CHO TỔNG LẢNH SỰ VC LÊ QUỐC HÙNG VỚI NỘI DUNG XỈ NHỤC NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN CỘNG SẢN.

B.M

Những con bò sữa VN-

Cách đây 32 năm, trên chiến hạm chỉ huy Blue Ridge, thuộc Hạm Đội thứ 7, các ký giả ngoại quốc đã thấy hàng ngàn những chiếc thuyền nhấp nhô như lá tre trôi trên biển. Nguời ta thấy những chiếc thuyền đủ loại, đủ cỡ của những nguời Việt Nam dầu tiên bỏ chạy Cộng Sản. Họ là ai, số phận họ sẽ ra sao sau này? Chẳng ai trong số những ký giả trên và ngay cả những người ngồi trên những chiếc thuyền dó có thể tiên đoán được điều gì?

Người ta nhận thấy có nhiều ký giả Mỹ và một số những nhân vật trong chính quyền Mỹ trên chiến hạm Blue Ridge. Chẳng hạn như Frank Snepp, tác giả các cuốn sách: Decent Interval và An Insider Account of Saigon, David Halberstam với The best and the Brightest và một số người khác như H.R. Haldeman, Stanley Karnow.

Karnow nhìn David Halberstam như chế nhạo nói:

-Này anh, công cuộc di tản này hẳn có sự đóng góp công sức của những người như anh?

Halberstam dáp:

-Anh nói không sai, nhưng điều đó chứng tỏ sức mạnh của người Mỹ chúng ta nằm ở chỗ nào? Ðâu có phải chỉ có sức mạnh của B52? Anh đồng ý chứ? Và hôm nay, chúng ta là những nhân chứng duy nhất và cuối cùng chứng kiến cảnh tháo chạy này. Và tôi nghĩ rằng đó là trách nhiệm của tôi và anh ở đây.

Karnow:

Phần tôi, sẽ không bao giờ quên được câu chuyện ngày hôm nay. Tôi cảm thấy xấu hổ cho nước Mỹ.

Trên ca bin chỉ huy trưởng của chiến hạm, người ta nghe tiếng đối đáp của ông chỉ huy trưởng với Henry Kissinger. H. Kissinger hỏi viên chỉ huy trưởng:

-Ông có biết bây giờ là mấy giờ ở Hoa Thịnh Đốn không? Trong một giờ nữa mà ông Đại Sứ Martin không có mặt trên chiến hạm của ông thì kể như cuộc triệt thoái của người Mỹ là một thất bại?

-Thưa ông Kissinger, tôi được biết, ông Đại Sứ còn nán lại dể cứu vớt những người Việt Nam cuối cùng cần phải được cứu vớt.

Kissinger cáu kỉnh quát trong ống nghe:

-Anh nói với ông ta là lệnh của tôi, ông ta phải lập tức rời VN. Tôi không cần biết phải cứu ai. Sao cái bọn ‘chó chết’ dó không chết phứt đi cho rồi.

Stanley Karnow nghe được cuộc điện đàm đã đưa ra nhận xét: Ông Kissinger và Lê Đức Thọ nói cùng một thứ ngôn ngữ. Ông Thọ cũng gọi bọn người đang lố nhố trốn chạy dưới kia là những đống rác rưởi mà chúng tôi cần tống ra biển. Cả người Mỹ và kẻ thù của họ đều coi VN như một thứ rác rưởi cần phải tống khứ đi cho rồi.

Chẳng bao lâu sau, dại sứ Martin đã có mặt trên chiến hạm và ông đã nhận được một công diện của H. Kissinger đánh đi như sau: “Người Mỹ đến Việt Nam như thế nào thì khi rút đi cũng như vậy. Ðó là thành công của ông, của chúng ta. Congratulations! “

Ngay sau đó, Đại Sứ Martin nhận được từ dưới bong tầu chỉ huy, một cựu tướng VN muốn xin gặp. Ông Martin đã từ chối và nói với viên sĩ quan tùy tùng nhắn lại:

“Nói với ông ta, ở đây không phải Sài Gòn mà là nước Mỹ trên biển. Hiện nay, chúng tôi coi ông ấy như một người ‘ vô tổ quốc’. Phải cởi bỏ lon chậu và không được tuyên bố điều gì.”

Người tùy tùng tuân lệnh và nói thêm rằng, ông cựu tướng đó dơ hai tay lên trời với cử chỉ tuyệt vọng, ngửa mặt lên trời và kêu lên rằng:

“Ta thề có trời đất, một ngày nào đó, ta sẽ trở về.”

Lúc này, có lẽ chữ bỏ chạy là đúng nghĩa nhất. Chỉ biết bỏ chạy đã. Số phận họ ra sao không ai dám nghĩ tới, ngay cả đối với kẻ lạc quan nhất. Và đã có hon 100.000 ngàn người trong số 250.000 ngàn người như thế đã được vớt đi định cư từ các chiến hạm của hạm đội 7.

Cuộc ra đi thật bi tráng và tuyệt vọng dến tức tưởi!

Số phận họ có khác gì những con thuyền lênh đênh trên biển cả như những lá tre? Vâng những lá tre trên một đại dương mà lẽ sống chết đang chờ đợi họ. Bằng mọi giá, họ đã ra đi mà nếu nay ngồi nghĩ lại, nhiều người không mường tượng nổi, họ dã có thể làm một điều như vậy. Những cái “sô” vớt người trên biển trong tuần lễ cuối cùng của tháng Tư và đầu tháng Năm của người Mỹ cũng nói lên được điều này: Người Mỹ có thể làm được tất cả mọi việc một cách quy mô, hoành tráng, ngay cả việc trốn chạy.

Ðó là những thuyền nhân Việt Nam đầu tiên chạy trốn làn gió chướng từ trong dất liền đã thổi giạt họ ra biển…

Hãy cứ tưởng tượng, trong số 250 ngàn người đó, ít ra cũng đến phân nửa ở tuổi vị thành niên, Cái hình ảnh người lếch thếch, lang thang với từng đoàn người người nối đuôi nhau chạy trốn. Và nếu cần nói một điều gì về lúc đó, về tâm trạng những người bỏ chạy thì có thể tóm tắt trong một câu: Tất cả đều hoang mang và không có một chút hy vọng gì về tương lai cả.

Và cứ như thế, các con số thuyền nhân trốn khỏi Việt Nam càng gia tăng theo nhịp độ của những chính sách của Hà nội như “đi vùng kinh tế mới”, “học tập cải tạo”, “đánh tư sản, mại bản”, và cuối cùng “đi bán chính thức” nhằm vào giới Hoa Kiều. Cứ mỗi một đợt chính sách lại thêm số người trốn ra đi khỏi nước. Tổng cộng dã có gần hai triệu người trốn đi như thế. Đấy là còn chưa kể những người để lại xác trên biển cả. Con số này chẳng ai biết là bao nhiêu? Và cũng chẳng ai có thì giờ tìm hiểu làm gì. Người chết thì đã chết. Phải vậy không? Tiếc nuối rồi cũng nguôi ngoai để lo sinh kế, miếng ăn trước đã.

Tất cả những chính sách vừa kể trên của nhà cầm quyền CS là nhằm đánh vào những thành phần phản động, ngụy quân, ngụy quyền, tay sai Mỹ Ngụy. Và đối với nhà cầm quyền lúc ấy, chỉ có hai cách để làm ‘vệ sinh miền Nam ’ là: Tống xuất bọn rác rưởi ra biển hoặc cho đi tù cải tạo.

Nhưng chính thức thì có thể quả quyết rằng, nhà nước không cưỡng bức một ai phải bỏ xứ ra đi, và cũng không giữ một ai muốn ra nước ngoài sinh sống. Và cuối cùng để giữ thể diện hoặcđể trao đổi trong thương thuyết, nhà nước Cộng Sản đã đồng ý với Liên Hiệp Quốc theo một chương trình “ra đi trong vòng trật tự” (Orderly Departure Program). Thảm cảnh thuyền nhân trên biển vì thế đã giảm mức độ.

Tất cả câu chuyện, những thảm cảnh trên biển cả nay đảo ngược trở thành cái mà Michel Tauriac trong Hồ sơ đen của Cộng sản (Le dossier noir du Communisme ) tóm tắt đầy đủ ý nghia tóm gọn trong một câu “Những con bò sữa thuyền nhân”.

Gió đã đổi chiều, gió chướng đã thổi họ ra biển, nay ngọn gió nào đã đưa họ về? Hình ảnh thật biểu tượng và gợi hình. Thật vậy, tất cả những con bò sữa thuyền nhân đã ra đi với hai bàn tay trắng để lại tiền bạc, nhà cửa ruộng vườn. Họ đã vắt được bao nhiêu sữa ở những con bò đó? Vắt lúc ra đi và nhất là vắt lúc trở về. Việc ra đi theo diện người Hoa, đi bán chính thức hay việc quản lý nhà cửa đất đai, tài sản nằm trong tay Bộ nội vụ. Công việc bộ này là đảm trách và tổ chức nhằm “nhổ sạch lông” những bọn người lưu vong này. Kẻ rỗi hơi ngồi tính nhẩm chuyện nhổ sạch lông này đem lại cho nhà nước ít nhất là 25 tấn vàng. Nhưng 25 tấn vàng vẫn là chuyện nhỏ. Vẫn là chuyện vắt đi. Vắt lại mới là quan trọng.

Và để gợi những thuyền nhân thì có nhiều tên gọi tùy theo thời kỳ: lúc đầu là bọn bán nước, bọn tay sai. Cho mãi đến năm 1990, cũng còn có người gọi Việt kiều là những tên Việt gian. Nói chung họ coi đó là thành phần rác rưởi của chế độ cu, muốn thải loại, muốn tống đi cho rảnh mặt. Và gọi một cách vô tội vạ nhất là người nước ngoài. Nghia là có sự phân biệt đối xử giữa người trong nước và ngoài nước. Sau này chữ được dùng hon cả là Việt Kiều.

Xin nhắc lại vụ án tàu Việt Nam Thương tín để chúng ta hiểu rõ Cộng Sản hon. Trên báo Quân Ðội Nhân Dân, số ra ngày 3/7/77, trang ba viết như sau:

“Luật lệ trừng phạt những kẻ phản cách mạng đã được ban hành ngày 19/11/76.” Khoản 9 của điều luật đã ấn định rõ như sau: “Tội chạy trốn theo hàng ngu địch hay trốn ra ngoại quốc vì những mục tiêu phản cách mạng sẽ bị phạt từ 3 đến 12 năm tù. Trong những trường hợp đặc biệt và nghiêm trọng tổ chức tội phạm sẽ bị kết án chung thân hay Tử hình.” Số phận những người đi tàu Thương tín và di tản, nhất là giới trẻ đã bị phát tán đi Lào Cay, Thái Nguyên, Yên Bái…

Về phía những người Việt Hải ngoại, xin được nhắc mọi người đến những hoài niệm của những năm đầu ở Hải ngoại để cho thấy tâm trạng chúng ta lúc bấy giờ như thế nào? Những nhà văn đã thay chúng ta nói lên những tâm trạng đó. Có thể là bài viết của Nguyễn Ðình Toàn: Sài Gòn, niềm nhớ không không tên, kỷ niệm 30/04. Và nỗi ray rứt trong tập tho mỏng của Cao Tần nói lên đủ.

Vài câu tho góp nhặt đó đây để cùng nhớ lại:

Thù quê hương như tên hề ốm nặng

Hôn tang thương sau mặt nạ tươi cười

Ôi trong ví mỗi người dân mất nước

Còn một oan hồn mặt mui ngu ngo

Thù hận bọn làm nước ông nghèo xí

Hận gấp nghìn lần khi chúng đánh ông vang

Nếu mai mốt bỗng đổi đời phen nữa

Ông anh hùng ông cứu được quê hương

Ông sẽ mở ra nghìn lò cải tạo

Lùa cả nước vào học tập yêu thương

Và trong số Văn Học Nghệ Thuật, số 1, có bài phỏng vấn người nhạc si tài danh với câu trả lời: “Buồn lắm. Nhớ Việt Nam quá. Thương quá Việt Nam .” nói theo kiểu Phạm Thế Mỹ. Và cứ thế. Ai là người tuôn ra những câu tho ở thị trấn giữa đàng những ngày tháng tư đen:

Xin cúi đầu mình xuống

Khóc quê hương, trói trong tay bạo cường.

Xin cúi đầu một phút

Nhớ anh em, sống trong ngục, trong tù

Nuôi cho sâu hận thù

Mong và chờ, về Việt Nam ước mo

Một ngày bảy lăm, đứng ở cuối đường

Loài quỷ dữ xua con ra đại dương

Đời hai lần ta bỏ que, bỏ nước

Phải nuôi ngày sau về ôm tổ quốc …

Ta phải về, ta chiếm lại quê huong

Ta phải về xây lại đời ta

Ta chống Cộng, ta không trốn Cộng

Ta và cả trăm ngàn đồng hương

Mai nay rồi, ta về VN mến yêu.

Thời ấy nay còn đâu.

Rồi cứ như thế sau thời kỳ mở cửa mà số lượng người Việt về nước cũng như kiều hối đã bắt buộc mọi người phải thay đổi lại thế nhìn, thế bắn. Không ai có thể từ chối được những món quà, không phải 10 đô la trong ngày lễ Noel mà là 3 tỉ đô la. 3 tỉ đô la tình nghia hàn gắn những vết sứt sẹo, những lời nói mà bình thường chỉ được coi như kẻ thù.

Gió đã đổi chiều, nên ngôn ngữ cũng đã đổi theo. Những chiếc thảm đỏ đã trải dài từ phi trường Tân Son Nhứt đến Nội Bài, chạy thẳng vào Bắc bộ Phủ. Thật là trớ trêu đến nực cười. Lúc ra đi trốn chui, trổn nhủi, lúc trở về thảm đỏ dưới chân.

Những thành phần rác rưởi ta vừa nói ở trên, những con bò sữa đã vắt cạn chẳng bao lâu sau trở thành rác quý mà người ta có thể chế biến thành những sản phẩm, những vật liệu để xây dựng một nước Việt Nam hùng mạnh. Ðã chẳng ai ngờ điều đó đã xảy ra. Rác rưởi cứ thể đổi hình, đổi dạng mà tính ra tiền bằng những sản phẩm mới.

Những anh thuyền chài có thể ra đi vỏn vẹn chiếc quần đùi nay chễm trệ ngồi Mercedes. Những mệnh phụ nói tiếng Mỹ oe oé. Kể gì đến những hiện tượng nhỏ nhoi đó. Ðã có rất nhiều thay đổi tràn đầy hy vọng như thế đối với giới người Việt di tản, nhất là noi người trẻ. Họ không còn là cô nữ sinh cười e lệ, hỏi không dám mở lời. Ngày nay họ là những chuyên viên hàng đầu của xã hội Mỹ. Có những người trong bọn họ đã làm ra số vốn bạc tỷ. Có người trong bọn họ, cùng với bạn đầu tư nửa tỷ đô la tại noi mà trước đây được coi là thánh địa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, Củ Chi với những địa đạo, noi tự hào về cuộc chiến thần thánh trong tương lai trở thành biểu tượng “thung lũng của ngành tin học”.

Và cái kim chỉ đường cho người Việt tương lai là hãy nhìn vào giới trẻ đang lên. Họ chiếm đa phần. Tương lai thuộc về họ, đời sống thuộc về họ, cộng đồng VN là họ. Không phải do một thiểu số những người lớn tuổi. Những người bỏ nước ra đi đã chỉ nhớ cái phần đầu câu chuyện mà quên phần cuối. Những câu truyện do người lớn kể ngày càng nhạt phèo như nước ốc. Phải chăng thời của họ đã hết? Họ bám víu vào những bèo bọt mà chính họ cũng chẳng còn thiết tha gì. Nhưng nếu không bám víu vào đó thì họ còn gì là họ?

Phải chăng cuộc ra đi bất hạnh nay đã trở thành đại hạnh cho chính mình, cho con cháu mình, cho cái noi mình đi tới và cả cái noi mà từ đó mình đã ra đi?

Hãy nhìn vào những con số để nhận ra câu chuyện thần thoại về người Việt di tản. Năm 1987, mới chỉ có 8 ngàn người về thăm quê hương, đến năm 1993 thì con số tăng lên 160 ngàn người, đến năm 2002 là 380 ngàn người. Con số tự nó nói lên điều gì rồi và người ta bắt đầu vỡ lẽ ra. Bên cạnh đó, kiều hối đem lại một sốn tiền tươi là 2 tỷ 6 đôla trong năm 2003. Hãy làm một so sánh cho rõ. Năm 2003, Việt Năm xuất khẩu được 20 tỉ đôla, trừ vốn liếng cho sản xuất, lời ròng của 20 tỷ vị tất đã được 5 tỷ?

Có một điều, nhiều người vô tình quên là năm nay có 2 triệu lượt khách đến Việt Nam. Cứ giả dụ, mỗi người khách tiêu 2000 đô la đầu người. Số tiền thu được sẽ là bao nhiêu? Trong số 300.000 người Việt về thăm quê hương, cứ cho là vừa tiêu xài, vừa cho bà con họ hàng, ở từ hai tuần đến một tháng, mỗi người đổ đồng chi tiêu 4000 đô la cho một chuyến về thăm quê hương, cán cân ngân sách cũng như nền kinh tế Việt Nam đã được kích cầu lên không nhỏ.

Tiềm năng thật lớn. Tương lai cũng đầy hứa hẹn. Ðó là nền kinh tế sống nhờ trên những kỹ nghệ không khói. 10 năm nữa, dự đoán số khách du lịch là 10 triệu người mỗi năm như Thái Lan hiện nay, với các đường bay thẳng Sàigòn-Mỹ, Sàigòn-Âu Châu. Chuyện đã xảy ra và chắc sẽ xảy ra. Lúc đó, tiền đổ vào qua du lịch không phải là nhỏ nên hiện nay trên hầu hết 60 tỉnh thành của VN đều có khu du lịch đủ kiểu.

Điều đáng nói hon nữa là nay có một số Việt Kiều về nước kinh doanh đầu tư với gần 100 dự án được chấp nhận với số vốn đầu tư con số xấp xỉ một tỉ đô la. Những Việt kiều như Nguyễn Chánh Khê với phát minh chế tạo thành công Carbon Nanotube (áp dụng vào việc sản xuất mực in và các sản phẩm công nghệ cao khác) không phải là hiếm. Dự án khu khách sạn Sofitel Vinpearl Resort–Spa, 5 sao, tại đảo Hòn Tre nay đã thành sự thực. Nha Trang đã khánh thành khu Vinpearl Resort vào cuối năm với số tiền đầu tư là 500 tỉ đồng. Phần lớn các số tiền đầu tư này tập trung vào linh vực công nghiệp, tin học, lắp ráp, du lịch.

Cũng vì thế, nhà nước đã chẳng tiếc lời gọi Việt Kiều là những người con của đất nước. Những lời lẽ trân trọng mật ngọt đã hẳn là không thiếu.

Gió chướng đã không còn nữa. Gió đã đổi chiều, ngôn ngữ đổi chiều, giọng lưỡi đổi giọng. Không còn có chữ nghĩa làm đau lòng nhau nữa. Trên tất cả các sách báo, trên các trang nhà, không còn có thể tìm thấy bất cứ thứ chữ nào nói xa nói gần đến chế độ miền Nam trước đây nữa. (1) Những chữ như bọn ngụy quân, ngụy quyền và bọn tay sai đã không tìm thấy trong tự điển của bộ chính trị nữa. Ngược lại không thiếu những chữ mật ngọt như “Tổ quốc Việt Nam , quê hương thân thiết luôn giang rộng vòng tay chào đón những người con xa xứ.” “Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt nam định cư ở nước ngoài giữ gìn quan hệ gắn bó với quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước”.

Luật quốc tịch điều hai thì viết rõ ràng thế này: “Người Việt Nam ở nước ngoài là công dân Việt Nam . Người Việt nam ở nước ngoài là bộ phần không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam .”

Nhà nước lại còn trích dẫn câu nói của ông Hồ mà không ai tự hỏi xem ông nói lúc nào và bao giờ: “Tổ quốc và chính phủ cũng luôn luôn nhớ thương đồng bào, như bố mẹ thương nhớ những người con đi vắng.” (Hồ Chí Minh nói với kiều bào ở Thái lan về nước năm 1960.)

Từ Sài Gòn ra biển đông (30/4/1975)

Hình như người ta đã quên cái cảnh bồng bế xô đẩy nhau lên máy bay và bằng bất cứ giá nào phải đi bằng được. 32 năm sau, câu chuyện kể về thuyền nhân chỉ còn là di vãng mà cả bên này bên kia, nhiều người đã quên hoặc cố tình quên.

Thật ra không hẳn là như vậy. Nhà nước chính quyền hoan hỉ nhận những đồng tiền đô la từ mọi noi gửi về cũng như người Việt mang tiền về nước. Mang tiền về thì được chứ đừng mang chữ về. Chữ hiểu theo nghia rất rộng là sách báo, tư tưởng, âm nhạc, nghệ thuật. Từ khi có nhà nước Cộng Sản đến nay, chữ vẫn là độc quyền tuyệt đối nằm trong tay đảng. Nó nằm trong một hệ thống khép kín: Chủ nghia hay ý thức hệ bạo lực khủng bố và một chính quyền toàn trị. (Ideology, terror and totalitarian government).

Chẳng lạ gì, trước khi về VN, người ta thường khuyên có một diều duy nhất: anh muốn làm gì thì làm: chẳng hạn cờ bạc, choi bời đủ kiểu, tắm đủ kiểu, phòng trà đủ kiểu, âm nhạc đủ kiểu, cà phê đủ kiểu, gái đủ kiểu, sex đủ kiểu, ngủ trưa đủ kiểu, ngủ tối đủ kiểu, ăn đủ kiểu, vừa ăn vừa choi đủ kiểu, đi điếm đủ kiểu, hối lộ đủ kiểu, lưu manh lường gạt đủ kiểu, gian trá đủ kiểu, buôn bán mánh mung đủ kiểu, làm giầu đủ kiểu, đầu co đủ kiểu, công an đủ kiểu, phường khóm đủ kiểu, công ty đủ kiểu, co quan đủ kiểu, chính quyền địa phương đủ kiểu, chính quyền trung ương đủ kiểu, luật pháp đủ kiểu, thằng ăn cắp xử thằng ăn cướp đủ kiểu và cuối cùng xã hội lọan đủ kiểu.

Ta có quyền đủ kiểu hết, miễn là đừng đụng đến chính trị. Vì trên hết, vẫn có một nhà nước toàn trị ở trên tất cả những đủ kiểu đó. Trước khi lên máy bay về nước, còn dặn với theo: nhớ nhé đừng đụng đến chính trị.

Mặc dầu vậy, ngày nay, có nhiều bà con Việt Kiều tính về ở hẳn VN. Có người trong đám này về Việt Nam dưỡng già với xe hoi SUV. Trong vòng 10 năm nữa, khi xa lộ đông tây hoàn thành, khi 6 tuyến xe điện ngầm xây dựng xong, đường hầm Hải Vân nối liền Nam Bắc hoàn tất thành phố Sàigòn sẽ thay mặt đổi tên chẳng còn ai nhận ra nó nữa.

Nay ở Sàigòn, đã có những khu nhà “Làng Việt Kiều”. Người ta dự trù có 4 khu như thế, với những biệt thự sang trọng, đủ tiện nghi như ở Mỹ , Canada . Người ta thấy những Việt Kiều lái những chiếc xe SUV, hay ngồi nhâm nhi ly rượu cocktail bên bờ sông Sàigòn. Những căn nhà có những bãi cỏ xanh, mái nhà mầu cam kiểu California , có những hàng dừa cọ, những hồ boi với những hàng chữ tiếng Anh: “Welcome!” Ðây là, chẳng phải ai khác, mà là những người di tản, những rác rưởi 32 năm về trước chạy trốn Cộng Sản, hoặc đã bị đi tù, đi cải tạo.

Gió chướng đẩy họ ra đi, nay gió nào đẩy họ về?

Chẳng hạn, anh chàng Võ Quy, kèm theo cái tên Larry. Và vô số những tên như thế Catherine, Julie, Elizabeth, Brigitte, Linda…. Nay Võ Quy đã gần 70 tuổi, trước đây là một si quan không quân, quân đội VNCH. Anh ta ta đã rời bỏ vùng Southern Califronia cách đây 6 năm cùng với vợ, Linda, còn có tên cúng com là Ngọc để về ở đây. Anh ta khoe căn nhà với vẻ hãnh diện không cần dấu diếm với đồ dùng toàn bằng Inox (thép không rỉ), phòng tắm lớn có vòi tắm hoi, thiết trí theo kiểu Jacuzzi của Ý. Sàn nhà mầu hồng bóng lộn.

Anh còn chỉ cho thấy và nói thêm: “Không phải cẩm thạch đâu nhé, đá hoa cương thứ thiệt đấy. Thiệt là quá rẻ, còn rẻ hon ở Hoa Kỳ rất nhiều.” (2)

Thiệt là Việt Kiều.

Một anh khác tên Hoàng Tiến, chả bù cho lúc ra đi lếch thếch, lang thang, nay anh trở thành chủ nhà thầu đang có những kế hoạch xây cất nhà cho Việt Kiều với những dự án “thành phố xanh” (Green city).

Cái điều oái ăm đến quái gở là khi ở Mỹ, người ta bằng mọi cách nhắc nhớ đến Sài goon, tìm cách đặt tên Little Saigon, Phở Bắc, bánh mì Tân Ðịnh, bánh cuốn Ðakao, Restaurant Hoài Hương, Phở Hà Nội, Brodard restaurant, phở Nguyễn Huệ để nhớ về miền Nam thân yêu. Nay ở Việt Nam thì người ta lại muốn đặt tên cho những khu thương xá là “tiểu Cali ” , “tiểu Fairfax ” để nhớ đến. Và cứ như thế, sẽ có một số người Việt gốc Mỹ sống riêng biệt trong những tiểu quốc, Mỹ Hóa của họ bên cạnh những người Việt bản xứ.

Khi ở Mỹ thì họ nhớ Việt Nam , khi ở Việt Nam họ lại tiếc lối sống Mỹ. Họ trở thành người ngoại quốc trước mắt những người đồng bào của họ. Họ tưởng về quê thật, nhưng lại mang tâm trạng một thứ chủ nhân, cách biệt với dân bản xứ. Và điều rõ rệt là Hoàng Tiến đã bực tức về một căn nhà hàng xóm đã vứt những bao rác ra đường ngay cổng nhà anh ta, đã mở nhạc Karaoké tùy tiện ầm i cả lên. Anh bực tức nói: Như thế không phải lối sống Mỹ, không biết tôn trọng luật pháp. Như thế là thiếu văn minh.

Khi ở Mỹ thì anh muốn bảo tồn văn hoá Việt, không muốn trở thành một mẩu trong Melting pot hay Sálát Mỹ. Anh bắt con đi học tiếng Việt. Về Việt Nam , mở mồm là anh chỉ xổ tiếng Mỹ. Cái mâu thuẫn như thế rất là Việt Nam . Trong tương lai, Hoàng Tiến sẽ còn phải bực tức nhiều về những điều trái tai gai mắt: chẳng hạn một anh cán bộ phường cứ xồng xộc vào nhà chẳng điện thoại trước.

Riêng Nguyễn Anh, năm nay mới 35 tuổi về Việt Nam làm việc cho một công ty nước ngoài. Ra đi từ nhỏ, kể như không biết gì về Việt Nam , anh cũng không có ý ở hẳn VN.. Nhưng anh cũng có một vài nỗi khổ vặt khác. Nguyễn Anh sửng sờ khi làm một việc gì giúp người khác không nhận được một tiếng thanh kiu, thanh kiếc gì hết. Anh cũng khó chịu khi mọi người chen lấn không xếp hang khi trả tiền. Nhất là các cô thiếu nữ trông khả ái, dịu hiền, nhưng cũng huých tay chân như ai. Gần như mạnh ai nấy làm, mạnh ai nấy sống chen lấn chụp giựt.

Nguyễn Anh có hoi buồn về con người Việt Nam vốn có tâm hồn, vốn thương người mà một tai nạn xe cộ xảy ra đến chết người mà mọi người dửng dưng. Quả thực, tuy là người Việt Nam , nhưng anh lại không hiểu gì về người mình.

Lại nói đến giải trí, Nguyễn Anh không hiểu được là người Việt Nam “Xem thể thao” chứ không choi thể thao. Mấy triệu người thức đêm, bỏ công an việc làm, bỏ học để dán mắt vào đài truyền hình theo dõi một trận đá banh. Thật là vô lý vì hại sức khỏe. Chỉ có 22 cầu thủ thực sự choi thể thao, còn cả nước chỉ ngồi xem thể thao, chưa kể còn cá độ. Hình như cái gì ở Việt Nam cũng có thể trở thành cờ bạc.

Lại một điều nữa, Nguyễn Anh không hiểu được.

Nguyễn Anh thì chỉ thích đi đánh golf. Nhưng muốn choi ngon, Nguyễn Anh phải lấy vé máy bay ra Phan Thiết choi, vì ở đó có sân choi nổi tiếng là đẹp. Ít ra thì điều đó cũng làm Nguyễn Anh vui lòng. Nhưng có người thấy như thế thì lấy làm kỳ cục. Họ chép miệng, tội tình gì mà phải cất công như thể để choi Golf. Choi đâu chả được. Phí tiền nữa. Ngưyễn Anh không đáp lại, vì anh có cái lý của anh. Ðúng là anh thấy người Việt mê đá banh một cách kỳ cục. Nhưng ngược lại, họ cũng thấy anh không giống ai.

Còn về thanh niên, thiếu nữ thì chửi thề không biết ngượng mồm, nhất là thanh niên, thiếu nữ gốc Bắc. Mở mồm ra là địt. Sáng ra, chỉ hỏi giá cả món hàng đã bị một người con gái xinh đẹp phạng cho một câu.

Nói gì thì nói, nghi gì thì nghi. Thời gian sẽ xoá nhoà tất cả vết tích cu: thời gian cứ trôi qua, nhiệt tình chống Cộng giảm xuống và tình hoài hương lại trỗi dậy. Những vị lãnh đạo trong nước thì nghi rằng:

Nhân dân muốn quên hết mọi thứ. Những người này hiện ở đây vì đất này là tổ quốc của họ. Chúng ta không có quyền trách mắng họ. Chúng ta tiếp đón họ. Chúng ta không muốn để Việt kiều gây chiến tranh lần nữa.

Gió chướng đổi chiều đến đâu có thể còn chưa biết rõ được. Tôi tự hỏi bao giờ làn gió chướng đó cùng với con lốc đầu tư tư bản đánh bật chủ nghĩa Cộng Sản ra biển?

Chỉ có một điều tôi biết chắc rằng, ngay cả những người theo làn gió chướng đổi chiều, đã về VN. Họ cũng cảm thấy họ chẳng sung sướng gì, đôi khi tỏ ra buồn phiền, nghi kỵ, thất vọng không muốn nói ra. Ðó là trường hợp hợp ông Nguyễn Cao Kỳ. Ðó cũng là trường hợp một người trong số 17 người vừa được vinh danh “Vinh Danh Việt Nam – 2006″?

Tôi có cảm tưởng họ đang chơi một canh bạc giả, biết như thế mà vẫn chơi, chơi cho biết.

Gió chướng đã đổi chiều? Nhưng đổi thế nào thì còn chưa nói hay được. Bảng chỉ đường đất nước vẫn còn có thể chỉ trật đường. Xin dè dặt. Thận trọng và khôn ngoan để đừng thêm một lần nữa mắc mưu Cộng Sản lừa phỉnh.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: