Trần Trung Đạo: Cách mạng dân tộc dân chủ trong tình hình mới

Trần Trung Đạo

Lịch sử Việt Nam từ khi có Đảng Cộng sản đến nay là lịch sử của những ngộ nhận, và ngộ nhận lớn nhất là ngộ nhận giữa yêu nước và bán nước.

Bắt đầu từ hoàn cảnh cá nhân, tôi hay suy nghĩ về chiến tranh và đất nước. Như một lẽ tự nhiên, tôi cũng kết bạn với những người có ít nhiều thao thức về đất nước. Những đứa không cùng sở thích lần lượt xa dần. Từ một nhóm nhỏ thời trung học, sau thêm bạn từ các tỉnh khác khi lên đại học. Chúng tôi thường quây quần nhau ở một quán cà phê bình dân gần chợ Hòa Hưng. Quán không có tên nên chúng tôi đặt tên là Cà phê Lương Sơn Bạc để dễ hẹn hò nhau (ngày đó chúng tôi chưa đủ nhận thức để đặt tên quán là Cà phê Lũng Nhai). Với tôi, bạn bè không những chỉ là những người cùng thao thức, cùng lứa tuổi, mà còn là bóng mát, là gia đình vui buồn riêng của tôi.

Giống như nhiều gia đình sau biến cố 30 tháng 4, 1975, “gia đình” chúng tôi cũng trải qua một giai đoạn đấu tranh nội bộ trầm trọng. Có đứa ủng hộ chính quyền mới một cách nhiệt tình, có đứa miễn cưỡng phải tham gia để tồn tại trong xã hội đang thay đổi, nhưng cũng có đứa chống chế độ một cách quyết liệt. Dù ủng hộ hay chống đối, chúng tôi, những thanh niên nặng về lý luận hơn là hành động, cũng chỉ đấu tranh tư tưởng ở quán cà phê.

Ngày nọ, một người bạn đến nhà chào tôi để ra đi. Sau thời gian học tập chính trị ở trường, anh đã dứt khoát về quan điểm nên có thể sẽ không có thời gian để ghé Lương Sơn Bạc nữa. Anh không đi Mỹ, đi Tây gì nhưng tham gia một công tác khoa học của nhà nước. Anh cho tôi biết, tuy chưa đồng ý với lý luận của Đảng về cách mạng xã hội chủ nghĩa, anh tin cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân là đúng. Theo bạn tôi, đất nước không có con đường nào khác. Thái độ tích cực nhất của một người Việt Nam là xây dựng đất nước tốt đẹp hơn. Mọi chống đối chỉ làm cho dân tộc thêm điêu linh, thống khổ.

Bạn tôi là một người yêu nước chân thành. Chúng tôi đã từng ngồi yên lặng như âm thầm mặc niệm những người vừa chết khi nghe những bản tin chiến sự phát ra từ chiếc radio cũ kỹ của tôi. Chúng tôi đã từng san sẻ những ngậm ngùi chua xót mỗi khi nghe giọng hát Khánh Ly cất lên từ chiếc máy cassette nhỏ của bà chủ quán: “Huế Sài Gòn Hà Nội, hai mươi năm sao vẫn còn xa”. Chưa bao giờ hai chữ hòa bình quan trọng hơn thế. Chưa bao giờ hai tiếng thống nhất thiết tha hơn thế. Hai mươi năm, dải đất Việt Nam là những dòng sông máu, những khu rừng xương, những cánh đồng nhầy nhụa da thịt anh em. Phải chấm dứt chiến tranh. Phải có hòa bình. Không có chọn lựa nào khác.

Người bạn lớn hơn tôi vài tuổi nên dù chơi với nhau tôi vẫn gọi anh ta bằng anh chứ không mày tao như với vài người khác. Tôi nhớ là đã nói với anh: “Điều mà Đảng cần nhất ở anh là đồng ý với lý luận của họ về cách mạng dân chủ nhân dân, bởi vì, từ cơ sở đó, sớm hay muộn rồi anh cũng sẽ đồng ý với lý luận về cách mạng xã hội chủ nghĩa.” Anh không tranh luận. Anh chỉ ra đi. Anh ra đi như hàng triệu thanh niên miền Bắc đã băng rừng vượt suối ra đi, và cũng giống như hàng trăm trí thức tả khuynh miền Nam ngày đó ra đi. Họ bỏ tổ quốc mà đi nhưng cứ tưởng ra đi vì tổ quốc. Tất cả đã rơi vào chiếc bẫy của Đảng, và miếng mồi đặt trên chiếc bẫy không gì khác hơn là lòng yêu nước, khát vọng hòa bình và giấc mơ đoàn viên dân tộc.

Tôi thông cảm với anh cũng như sau này thông cảm với Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc và nhiều người khác. Nhận thức và quan điểm của một người bao giờ cũng mang tính lịch sử, bị quy định bởi các yếu tố chủ quan cũng như khách quan của hoàn cảnh xã hội. Sài Gòn ngày đó như sắp tận thế. Đời sống con người bị khép kín trong một phòng tối khổng lồ, một căn hầm sâu không lối thoát. Tiếng nói duy nhất vọng lên là tiếng nói của Đảng. Cánh cửa duy nhất được phép mở ra là cánh cửa của Đảng.

Ngồi trong thư viện của một đại học Mỹ để ca ngợi dân chủ, phê phán độc tài là chuyện dễ dàng, ai viết cũng hay, ai nói cũng hợp tình hợp lý, nhưng sống tại Việt Nam sau 30 tháng 4, suốt 24 giờ một ngày bị xoáy tròn trong một bộ máy tuyên truyền tinh vi nhất thế giới với các phương tiện lừa dối, cám dỗ, đe dọa, việc giữ được niềm tin vào một ngày tia sáng dân chủ sẽ rọi vào địa ngục trần gian Việt Nam là cả một thách thức vô cùng to lớn.

Nội dung của cuộc cách mạng Đảng gọi là “dân tộc dân chủ nhân dân” gồm “đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đạp đổ ngụy quyền miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mở đường cho cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa”. Còn cách mạng xã hội chủ nghĩa là gì người dân không cần phải quan tâm hay đồng ý. Đó là chuyện của nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam.

Những ngày sau 30.4.1975, từ chiếc loa treo ở đầu phố cho đến các giáo trình, giáo án, sách vở ở trường, tất cả đều tập trung vào việc đề cao vai trò của Đảng. Nào là không có Đảng, dân tộc Việt Nam sẽ mãi mãi chìm đắm trong bóng tối của nô lệ, lạc hậu, đói nghèo. Nào là các đảng phái quốc gia nếu không phải “thân Nhật” thì cũng “thân Pháp” hay “thân Mỹ”. Tương tự, không một lãnh tụ cách mạng nào xứng đáng hơn Hồ Chí Minh. Một “Phan Chu Trinh yêu nước nhưng cải lương”, một “Phan Bội Châu nhiệt tình nhưng vọng ngoại”, một “Nguyễn Hải Thần bám Tàu lâu đến nỗi quên cả tiếng Việt”, chỉ có Hồ Chí Minh là suốt đời “vì dân vì nước”.

Đảng đã cụ thể hóa và cơ cấu hóa lý luận về “cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân” thành các đoàn thể phụ thuộc như Trí thức Yêu nước, Phật giáo Yêu nước, Công giáo Yêu nước, Liên hiệp Thanh niên Sinh viên v.v… Cơ cấu trung ương tập quyền trong chế độ Cộng sản vận hành như một thái dương hệ. Đảng là mặt trời và các tổ chức, đoàn thể là những thiên thể chung quanh, mỗi thiên thể có quỹ đạo riêng, có vệ tinh riêng, có vòng trong, vòng ngoài nhưng cùng bị chi phối bởi cùng một lực hấp dẫn của mặt trời.

Từ sau hiệp định Geneve đến nay, không biết bao nhiêu giấy mực Đảng đổ ra để biện minh cho việc cưỡng chiếm miền Nam bằng súng đạn của Nga Tàu, với lý do chính vẫn là Việt Nam Cộng hòa từ chối tổng tuyển cử. Tuy nhiên, cốt tủy của vấn đề không phải bên nào ký bên nào không, bên nào chủ trương tổng tuyển cử, bên nào từ chối tổng tuyển cử, mà là sự chọn lựa giữa ý thức hệ Quốc gia và Cộng sản.

Miền Nam, với một quân đội mới được chuyển giao chỉ vài tiểu đoàn, một chính quyền còn đang chập chững bước thấp bước cao trên con đường dân chủ, một xã hội còn đang bị khoanh vùng bằng phe phái, giáo phái, và đại đa số người dân vẫn chưa phân biệt được sự khác nhau giữa Việt Minh và Cộng sản thì làm sao Việt Nam Cộng hòa có thể thắng Đảng Cộng sản, một tổ chức quy củ, dạn dày kinh nghiệm lọc lừa và có một bộ máy tuyên truyền biến trắng thành đen vô cùng lợi hại.

Và giả thiết có bầu cử và Việt Nam Cộng hòa thắng, Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ giải thể hệ thống chính ủy, đảng bộ trong quân đội, giao nộp vũ khí, sáp nhập vào quân đội chính phủ, giải tán bộ máy công an, dẹp bỏ bộ máy tuyên truyền, tự nguyện đặt mình trong khuôn khổ luật pháp và hoạt động một cách công khai như các chính đảng khác? Một người có nhận thức chính trị căn bản cũng biết những chuyện đó còn khó xảy ra hơn chuyện mặt trời mọc ở phương tây và lặn ở phương đông.

Với các lãnh đạo Cộng sản miền Bắc, cộng sản hóa Việt Nam là canh bạc của đời họ. Những năm tháng trui rèn ngoài Côn Đảo hay trốn tránh ở Liên Xô, Trung Quốc, họ cũng chỉ nghiền ngẫm một mục tiêu Cộng sản duy nhất đó. Nếu có tổng tuyển cử thì tốt. Họ sẽ chiếm miền nam không cần súng đạn. Nếu không có tổng tuyển cử cũng không sao. Họ vẫn chiếm miền Nam nhưng bằng bạo lực. Dù qua phương cách gian lận bầu cử hay phải “đốt cháy cả dãy Trường Sơn”, mục tiêu toàn trị vẫn không thay đổi. Sinh mạng của nhiều triệu người Việt, tương lai bao nhiêu thế hệ Việt Nam, viễn ảnh một Việt Nam nghèo nàn thua sút phần lớn nhân loại không nằm trên bàn tính của Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Bài học chiến tranh Triều Tiên chưa phai mùi thuốc súng với hơn 3 triệu người thiệt mạng chỉ trong vòng 37 tháng đánh nhau không làm Đảng phân vân. Khả năng Mỹ trực tiếp đưa quân tham chiến và nhiều triệu tấn Napalm sẽ được ném xuống hai miền không khiến Đảng do dự. Đảng chỉ cần chiến thắng, dù là chiến thắng trên máu xương của đồng bào ruột thịt, trên xác đám trẻ thơ vừa mới chào đời, trên cảnh tương tàn phân hóa tận cùng của đất nước.

Nếu ai cho rằng nhận xét như thế là một chiều và quá đáng, hãy đọc lại các chính sách của Đảng và việc thực hiện các chính sách đó từ 1954 tại miền Bắc, và từ 1975 trên phạm vi cả nước đối với các tầng lớp nhân dân, các thành phần dân tộc không Cộng sản.

Một số người có thể cho rằng nói như thế là đánh giá quá cao mục tiêu của Đảng Cộng sản mà bỏ qua nguyện vọng thống nhất đất nước là nguyện vọng thiêng liêng, phản ảnh truyền thống yêu nước mấy ngàn năm lịch sử của dân tộc Việt Nam. Không. Không ai bỏ qua. Nguyện vọng thống nhất đất nước, tình dân tộc thiêng liêng là tình cảm có thật và vô cùng sâu sắc. Nhưng tình cảm đó chỉ có trong con người Việt Nam bình thường, có trong bác nông phu tay lấm chân bùn, có trong anh công nhân đầu tắt mặt tối, có trong hàng triệu thanh niên nam nữ miền Bắc phải lên đường vào Nam chiến đấu, nhưng không có trong trong đầu óc của giới lãnh đạo Cộng sản, những người thợ vẽ đã vẽ lên tâm hồn nóng bỏng của tuổi hai mươi trong sáng những chân trời không có thực.

Nhà văn Nguyễn Khải, vào cuối đời đã viết về bản chất lừa dối của Đảng trong Đi tìm cái tôi đã mất:

“Và nói dối, nói dối hiển nhiên, không cần che đậy. Vẫn biết rằng nói dối như thế sẽ không thay đổi được gì vì không một ai tin nhưng vẫn cứ nói. Nói đủ thứ chuyện, nói về dân chủ và tự do, về tập trung và dân chủ, về nhân dân là người chủ của đất nước còn người cầm quyền chỉ là nô bộc của nhân dân. Rồi nói về cần kiện liêm chính, về chí công vô tư, về lý tưởng và cả quyết tâm đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa Cộng sản. Nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói không biết xấu hổ, không biết run sợ vì người nghe không có thói quen hỏi lại, không có thói quen lưu giữ các lời giải thích và lời hứa để kiểm tra.”

Mặc dù nhiều người đã biết dối trá thuộc về bản chất của chế độ Cộng sản, bài viết như lời trối của nhà văn Nguyễn Khải gây chấn động bởi vì ông ta là một người suốt đời sống, viết và chiến đấu dưới ngọn cờ của Đảng.

Một câu hỏi thường được đặt ra, tại sao các nước Cộng sản Đông Âu và Liên Xô sụp đổ mà Cộng sản tại các nước Á châu như Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Miên không sụp đổ. Mặc dầu mỗi nhà phân tích chính trị có thể giải thích nguyên nhân một cách khác nhau tùy theo góc độ họ đứng và mục đích nghiên cứu, đa số đã đồng ý rằng các nước Cộng sản tại Á Châu có một điểm mà các nước Cộng sản Đông Âu không có, đó là sự ràng buộc lịch sử giữa dòng sống của đảng Cộng sản và dòng sống của đất nước nơi đảng ra đời. Đảng Cộng sản Trung Quốc được thành lập 1921 trong cuộc kháng chiến chống Nhật, đảng Cộng sản Việt Nam ra đời 1930 trong cuộc kháng chiến Pháp. Đảng Cộng sản Việt Nam sao chép toàn bộ lý luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc kể cả việc lợi dụng mối liên hệ lịch sử ngắn ngủi giữa Đảng và dân tộc để giải thích tính chính danh của Đảng trong tương lai lâu dài của dân tộc.

Đừng quên, trong thời điểm đó, không phải chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mà rất nhiều đảng, nhiều phong trào cách mạng khác ra đời từ nam đến bắc để cùng đánh đuổi Thực dân. Tuy nhiên, không có một phong trào nào, một đảng phái nào trong cương lĩnh đã tự cho rằng vì họ đánh Pháp nên đảng của họ có đặc quyền lãnh đạo cách mạng, đặc quyền lãnh đạo đất nước, không chỉ hôm nay và mãi mãi về sau như Đảng Cộng sản Việt Nam.

Con đường cách mạng Việt Nam lót bằng xương máu của hàng vạn người yêu đất nước từ mọi giới, mọi thế hệ. Tác giả Louis Roubaud in trong cuốn sách Việt Nam, xuất bản 1931, được trích dẫn khá nhiều, viết về cuộc khởi nghĩa Yên Bái và những diễn biến tại pháp trường. Ngay ở trang đầu Roubaud đã viết: “Việt Nam! Việt Nam! Việt Nam! 13 lần tôi nghe tiếng hô này trước máy chém ở Yên Bái. 13 người bị kết án tử hình đã lần lượt thét lên như vậy cách đoạn đầu đài hai thước”. Tác giả cũng viết về nhà cách mạng Nguyễn Thái Học: “Anh mỉm miệng cười, cực kỳ bình thản, đưa mắt nhìn đám đông công chúng và cúi đầu chào đồng bào rồi cất giọng đĩnh đạc, trầm hùng mà hô lớn: “Việt Nam vạn tuế”. Cô Giang, vợ chưa cưới của Nguyễn Thái Học, cũng có mặt trong đám đông.”

Trong giây phút lịch sử đó, 13 đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng đã dành hơi thở cuối cùng của đời mình trên mặt đất này để gọi tên hai tiếng Việt Nam. Tuyệt nhiên không ai trong số họ kể cả Đảng trưởng Nguyễn Thái Học đã hô Việt Nam Quốc dân Đảng. Điều này khác hẳn với những lãnh đạo Cộng sản như Nguyễn Thị Minh Khai trước giờ bị xử tử chỉ hô lớn “Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm!” để thể hiện tinh thần bất khuất, kiên trung của bà ta đối với Đảng, cũng như Lê Hồng Phong, trong lời trăn trối cuối cùng ngoài Côn Đảo chỉ nguyện trung thành với Đảng.

Với những người yêu nước chân chính, đảng cách mạng chỉ là chiếc ghe để đưa dân tộc Việt Nam qua sông, trong khi với Đảng Cộng sản, chiếc ghe lại chính là dân tộc.

Sau 35 năm, lý luận gọi là “cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân” vẫn còn được Đảng lặp đi lặp lại để lừa gạt các thế hệ trẻ Việt Nam như đã từng lừa gạt các thế hệ cha chú họ. Không ít những người lớn tuổi thuộc thế hệ chiến tranh 1954 đến 1975 đã từng theo Đảng, dù biết lầm đường, vẫn tiếp tục bám vào lý luận đó và tự lừa dối chính mình rằng cuộc chiến gọi là “giải phóng miền Nam bằng võ lực” là đúng và kết quả, vai trò lãnh đạo của Đảng là tất yếu. Họ tự lừa dối chỉ vì quyền lợi bản thân, chén cơm manh áo, chức quyền, và trong vài trường hợp chỉ là kỷ niệm của một thời trai trẻ đã qua.

Sự sụp đổ của hệ thống Cộng sản quốc tế, xu hướng phát triển dân chủ văn minh của nhân loại và quyền lợi bức thiết của dân tộc Việt Nam đã làm cho mâu thuẫn giữa dân tộc và Đảng Cộng sản chưa rõ nét trong chiến tranh trở nên ngày càng sâu sắc sau cuộc chiến. Dù cho Đảng có ngụy biện và lừa dối bao nhiêu, đại đa số người dân hôm nay đã biết Đảng Cộng sản Việt Nam là vật cản lớn nhất của phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội tại Việt Nam, cũng như để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh một mất một còn chống chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc không thể nào tránh khỏi trong tương lai.

Chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam, việc tập trung sức mạnh dân tộc trên nền tảng một xã hội dân chủ trở thành một nhu cầu bức thiết hơn hôm nay. Khác với lý luận “cách mạng dân tộc dân chủ” có tính áp đặt, dựng trên những lọc lừa dối trá, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ngày nay là cuộc vận động toàn dân tộc, tận dụng mọi chất liệu, vốn liếng, tài năng của người Việt trong cũng như ngoài nước.

Nội dung của cách mạng dân tộc dân chủ là tập trung sức mạnh dân tộc, gạt bỏ mọi bất đồng, vận dụng các điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh cuộc vận động dân chủ tại Việt Nam đến thành công, thiết lập một chế độ dân chủ pháp trị, hiện đại hóa đất nước toàn diện làm nền tảng cho việc phục hồi chủ quyền đất nước, mở đường cho một Việt Nam thăng tiến lâu dài.
Bởi vì, chỉ có một dân tộc Việt Nam đoàn kết dưới ngọn cờ dân chủ mới thắng được bá quyền Trung Quốc.

Trung Quốc không sợ USS George Washington hay bom nguyên tử mà sợ dân chủ. Ngọn đuốc dân chủ sẽ đốt cháy lây đến cơ chế trung ương tập quyền Trung Quốc một cách vô cùng nhanh chóng. Các tan vỡ trong cơ chế chính trị sẽ gây một phản ứng dây chuyền dẫn tới sự tan vỡ toàn bộ cơ cấu xã hội vốn đặt trên một nền tảng chính trị rất mong manh. Bài học đế quốc La Mã, Áo Hung trước đây hay Liên Xô, Nam Tư còn sờ sờ trước mắt. Chẳng những các dân tộc lớn như Mãn, Mông, Hồi, Tạng sẽ trở nên các quốc gia độc lập, mà ngay các tỉnh lớn trong nội bộ dân tộc Hán cũng có khả năng tuyên bố chủ quyền. Chẳng những Phật giáo, Pháp Luân Công mà cả Hồi giáo Tân Cương tuy ít nhưng có khuynh hướng bạo động, cũng là những đe dọa đối với Bắc Kinh. Một Trung Hoa mênh mông còn có nguy cơ tan thành từng mảnh, chủ quyền quốc gia trong lục địa còn không giữ được nói chi là chủ quyền trên hai nhóm đảo Hoàng Sa, Trường Sa xa xôi.

Là một nước nhỏ, Việt Nam phải biết vận dụng mọi biến động chính trị của các nước lớn để phục hồi lãnh thổ và bảo vệ chủ quyền. Đó là những kinh nghiệm tổ tiên ta đã đúc kết bằng xương máu. Một Mai Thúc Loan không thành công, một Ngô Quyền thành công, một Bà Trưng thành công, một Bà Triệu không thành công, nhưng lòng yêu nước, yêu độc lập tự chủ dân tộc trong lòng các vị vẫn giống nhau. Khát vọng đó qua nhiều thời đại đã trở thành một truyền thống và luôn âm ỉ cháy trong lòng người Việt dù đang sống ở đâu trên mặt đất này. Nếu không có truyền thống độc lập tự chủ đó, Việt Nam ngày nay không phải là nước Việt Nam mà có thể đã được gọi là Khu tự trị An Nam.

Chính sách của Trung Quốc đối với cuộc tranh chấp Biển Đông thể hiện chỗ yếu của Trung Quốc nhiều hơn thế mạnh. Trung Quốc chỉ giỏi ăn hiếp những ngư dân Hòa Lộc không một tấc sắt trong tay trên những chiếc ghe đánh cá bằng gỗ mỏng vì họ biết không có một Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc nào rảnh rỗi để thảo luận hay ra nghị quyết lên án Trung Quốc về việc bắn một chiếc ghe hay đưa một đoàn du lịch đi thăm viếng Trường Sa. Nhưng Trung Quốc rất tránh đụng những vấn đề nhạy cảm và có ảnh hưởng quốc tế. Ngay cả đồng minh và khách hàng lớn nhất của Trung Quốc trong thế giới Hồi giáo là Iran mà còn gọi Trung Quốc là con cọp giấy khi không dám phủ quyết quyết nghị của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc kết án chính sách nguyên tử của Iran. Nhiều người lo ngại một ngày Trung Quốc có thể sẽ “dạy Việt Nam một bài học” nữa. Tuy nhiên đừng quên, năm 1979 Trung Quốc không có gì để mất, nhưng năm 2010 trở về sau Trung Quốc có khả năng mất tất cả dù thắng hay bại trong chiến tranh với Việt Nam. Ngay trong chiến tranh biên giới 1979, khi tuyên bố cuộc chiến với Việt Nam là “chiến tranh giới hạn” trong bụng Đặng Tiểu Bình cũng đã dọn đường cho việc rút quân. Với bản chất tiểu nhân của giới lãnh đạo Cộng sản Trung Quốc, họ có thể sẽ thực hiện vài hành động khiêu khích trong vùng Biển Đông để đo lường phản ứng của Mỹ, nhưng cho ăn vàng cũng không dám xua 300 ngàn quân sang biên giới như họ đã làm trong 1979.

Dân tộc Việt Nam cần một kẻ thù và đang có một kẻ thù. Đó là chủ nghĩa bành trướng bá quyền Trung Quốc. Kẻ thù này chẳng những đã được nhân dân trong cũng như ngoài nước xác định mà một bộ phận lãnh đạo trung ương của Đảng, vì lý do gì đó, cũng đã xác định. Nhưng để thắng Trung Quốc, đoàn kết nội bộ dân tộc chưa đủ mà phải vận dụng được các lợi thế quốc tế trên cơ sở của một chế độ dân chủ.

Về lâu dài, vì lợi ích kinh tế cũng như về các giá trị nhân quyền, Mỹ muốn thấy Trung Quốc trở thành một quốc gia dân chủ trong một châu Á và Thái Bình Dương ổn định. Trung Quốc là nhà băng của nhiều quốc gia trên thế giới kể cả Mỹ, nhưng không giống như các công ty tài chánh Lehman Brothers hay Merrill Lynch, sự khủng hoảng chính trị Trung Quốc sẽ gây tác hại vô cùng trầm trọng đối với nên kinh tế thế giới không thể đo lường được. Đài Tiếng nói Hoa Kỳ phát thanh 9 giờ một ngày bằng Hoa Ngữ hướng về lục địa Trung Quốc qua hai đài chuyển vận, một đặt ở Thái Lan và một đặt ở Philippines. Ngoài ra, mặc dù mối quan hệ kinh tế phức tạp giữa hai nước đã làm nhẹ các yếu tố khác, chính phủ Mỹ luôn đưa vấn đề nhân quyền trong mọi cuộc gặp gỡ cao cấp giữa hai nước. Trong biến cố Thiên An Môn, nhiều ngàn sinh viên từ Thượng Hải đến Bắc Kinh để tham gia biểu tình cũng nhờ nghe tin tức trên đài VOA. Trong những ngày đầu các cơ quan thông tin của Đảng im lặng coi như không có gì xảy ra, nhưng vì VOA cập nhật tin tức sốt dẻo hàng giờ và sinh viên từ các thành phố tiếp tục ồ ạt kéo về, hệ thống đài của Đảng buộc phải lên tiếng tố cáo “âm mưu nước ngoài”, nhưng đó cũng là cách thú nhận biến động chính trị lớn đang diễn ra tại Bắc Kinh.

Tương tự, Mỹ cũng muốn thấy Việt Nam trở thành một nước tự do dân chủ trong một Đông Nam Á hòa bình và ổn định. Nhưng dân chủ không phải là món quà mà ông thần tài Uncle Sam đem đặt trước cửa nhà của mỗi gia đình người Việt, mà phải bằng nỗ lực của chính dân tộc Việt Nam. Mỹ bỏ 900 tỉ đô-la hay 3 ngàn tỉ tùy theo cách tính và 4500 nhân mạng để lật đổ Sadam Hussein, không phải chỉ nhằm đem lại hòa bình dân chủ cho nhân dân Iraq. Tuy nhiên, nếu là một dân tộc khôn ngoan, đây là cơ hội giúp Iraq vượt qua những khó khăn trước mắt để trong vài năm nữa trở thành một cường quốc trong thế giới Ả Rập.

Trong cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Iraq, ai cũng nghĩ kẻ có lợi nhiều nhất sẽ là dân tộc Kurds. Nhưng không, họ là những người chịu đựng thiệt thòi nhiều nhất. Saddam Hussein đã tàn sát không thương tiếc các cuộc nổi dậy của nhân dân Kurds ly khai trước sự bàng quang của Mỹ. Đa số các nhà phân tích đều cho rằng Mỹ phản bội lý tưởng độc lập của nhân dân Kurds. Điều đó chỉ đúng một nửa. Nửa còn lại là sự phân liệt vô cùng trầm trọng trong tập thể 35 triệu Kurds sống trong nhiều quốc gia vùng Tây Á. Một dân tộc chia rẽ, cấu xé nhau, không có một hướng đi chung, không thể vận dụng được sự ủng hộ từ quốc tế và cũng không xứng đáng để được quốc tế ủng hộ.

Bởi vì, chỉ có một dân tộc Việt Nam đoàn kết dưới ngọn cờ dân chủ mới có khả năng làm cho đất nước giàu mạnh.

Khi nói đến phát triển kinh tế, Đảng thường nêu lên những thành tựu giảm nghèo, nâng cao mức sống của người dân so với thời kỳ bao cấp. Ba mươi lăm năm rồi, những bài hát trên chiếc đĩa nhựa 45 vòng đó không còn nghe được nữa. Nhân loại đã bỏ Việt Nam quá xa. Hãy nhìn sang các nước Đông Âu. Họ chỉ thoát ra khỏi xích xiềng Cộng sản chưa được 20 năm nhưng nền kinh tế đã tăng gấp nhiều chục lần so với thời kỳ Cộng sản. Một Ba Lan, một Hungary ngày nay hoàn toàn khác với một Ba Lan, một Hungary khi còn là những nước Cộng sản chư hầu.

Hai mươi năm trước, có lẽ không bao nhiêu người biết trên trái đất này có một xứ gọi là Lithuania. Như một quốc gia nhỏ nằm sát biên giới Liên Xô, Lithuania là nạn nhân của hiệp ước mật giữa Hitler và Stalin ký kết 1939. Dân tộc Lithuania sau khi bị Stalin cưỡng chiếm, đã chịu đựng những hy sinh vô bờ bến dưới ách Cộng sản. Nhưng ngày nay, đôi cánh tự do dân chủ đã giúp cho dân tộc Lithuania có dân số chưa bằng một phần hai mươi của Việt Nam trở thành một trong những phát triển nhanh nhất Châu Âu, là hội viên đầy kính trọng của NATO và Cộng đồng châu Âu. Việt Nam có tất cả phương tiện tài nguyên, nhân lực và thậm chí nhiều hơn những gì Lithuania đã có trước đây, ngoại trừ đôi cánh. Việt Nam không thể bay ra biển lớn như khẩu hiệu Đảng thường rêu rao nếu chỉ biết nhìn quanh trong nhà, nhìn xuống ruộng, nhìn về quê, nhưng phải thật sự nhìn ra biển, phải biết chọn một hướng đi đúng với thời đại.

Bởi vì chỉ có đoàn kết dân tộc dưới ngọn cờ dân chủ mới thật sự tập trung được sức mạnh tổng hợp của dân tộc và là nền tảng cho một Việt Nam hòa hợp lâu dài.

Tội lỗi của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với nhân dân Việt Nam cả hai miền nam bắc không thể kể hết. Dù Đảng có tung ra hàng trăm nghị quyết 36 cũng không tập hợp được mấy trăm ngàn chuyên gia Việt Nam đang làm việc trong các ngành nghề chuyên môn khắp thế giới và cũng không thuyết phục được khối người Việt hải ngoại đã từng sống, từng chịu đựng, từng bị đày ải dưới chế độ Cộng sản. Như tôi có dịp trình bày trước đây nhiều lần, hòa giải hòa hợp không chỉ là một tình cảm mà phải dựa trên các nền tảng chính trị, kinh tế, xã hội cần thiết, và các nền tảng đó chính là sự thật, tự do, dân chủ và bình đẳng giữa những con người cũng như giữa các thành phần trong xã hội. Và điều đó không thể xảy ra khi nào Đảng Cộng sản còn nắm quyền lãnh đạo đất nước.

Nhưng làm thế nào và ai sẽ là người thực hiện cuộc cách mạng dân chủ đích thực trong tình hình mới?

Cách đây hai hay ba năm, tôi không nhớ chính xác, chỉ còn nhớ hôm đó trời đang vào thu như hôm nay. Những hàng cây phong sau vườn của nhà sắp sửa ngả vàng. Hôm đó, tôi đến dự một bữa cơm chia tay. Nhân vật chính trong của buổi tiễn đưa là một bạn trẻ vừa học xong và sắp trở lại Việt Nam. Ăn trưa xong, chúng tôi ra vườn sau ngồi ôn lại khoảng thời gian người bạn trẻ đã học ở Mỹ với những đổi thay về tuổi tác, vóc dáng, đời sống, nhưng nhiều nhất vẫn là nhận thức. Một lúc sau, người bạn trẻ nhìn tôi và hỏi: “Theo anh, em nên làm gì khi trở lại Việt Nam?” Tôi biết ý em không phải làm nghề gì để sống, làm cách nào kiếm được nhiều tiền, nhưng là cách nào hữu hiệu nhất để đóng góp vào xã hội Việt Nam đang thiếu thốn quá nhiều. Tôi trả lời, đại ý, xã hội Việt Nam phân hóa và suy thoái đến mức lãnh vực nào cũng cần thay đổi. Nhiều người phải có một tổ chức mới đóng góp được nhưng cũng có người làm việc hữu hiệu hơn khi hoạt động độc lập. Tuy nhiên, dù có tổ chức hay độc lập, một điều mà thế hệ Việt Nam hôm nay phải hiểu, dân chủ là đôi cánh của dân tộc, và nỗ lực của em dù trong chức vụ gì, trong ngành nghề gì cũng nên tác động và thúc đẩy mục tiêu thời đại đó.

Không ai nói con đường cách mạng dân tộc dân chủ là con đường tráng nhựa, sẽ đến chiều nay hay sáng mai, nhưng chắc chắn sẽ đến, miễn là mỗi người Việt còn đang nghĩ đến an nguy dân tộc, bỏ ra một chút công sức, đóng góp một ít tài năng. Dăm giọt nước không đầy sông nhưng dòng sông không phải tự nhiên có mà là tích lũy từ nhiều giọt nước.

© 2010 Trần Trung Đạo

VOA: 30 Tháng Tư và Hòa giải dân tộc (Phỏng vấn nhà thơ Trần Trung Đạo nhân dịp 30-4-2010)

 

Tư năm nay, cũng như những tháng Tư của hơn 30 năm qua, giới hữu trách Việt Nam đã tưng bừng tổ chức ngày kỷ niệm mà họ gọi là “chiến thắng vĩ đại ngày 30-4-1975.”

Họ cũng không quên nhắc tới sự kiện mà họ mô tả là “ở một số nơi trên thế giới, đặc biệt là ở Mỹ, một số nhóm phản động cực đoan thường tổ chức ‘ngày quốc hận’ để hoài niệm một chế độ tàn bạo ở miền nam Việt Nam đã sụp đổ, hoài niệm thời kỳ đất nước bị chia cắt, tìm cách bôi nhọ những gì tốt đẹp đang diễn ra ở Việt Nam”. (Quân Đội Nhân Dân, 18-04-2010)

Trong khi đó, một số văn nghệ sĩ ở Việt Nam mới đây đã cho đăng tải trên mạng internet những bài viết kêu gọi mọi người hãy có một cái nhìn mới về biến cố lịch sử này để tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc hòa giải dân tộc, nổi bật là bài “Tùy Bút Tháng Tư” của nhà văn Vũ Ngọc Tiến được phổ biến rộng rãi trên mạng.

Ban Việt Ngữ VOA đã tiếp xúc với nhà thơ Trần Trung Đạo, một blogger ở Mỹ (trantrungdao.com) có nhiều bài bình luận về văn học và chính trị Việt Nam được nhiều người ưa thích, để tìm hiểu thêm về vấn đề đáng chú ý này. Mời quí vị theo dõi cuộc phỏng vấn do Duy Ái thực hiện sau đây.

VOA: Thưa anh Trần Trung Đạo, là người theo dõi sát tình hình Việt Nam, đặc biệt trong các lãnh vực văn hóa xã hội, chắc anh cũng biết là trong vài tuần nay, các tờ báo do nhà nước kiểm soát đã cho đăng nhiều bài viết dưới dạng “nhìn lại 35 năm” và hô hào cho việc “hòa hợp dân tộc, hàn gắn lòng người”. Trước hết, xin anh chia sẻ với thính giả và độc giả đài Tiếng Nói Hoa Kỳ quan điểm của anh về “hòa giải hòa hợp dân tộc”?

Trần Trung Đạo: Tuần trước tôi có dịp đến thăm viện bảo tàng lịch sử Mỹ tại Washington DC, trong đó có một khu dành riêng cho tổng thống thứ 16 của Mỹ, Tổng Thống Abraham Lincoln. Ngay trước cổng của khu tưởng niệm TT Lincoln, có treo một tấm bảng nhỏ, trong đó ghi một câu trong Tân Ước mà ông yêu thích và thường hay trích dẫn “A house divided against itself cannot stand”, nghĩa là “Một căn nhà phân hóa chống lại chính nó, căn nhà đó không thể đứng vững”.

Tổng Thống Lincoln quan niệm tinh thần đoàn kết, hòa giải giữa các thành phần quốc gia là điều kiện quyết định giúp quốc gia vượt qua những khó khăn, cũng như dẫn đến sự vững mạnh, thăng tiến lâu dài. Sự phát triển vượt bực của Hoa Kỳ, từ thuộc địa của Anh trở thành cường quốc hàng đầu thế giới đã chứng minh câu Tổng Thống Lincoln trích dẫn là một chân lý. Chân lý đó cũng đã được thử nghiệm và xác định tại nhiều quốc gia khác như Nam Phi, Cộng Hòa Đức v.v..

Tổng thống Lincoln nhấn mạnh đến tinh thần hòa giải trong diễn văn nhậm chức tổng thống nhiệm kỳ 2, 1865, nghĩa là sau khi quân đội miền bắc đã kết thúc cuộc nội chiến bằng chiến thắng, và TT Nelson Mandela cũng chỉ lập Ủy Ban Sự Thật Và Hòa Giải Quốc Gia sau khi đã đắc cử Tổng Thống Cộng Hòa Nam Phi. Nếu TT Lincoln bỏ tù hết các cấp sĩ quan, viên chức chính quyền miền nam, chắc chắn quân đội của tướng Robert Lee đã không buông súng dễ dàng, và nước Mỹ có thể không có ngày hôm nay. Tương tự, nếu TT Nelson Mandela bắt thiểu số da trắng phải trả giá bằng những cực hình đầy đọa giống như dân da đen đã từng chịu đựng dưới ách phân biệt chủng tộc Nam Phi thì hòa hợp hòa giải đã không đến cho quốc gia này.

Từ những bài học quý giá đó, tôi quan niệm hòa giải không chỉ là một tình cảm mà phải dựa trên các nền tảng chính trị, kinh tế, xã hội cần thiết, và các nền tảng đó chính là sự thật, tự do, dân chủ và bình đẳng giữa những con người cũng như giữa các thành phần trong xã hội.

Giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam có tất cả những phương tiện để thực thi hòa giải hòa hợp dân tộc nhưng họ đã không làm. Lý do, nếu làm thì họ đã không phải là Cộng Sản. Hòa giải hòa hợp dân tộc đặt cơ sở trên sự bao dung, bình đẳng vốn đi ngược lại mục tiêu Cộng Sản hóa Việt Nam bằng các phương tiện bạo lực mà đảng đã và đang dùng.

Do đó, ngày nào chế độc độc tài đảng trị, dù tồn tại dưới bất cứ hình thức nào tại Việt Nam, ngày đó chuyện hòa giải chỉ là một chuyện để bàn cho có và cũng sẽ qua đi theo mỗi tháng Tư.

VOA: Thưa anh Trần Trung Đạo, một câu nói của ông Võ Văn Kiệt liên quan đến vấn đề “hòa giải hòa hợp” được các bên trích dẫn khá nhiều là “một triệu người vui, một triệu người buồn”. Xin anh chia sẻ về câu nói này của ông Võ Văn Kiệt cũng như các ý kiến tương tự khác mà anh đọc trong dịp 30 tháng 4 năm nay?

Trần Trung Đạo: Câu nói của ông Võ Văn Kiệt, ngày 30 tháng 4 “có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn” có lẽ là câu nói tích cực nhất mà chúng ta được nghe từ một người từng đóng vai trò lãnh đạo đảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam trong một thời gian dài sau 1975.

Như tôi đã có lần viết trong một tiểu luận về những lời phát biểu của ông Võ Văn Kiệt, tôi tin đó là một câu nói chân thành, kết quả của nhiều đêm trăn trở.

Tôi vui mừng bởi vì ông đã góp phần tạo nên một môi trường thảo luận những vấn đề sinh tử của đất nước mà trước đây không có được. Các thế hệ trẻ Việt Nam, qua những lời phát biểu của ông, có cơ hội biết đến một quãng lịch sử dân tộc đen tối do chính một trong những người chịu trách nhiệm lớn nhất của đảng và nhà nước trong giai đoạn đó kể ra. Con đường mà dân tộc đã trải qua trong suốt hơn 30 năm không phải là “con đường vinh quang” như các em đang học ở trường, những ngày mà cha chú các em đã sống không phải là “những ngày đẹp nhất dù mai sau đời vạn lần hơn”, nhưng là con đường nhuộm bằng máu và nước mắt, trong đó, “có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn” như ông Võ Văn Kiệt đã nhắc lại.

Ngoài ông Võ Văn Kiệt đã qua đời, một số cán bộ Cộng Sản nổi bật trong giai đoạn chiến tranh như cựu đại sứ Cộng Sản Việt Nam tại Pháp Võ Văn Sung trong buổi phỏng vấn dành cho VietNamNet mới đây cũng nhấn mạnh đến tinh thần hòa giải bằng những câu phát biểu thật “thắm thía”: “Lúc này nếu ai đó trong chúng ta dù từng đứng từ phía nào mà vẫn nuôi lòng thù hận, cản trở hòa hợp dân tộc thì sẽ dần trở nên lạc lõng và thật sự có lỗi với tương lai của chính con cháu mình.”

Thế nhưng cả ông Võ Văn Kiệt lẫn ông Võ Văn Sung, về khái niệm, đều lầm lẫn giữa hòa giải và đầu hàng, giữa hòa hợp và phục tùng, giữa bao dung dân tộc và thương xót người chiến bại. Hòa giải hòa hợp là con đường hai chiều, là chiếc cầu nhiều nhịp. Và như tôi đã phát biểu ở trên, phải dựa trên nền tảng bình đẳng, tự do, dân chủ. Không ai có quyền bắt người khác phải bơi qua sông để hòa giải với mình. Những người lính miền nam cần công lý chứ không cần thương xót.

VOA: Trong hai tuần qua, nhiều độc giả của các trang blog không do nhà nước kiểm soát đã xôn xao bàn tán về bài viết “Tùy Bút Tháng Tư” của nhà văn Vũ Ngọc Tiến, cũng như mới đây bài viết của nhà văn Nguyễn Trọng Tạo “Đừng Thêm Những Tháng Tư”. Xin anh cho biết ý kiến của anh về hai bài viết này?

Trần Trung Đạo: Trong lúc tôn trọng sự khác biệt về cách giải thích nguyên nhân của cuộc chiến Việt Nam, tôi thông cảm những trăn trở của nhà văn Vũ Ngọc Tiến trong bài viết mới đây Tùy Bút Tháng Tư “Trong số 3,2 triệu người Việt định cư ở hải ngoại hiện nay, số ra đi trước ngày 30/4/1975, kể cả số di cư từ thời thuộc Pháp chỉ khoảng 1 triệu, số còn lại hơn 2 triệu người chủ yếu rời bỏ đất nước từ nửa cuối thập niên 70 và cả thập niên 80 của thế kỷ trước. Thế hệ chúng tôi “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, sao những người được chúng tôi giải phóng lại ào ào bỏ nước mà đi đông đến vậy?”

Tôi nghĩ câu hỏi này nhà văn đặt ra cho giới lãnh đạo đảng chứ không phải cho độc giả của ông. Tuy nhiên, với tư cách là một trong số hơn hai triệu người ra đi sau 1975, tôi nghĩ, lý do cũng rất là đơn giản. Họ ra đi sau 1975 là vì tự do. Nếu Liên Hiệp Quốc và các quốc gia Đông Nam Á không đóng cửa các trại tỵ nạn đầu thập niên 90 thì không chỉ 2 triệu mà có thể 4 triệu, 6 triệu hay nhiều hơn nữa đã bỏ xứ ra đi.

Quê hương Việt Nam sau 1975 là quê hương để nhớ, để thương nhưng không phải để sống.

Và sau 35 năm, ngoài trừ một số rất ít, 300 ngàn người thành đạt như nhiều nguồn ước tính và nhà văn Vũ Ngọc Tiến có trích dẫn trong bài viết của ông, đã không về phục vụ đất nước. Nhà văn thắc mắc tại sao họ lại không về. Câu trả lời cũng không khó lắm. Thứ nhất, dù chia rẽ, kèn cựa, chống đối lẫn nhau, về căn bản họ vẫn là những người chống lại chế độ độc tài Cộng Sản, và thứ hai, họ không muốn thấy những đóng góp của họ chỉ để làm giàu thêm giai cấp tư sản đỏ đang như dòi bọ sinh sôi từ xương máu nhân dân chứ không đem lại lợi ích gì cụ thể cho đại đa số đồng bào đang sống trong nghèo khó.

Tôi cũng rất tâm đắc với suy nghĩ của nhà văn Nguyễn Trọng Tạo trong bài viết Đừng Thêm Những Tháng Tư: “Một dân tộc mà lũ trẻ không biết mơ mộng và người già không biết sám hối, đó là một dân tộc bất hạnh. Hãy trân trọng sự sám hối.” và “Hòa giải là nguyện vọng cấp thiết của người Việt Nam dù trong hay ngoài nước”.

Đúng vậy, những ai có trách nhiệm cho điêu tàn, đổ nát, đói nghèo, lạc hậu, mất đất, mất biển phải sám hối trước tiên linh ông bà và xin lỗi trước nhân dân.

Về hòa hợp hòa giải. Trải qua một cuộc chiến dài với quá nhiều những hy sinh xương máu, tôi tin, không một người Việt Nam yêu nước nào không muốn sống trong cảnh hòa bình, không mong đất nước mình cường thịnh, hội nhập vào dòng phát triển của cộng đồng nhân loại. Không chỉ những người lính miền nam, người dân miền nam mà ngay cả những người lính miền bắc, người dân miền bắc, cũng chỉ mong có cơ hội được trở về căn nhà xưa, với ruộng lúa nương dâu, với cha mẹ già đang chờ đợi.

Cuối cùng, như các chúng ta thấy, không ai thương dân tộc Việt Nam bằng chính người Việt Nam. Bên trong những vòng hoa chiến thắng, mặt trái của những tấm huân chương là máu thịt của hàng triệu người Việt Nam đổ xuống, là đói nghèo lạc hậu.

Việt Nam phải vượt qua. Việt Nam phải thăng tiến. Nhưng chướng ngại lớn nhất trên con đường dẫn tới một tương tốt đẹp, tự do, dân chủ, giàu mạnh không phải vì thiếu hòa giải, hòa hợp mà quan trọng hơn vì cơ chế độc tài đảng trị như một bức tường đang chắn ngay trước lối đi lên. Một khi cơ chế độc tài sụp đổ, hòa giải hòa hợp tự nhiên sẽ đến dù lúc đó chưa chắc còn cần thiết nữa.

VOA: Xin cám ơn anh Trần Trung Đạo

Nguồn bài: Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA)
Nguồn ảnh: Trần Minh Triết, mạng Hoa Đàm



Dân biểu Sanchez họp với Ngoại trưởng Clinton về vấn đề VN-VOA

 

Chiều thứ  Sáu 28 tháng Năm, sau cuộc họp với Ngoại trưởng Hoa Kỳ  Hillary Clinton, và trong mấy phút ngắn ngủi giữa hai cuộc biểu quyết tại Quốc hội, Dân biểu Loretta Sanchez đã có nhã ý dành riêng cho ban Việt ngữ đài Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA một cuộc nói chuyện ngắn gọn, tường thuật về nội dung phần thảo luận của bà với ngoại trưởng Clinton liên quan đến vấn đề Việt nam.

Lan Phương | Washington DC Thứ Sáu, 28 tháng 5 2010

Your browser may not support display of this image.  Trong buổi họp với Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton, Dân biểu Loretta Sanchez đã đề cập đến nhiều vấn đề, nhưng quan trọng nhất là những vấn đề liên quan đến Việt Nam.  
 
Bà đề nghị với Ngoại trưởng Clinton sử dụng lực lượng đặc nhiệm về tự do internet toàn cầu của Hoa Kỳ tạo áp lực để Việt nam thay đổi chính sách của Bộ Thông tin, và thực sự Ngoại trưởng Clinton đã đồng ý để tổ chức một cuộc họp với Dân biểu Sanchez cùng một số nhà lập pháp khác của Quốc hội làm việc trong lãnh vực an toàn internet.  
 
Bà cho biết Ngoại trưởng Clinton đã nhờ bà lập một danh sách những người cần được mời tới dự cuộc họp đó, để cùng nhau thảo luận về cách thức giải quyết vấn đề tự do internet tại Việt Nam, và dĩ nhiên là ở những nơi khác nữa như Trung Quốc là những quốc gia vẫn tìm cách ngăn chặn quyền tự do thông tin trên mạng.  
 
Vấn đề thứ hai Dân biểu Sanchez đã lên tiếng trong buổi họp là sự cần thiết mà Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cần làm là thúc Việt Nam trả tự do cho các tù nhân lương tâm, những người mà Quốc hội Hoa Kỳ vẫn chú ý theo dõi và một trong những tù nhân này là bà Trần Khải Thanh Thủy, hiện đang đau ốm.  
 
Dân Biểu Sanchez đã yêu cầu Ngoại trưởng Hoa Kỳ gửi đại sứ Michalak vào thăm, vì bà Thủy hiện đang bệnh. Ngoại trưởng Hoa Kỳ nói rằng bà sẽ đồng ý làm theo lời yêu cầu.  
 
Vần đề thứ ba được đem thảo luận là đưa Việt Nam trở lại danh sách các quốc gia cần quan tâm. Dân biểu Sanchez cho biết bà yêu cầu điều này và Ngoại trưởng Hoa Kỳ cho biết bà sẽ cứu xét cặn kẽ để xem có thể làm được hay không.  
 
Dân biểu Sanchez còn cho biết Ngoại trưởng Hoa Kỳ sẽ công du Việt Nam vào tháng Bảy, và nếu như lịch trình làm việc và các cuộc biểu quyết của Dân biểu Sanchez tại Quốc hội không trùng hợp, bà sẽ cùng đi với Ngoại trưởng Clinton.  
 
Khi được hỏi là nhà nước Việt Nam sẽ có cấp giấy nhập cảnh cho bà hay không vì Việt Nam đã từ chối nhiều lần rồi, Dân biểu Sanchez trả lời là bà nghĩ họ sẽ cấp giấy nhập cảnh cho bà nếu bà cùng đi với bà Ngoại trưởng, nhưng chuyến đi cũng còn phải tùy vào chương trình làm việc của bà tại Quốc hội nữa, nên hiện chưa có gì cụ thể.  
 
Ngoài những vấn đề liên quan đến Việt Nam, Dân biểu Sanchez còn thảo luận với Ngoại trưởng Clinton về vấn đề Nam, Bắc Triều Tiên, và vấn đề vũ khí bất hợp pháp đổ vào Mexico.

HỘI H.O SEATTLE/WASHINGTON XÓA BỎ NHỮNG BỘ QUÂN PHỤC CỦA QLVNCH

Bia Miệng

Trong buổi tiệc tất niên của hội HO Seattle tại nhà hàng Jumbo vào ngày 30 tháng 01 năm 2010 vừa qua, Chương trình của buổi tiệc có một tiết mục làm nổi bật đó là Hội HO Seattle giới thiệu đến khách dự bộ đồng phục HO .
Trước ngày tổ chức, có một vài người hỏi chúng tôi về bộ đồng phục mà HO Seattle sắp trình làng vào dịp tất niên, họ hỏi chúng tôi vì đó là những độc giả của trang web Bia Miệng, họ hỏi cũng bởi lẻ trong nhóm chúng tôi đa số là HO, những người hỏi chúng tôi họ cũng là HO nhưng không sinh hoạt trong hội HO(qua Mỹ theo diện HO) . Khi mới nghe chúng tôi hơi ngạc nhiên “ đồng phục HO,lạ thật chưa bao giờ nghe nói….”.Chúng tôi hỏi lại độc giả “ anh có biết bộ đồng phục đó như thế nào không? Màu gì? Và họ có nói đến ý nghĩa của bộ đồng phục không?” độc giả trả lời “ Không biết nên mới hỏi các anh thử vì các anh có sinh hoạt trong cộng đồng…” Chúng tôi nói“ Thôi màu gì thì kệ đến ngày đó là biết, anh suy nghĩ gì khi HO có một bộ đồng phục?” “ Tại sao lại phải có bộ đồng phục HO, để làm gì ? Hàm chứa gì?…” “ Chúng tôi đoán cũng chẳng ra,nhưng chắc là họ có cách giải thích đến với anh em HO nói riêng và đồng hương nói chung , “chờ xem”.

Chuyện cũng đã đến , trong buổi Lễ tất niên, Hội HO Seattle đã giới thiệu đến mọi người bộ đồng phục HO màu rằn ri ,trước ngực và cào vai đều có dấu hiệu , một bên ngực là “HO Seattle” bên ngực khác”tên tuổi”,vai bên phải là lá cờVNCH, bên trái quân,cán,chính”đầu thì chiếc nón “bê-rê” màu cam. Bộ đồng phục là vậy , các cháu nhỏ lẩn những HO mặc đồng phục lên trình diển ở sân khấu trông rất oai vệ , trước mắt thực khách là một quang cảnh rất lạ mắt, lạ mắt vì môt bô đồng phục ? Quân phục? lòe loẹt hơn các binh chủng của VNCH ,lạ mắt nhất là chiếc bê-rê màu cam rực rở, nhưng thôi chuyện đó thuộc thẩm mỹ, cách trang sức nổi bật là do tài của các nhà design của HO , chúng ta không bàn tới . Điều quan trọng mà chúng tôi muốn nói đến là ý nghĩa của bộ đồng phục(quân phục?) .

Quân lực VNCH có nhiều binh chủng, mỗi binh chủng đều có sắc áo riêng cho binh chủng mình, sự khác biệt đó làm cho binh chủng của mình có niềm tự hào, niềm tự hào”màu cờ sắc áo”. Ngay cả những quân trường lớn đào tạo ra cấp chỉ huy cũng có những bộ đồng phục riêng của họ ,ví dụ như trường bộ binh Thủ Đức ,Đà Lạt, Hải quân, không quân v.v .Màu quân phục người lính mang trên người của họ đó không biết bao xương máu của đồng đội ngã xuống để tô điểm cho sự kiêu hùng của binh chủng mình , bộ quân phục là những gì thân thương trong suốt quảng đời binh nghiệp của người lính. Người lính nhảy dù kiêu hảnh với chiếc nón đỏ,với bộ đồ rằn ri màu huyết, người cán bộ xây dựng nông thôn họ cũng tự hào về bộ đồ đen của họ . Dù là lớn hay nhỏ, quân sự hay bán quân sự bộ đồng phục trên người là một sự gắn bó thân thương cùng kiêu hảnh,tự hào.Máu xương đã tô điểm cho sự oai hùng của bộ quần áo trên người lính. Bộ tổng tham mưu mới có thẩm quyền quyết định về những sắc áo của một binh chủng, bộ quân phục của mỗi binh chủng không phải tự ý ,tuỳ hứng của một đơn vị nào đó lập ra.

Các ông trong ban chấp hành H.O Seattle nghĩ gì?Muốn gì?… Khi dựng ra bộ “đồng phục H.O”? Một bộ đồng phục của quân đội (quần,áo,giày) như vậy có nghĩa gì? Các ông muốn xóa bỏ những bộ quân phục của QLVNCH? Những bộ đồ Nhảy dù, Thuỷ Quân Lục Chiến,Biệt động Quân, Bộ Binh,Lực Lượng đặc Biệt,Quân Trường Thủ Đức, Quân Trường Đà Lạt,Hải Quân, Không Quân…Các ông muốn quên ,muốn xóa bỏ? Mỗi hội đoàn, cơ quan, đoàn thể hay công ty đều có quyền chọn cho đơn vị mình một bộ đồng phục, không ai cấm cản, nhưng bộ đồng phục đó là bộ đồ của dân sự , thật là quái đản khi một tổ chức dân sự nào đó chọn bộ đồ đồng phục cho tổ chức mình là bộ đồ nhà binh. Phải chăng đây là một việc làm có chủ đích? Chúng tôi muốn bàn sơ qua về việc “Cố tình” hay “vô tình”.

Ở hải ngoại có hai sự kiện cố tình thay đổi đã bị người Việt tỵ nạn phản đối mạnh mẻ :
1/ Đảng Việt Tân xóa bỏ ngày Quốc hận 30/4/75 thay thế vào đó là Ngày tự Do , nhưng thất bại vì có sự phản đối của hầu hết người Việt tỵ nạnCông Sản.
2/ Đảng Việt Tân muốn lấy ngày giổ Tổ Hùng Vương làm ngày Quốc khánh( bỏ đi ngày Quốc khánh của VNCH trước đây). Chuyện này VT cũng đã thất bại vì có nhiều phản đối.
Điểm thứ nhất mà VT muốn thay đổi là làm mất đi ý nghĩa chính của ngày 30/4/75, vì ngày đó là một ngày quá đau thương của đất nước do Vc gây nên.
Điểm thứ hai VT muốn thay đổi với mục đích xóa dấu vết của VNCH.
Chúng ta cũng thấy bọn VC cố gắng xóa những gì của VNCH còn sót lại, ngay cả những di tích của người tỵ nạn ở các trại tỵ nạn .

Có hai trường hợp để lý giải về “BỘ ĐỒNG PHỤC H.O”

a) Đàng sau lưng của hội H.O Seattle có một tổ chức bất chính, tổ chức này xúi dục hội H.O Seattle thực hiện bộ đồ đồng phục với mục đích xóa bỏ những bộ đồ quân phục của quân lực VNCH . Những người H.O là những người thuộc Quân,Cán,Chính của VNCH đã bị tù từ 3 năm trở lên qua định cư tại Mỹ , khi H.O có bộ đồ đồng phục nhà binh mới thì những người H.O đó không còn bận màu áo ngày xưa của họ nữa khi có Lễ lộc ( xin đừng nguỵ biện là chúng tôi tạo ra là “để lưu danh hậu thuế” chứ không xử dụng). Không khác gì hai trường hợp mà VT đã làm nêu ở trên.
b) Có thể đây cũng là do những người trong ban chấp hành hội H.O Seattle nghĩ ra , nghĩ ra một chuyện gì đó để”lưu danh đời sau” , xuất phát từ mặc cảm tự ty, không có khả năng hướng dẩn hội trong sinh hoạt , những người này thường thường suy nghĩ mông lung ,muốn thực hiện những chuyện không tưởng hoặc là đẻ ra những sự kiện “khác người” .Họ cho sáng kiến của họ là chưa ai nghĩ tới hay thực hiện ,”cao kiến” này thường có ở những người có đầu óc không lành mạnh , không có tri thức…

Nhắc lại quá khứ một chút ,những người trong ban chấp hành H.O do ông Văn Sáng là chủ tịch , ban chấp hành này cũng như ông Sáng nhiều năm về trước cũng đã “lảnh đạo” H.O nhưng không làm được gì cả , sinh hoạt tê liệt, chỉ có tên mà thôi . Bây giờ hội H.O Seattle do V Sáng cầm đầu với sự cộng tác của nhóm cà-phê gồm các ông :Nguyễn Văn Lực, Trần Tươi…trong một vài năm vừa qua đã có những hoạt động đáng kể , coi như là “quá được việc” Như tham dự diển hành văn hóa bên xe hoa có tấm quảng cáo chợ Viet-Wah,có sự cộng tác của ông NXD , năm vừa rồi cũng vậy tổ chức diễn hành đó do Denny Diep Dang chủ xị , ông này là cựu giám đốc tổ chức Peace Tree( tổ chức này đón đại sứ VC Lê Công Phụng ).Sinh hoạt nỗi bật nhất của H.O là tất niên vừa qua , chúng ta nhận thấy đủ bá quan văn vỏ của những thành phần bất chính, những thành phần miệng thì hô”tẩy chayVC” nhưng tay thì bắt với những thành phần liên hệ trực tiếp với VC, điển hình như ông NXD lúc nào cũng vổ ngực xưng tên”ta đây chống VC” nhưng lại ngồi chểm chệ trong nhà hàng Tea Palace với Huỳnh Thi, Q Nguyễn ( hai nhân vật này về VN họp vớiVC). Hội H.O của Văn Sáng có đông khách tham dự , chơi nổi là nhờ những thành phần bất chính nêu trên, Văn Sáng hay những ông già Lực đầu bạc , Trần Tươi… chẳng làm được gì cả, được sự giúp đở thì phải theo, được bơm thì khoái , như vậy mới thỏa mản được cái tính”tự ty mặc cảm” Bộ đồ đồng phục H.O phát sinh từ đó . Chắc chắn rằng ông Sáng, ông Thận không hiểu gì về sự nguy hiểm khi các ông ấy nghĩ cũng như thực hiện “làm cái gì đó để lưu danh hậu thế”.

Nếu giả dụ mộng ước các ông thành sự thật,con cháu các ông sau này chỉ nhớ đến bộ đồ các ông mà quên đi bộ đồ mà cha ông nó đã hy sinh xương máu thì chắc các ông hảnh diện lắm nhỉ? Là anh em HO vói nhau,đã từng cọng tác với nhau tôi không muốn nâng quan điểm, nhưng quả thật việc làm của các ông ngu xuẩn và nguy hiễm vô cùng.Một điều nếu mọi người HO trên nước Mỹ tuỳ theo sáng kiến của mình tạo nên một bộ đồ đồng phục riêng thì tập thể HO chắc là nhộn nhịp màu sắc lắm hai ông nhỉ?
  Muốn lưu danh hậu thế rất dể ông Sáng ạ!, chỉ cần ông giử vửng lập trường Quốc Gia chống cộng, đừng theo đuôi những tên ăn cơm Quốc Gia thờ ma cộng sản, những tên lưng chừng bán rẻ lương tâm là được rồi, con cháu ông và hậu thế sẽ vô cùng hảnh diện về các ông, cần gì một bộ đồ. Thái Nhật Lỉnh là tên ăn trộm , các ông đã đọc 6 trang report về TNL chưa ? Một người bị còng tay đưa vào tù về tôi hình sự xứng đáng để các ông tung hô không? TNL là đàn em của Quang Nguyễn,Huỳnh Thi. Trần Trung Dũng là do TNL đẻ ra thế mà các ông hảnh diện dâng diển đàn cho Trần T Dũng đọc diễn văn thì quần chúng nghĩ gì về tập thể HO,đồng thời lưu manh dàn dựng  để xỉ nhục ông Nguyễn M Đường là người các ông biết quá rõ

Người lính quân lực VNCH không được tạo ra bộ đồ đồng phục mang sắc thái quân đội nào khác ngoài những bộ đồ của các binh chủng, lực lượng thuộc VNCH trước đây. Vì những bộ đồng phục ấy là do chính phủ VNCH chỉ thị cho bộ Tổng Tham Mưu , không thể nguỵ biện là “bây giờ đâu có chính phủ hay bộ tổng tham mưu nữa…Ai có quyền cấm ai..hợp pháp mà, nếu sai thì đi kiện đi….” Một điều mà mọi người đều công nhận là “ Tinh thần của người lính VNCH chưa chết” . TỔ QUỐC- DANH DỰ-TRÁCH NHIỆM mà người quân nhân mang trên đầu ,trên vai , trên ngực cấm người quân nhân không được phép tạo ra một bộ đồng phục ( từ đầu đến chân là quân phục). Trong tình trạng hiện tại người quân nhân QLVNCH (nói riêng) bắt buộc phải giữ gìn những gì mà ngày trước mình có , không ai có quyền xóa bỏ ,lập nên cái mới . Sửa cái củ thành cái mới không phải là hay ,là giỏi (tuỳ thuộc vào mỗi vấn đề) . Thật là buồn cười khi chúng ta nghe kể về sự ngu dốt của nhà cầm quyền VC ,khi họ tu bổ lại lăng tẩm, di tích lịch sử , thay vì họ tu bổ thế nào để vẫn còn giữ nguyên những nét cổ xưa của di tích thì họ lại làm mới hoàn toàn ( làm mất đi gía trị di tích lịch sử).

Các ông trong ban chấp hành hội H.O Seattle “sáng kiến” bộ đồ đồng phục HO để tự hào như các ông nói chăng? Bộ quân phục mà các ông đã bận trong suốt thời gian chinh chiến để gìn giử sự Tự Do, bộ quân phục đã dính vào những người bạn, đồng đội đến hơi thở cuối cùng không đủ để các ông tự hào hay sao, mà các ông phải lập nên cái mới? Những bộ quân phục ngày trước nhiều người có quá phải không? Các ông phải làm cho lạ ,cho nổi bật , làm những gì mà không ai dám làm phải không? Bộ đồng phục H.O Seattle ra đời làm rạng danh ông chủ tịch Văn Sáng , P.văn Thân, Nguyễn Văn Lực , Trần Tươi,ông Khải( ông này trong ban bệ của tổ đình Bùi Đức Ly)…Đầu óc hẹp hòi của các ông không thể nào làm thay đổi gì được cả, đừng nuôi những ảo tưởng , anh em cựu quân nhân, HO không mờ lương tri hết như một số người thù tạc với các ông, họ đã thấy được tất cả cái mưu mô đen tối trong những con người ích kỷ. Các ông chỉ là những con “Rô-Bô” cho những tay chính trị xôi thịt, cho những kẻ lương tâm bị đánh mất . Xin nhìn lại những gì các ông làm , xin nhìn cho kỷ những khuôn mặt mà các ông cọng tác , các ông nép mình v.v..Con đường các ông đang hí hửng theo , con đường đó là sự phản bội lại đồng đội ( chúng tôi có bằng chứng về sự phản bội đó).
Chúng tôi xin gởi đến các ông lời nhắn của cự chỉ huy trưởng của trường bộ binh Thủ Đức , quân trường đào tạo ra các ông. Cố đại tá Trần Đức Minh(chỉ huy trưởng cuối cùng trường bộ binh Thủ Đức) . Khi còn sống ông gọi các vị làm hội trưởng Thủ Đức lên căn dặn” Các anh làm gì thì làm, nhưng đừng đi theo VT bán đứng Hội, nếu như vậy thì nằm nhà còn hơn…” Câu nói này trước khi chết ông cũng gọi ông Nguyễn Đình Lãng lên trăn trối.

Không thể chấp nhận những sáng kiến”quái gở” của hội H.O Seattle , một sáng kiến đã thực hiện có tính chất phỉ báng cùng chối bỏ những bộ quân phục thuộc chính phủ VNCH . Chúng tôi kêu gọi các anh em cựu quân nhân, các anh em thuộc các lực lượng bán quân sự,các anh em H.O hảy tẩy chay bộ đồng phục H.O Seattle /WA đã trình diển trong dịp tất niên vừa qua(30 tháng 12 năm 2010 tại nhà hàng Jumbo). Chúng tôi cũng mong mỏi sự lên tiếng của mọi người Việt tỵ nạn nhất là các cựu quân nhân khắp nơi trên thế giới.

Chúng tôi yêu cầu ban chấp hành hội H.O Seattle do ông Văn Sáng làm chủ tịch huỷ bỏ bộ đồng phục mà các ông đã cho ra đời vừa qua .
Chúng tôi yêu cầu hội H.O Seattle làm sáng tỏ sự việc này bằng cách mở một buổi hội thảo trong cộng đồng mời các anh em cựu quân nhân,HO …để giải thích sự việc này.
Chúng tôi kêu gọi các hội đoàn, đoàn thể, tổ chức… không cho những người bận bộ đồ đồng phục H.O đến tham dự bất cứ buổi Lễ nào do hội đoàn, đoàn thể…tổ chức.

Nhóm chủ trương websiste Bia Miệng

** Bài sẽ cấp nhật nay mai và sẽ đính kèm thêm một vài tài liệu liên quan.
** Mọi ý kiến thắc mắc hay muốn đối thoại xin liên lạc với chúng tôi qua hai số điện thoại sau đây:

_ (206)355-94044
_ (206)816-2924

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: